Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 17/6/2024

Về việc “ Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hà

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hợi

2. Bà Nguyễn Thị Minh

Thư ký phiên toà: Bà Đào Huyền My - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Bình.

- Đại diện VKSND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lưu Nguyên V - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại Hội trường Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 286/2023/ TLST- HN&GĐ ngày 28 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXX - ST ngày 17/4/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phan Thị T, sinh năm 1992;

HKTT: xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

Bị đơn: Anh Lê Văn T1, sinh năm 1992;

HKTT: xóm Đèo Khê, xã Tân Kim, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

Anh T1 hiện đang chấp hành án tại Đội 4, Phân trại số A, Trại Giam T3, Cục A, Bộ C.

(Có mặt chị T, anh T1 có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 23/11/2023 và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn chị Phan Thị T trình bày: chị và anh Lê Văn T1 kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện. Đã được UBND xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 77/2021 ngày 10/11/2011.

Sau khi kết hôn, chị về làm dâu, chung sống cùng với gia đình anh T1 tại xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T1 mắc tệ nạn nghiện ma túy. Đã được gia đình cho đi cai nghiện 02 lần nhưng không có kết quả. Anh T1 đã 03 lần bị kết án, lần cuối cùng vào năm 2023, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Bình xử phạt 36 tháng tù về tội “ Cướp giật tài sản”. Hiện anh T1 đang chấp hành án tại Trại giam T3, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, chị T vẫn xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1 để giải phóng cho nhau.

Về con chung: Quá trình chung sống, anh chị có 02 con chung tên Lê Thanh T2, sinh ngày 07/11/2012; Lê Bảo D, sinh ngày 17/5/2014. Hiện các con đang ở cùng với chị. Do anh T1 đang đi chấp hành án, không có điều kiện để nuôi con nên chị đề nghị được trực tiếp nuôi cả hai con chung, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh T1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 29/11/2023, bị đơn anh Lê Văn T1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị T có được tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện P vào năm 2011. Quá trình chung sống, vợ chồng không có mâu thuẫn lớn, chỉ có vài mâu thuẫn nhỏ. Đến ngày 03/7/2023, anh bị bắt và bị truy tố về tội “ Cướp giật tài sản” nên từ đó chị T không còn quan tâm đến anh nữa và nay có đơn xin ly hôn anh. Quan điểm của anh nhất trí ly hôn với chị T để giải phóng cho nhau.

Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là Lê Thanh T2, sinh ngày 07/11/2012; Lê Bảo D, sinh ngày 17/5/2014. Hiện nay anh đang đi chấp hành án không có điều kiện nuôi con nên nhất trí để chị T trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Về cấp dưỡng nuôi con anh xác định khi đi cải tạo về thì sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con sau.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 15/5/2024, anh T1 trình bày nhận được giấy triệu tập và quyết định của Tòa án Phú Bình về việc xét xử vụ án ly hôn của anh với chị T nhưng do điều kiện anh đang chấp hành án tại Trại giam T3, do vậy anh không thể có mặt tại phiên tòa xét xử, anh xin được vắng mặt tại tất cả các phiên tòa xét xử vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Phú Bình phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng. VKS không có ý kiến đề nghị, kiến nghị gì.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T. Cho chị Phan Thị T được ly hôn anh Lê Văn T1.
  • + Về con chung: áp dụng Điều 81,82,83,84 Luật Hôn nhân gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử giao 02 con chung là Lê Thanh T2, sinh ngày 07/11/2012; Lê Bảo D, sinh ngày 17/5/2014 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con không giải quyết do các đương sự không có yêu cầu. Anh T1 được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
  • + Về tài sản chung, công nợ chung: chị T, anh T1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • + Án phí và quyền kháng cáo: chị T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở kết quả tranh luận tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện VKS phát biểu quan điểm chấp hành pháp luật tố tụng dân sự, quan điểm giải quyết vụ án. HĐXX nhận định:

{1} Về thủ tục tố tụng

[1.1]thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Phan Thị T khởi kiện xin ly hôn và đề nghị giải quyết quyền nuôi con chung với bị đơn anh Lê Văn T1 có đăng ký nhân khẩu thường trú xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự xác định đây là Tranh chấp về hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình.

[1.2].Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa ngày hôm nay, anh T1 vắng mặt lần thứ 2 và có đơn xin vắng mặt. HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015, xét xử vắng mặt anh T1 theo quy định pháp luật.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị T và anh Lê Văn T1 tự nguyện kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên ngày 11/10/2011, được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T1 nghiện ma túy. Đã được gia đình giáo dục, động viên, cho đi cai nghiện tự nguyện nhưng không có kết quả. Đến năm 2023, anh T1 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Bình xử phạt 3 năm tù giam về tội “ Cướp giật tài sản”, hiện đang chấp hành án tại Trại giam T3, tỉnh Thanh Hóa. Do mâu thuẫn vợ chồng không tự giải quyết được, chị T đã làm đơn khởi kiện xin ly hôn với anh T1. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, chị T cương quyết xin được ly hôn anh T1 vì tình cảm vợ chồng không còn. Tại bản tự khai anh T1 trình bày từ khi anh bị bắt, truy tố xét xử về tội Cướp giật tài sản, chị T không còn quan tâm đến anh nữa, anh nhất trí ly hôn với chị T để giải phóng cho nhau.

HĐXX xét thấy đời sống hôn nhân của anh T1 và chị T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, hôn nhân không có hạnh phúc, không còn tình nghĩa vợ chồng. Cả chị T và anh T1 đều không có nguyện vọng đoàn tụ vợ chồng, nhất trí ly hôn để giải phóng cho nhau, do vậy việc duy trì quan hệ hôn nhân không đem lại hạnh phúc cho cả hai bên. Xét thấy cần chấp nhận anh chị ly hôn là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

[2.2]. Về con chung: Quá trình chung sống, anh chị có 02 con chung là Lê Thanh T2, sinh ngày 07/11/2012; Lê Bảo D, sinh ngày 17/5/2014, hiện hai con chung đang ở cùng với chị T. Khi ly hôn, chị đề nghị được nuôi cả hai con chung, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai, anh T1 đồng ý để chị T tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung vì anh đang đi chấp hành án, không có khả năng để trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Xét thấy đây là ý trí tự nguyện của các bên và cũng phù hợp với nguyện vọng của hai con chung là cháu T2, cháu D thể hiện trong bản tự khai tại Tòa án muốn ở cùng với mẹ. HĐXX thấy rằng để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần thiết phải giao 02 con chung cho chị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của các con chung, phù hợp với thực tế và có căn cứ pháp luật theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình .

Về cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này. Nếu sau khi ly hôn, chị T có yêu cầu thì có quyền khởi kiện để giải quyết trong vụ án khác.

[2.3]. Về Tài sản chung, công nợ chung: chị T, anh T1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này. Nếu sau khi ly hôn, chị T, anh T1 có yêu cầu thì có quyền khởi kiện để giải quyết trong vụ án khác.

[2.4]. Án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

[2.5]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH :

Áp dụng: - Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;

- Điều 51, 56, 81,82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn và yêu cầu giải quyết về con chung của chị Phan Thị T với anh Lê Văn T1

  1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phan Thị T được ly hôn anh Lê Văn T1.
  2. 2.Về con chung: Giao 02 con chung: Lê Thanh T2, sinh ngày 07/11/2012; Lê Bảo D, sinh ngày 17/5/2014 cho chị Phan Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi, có khả năng lao động (hoặc khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật).

    Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết do các đương sự không có yêu cầu.

    Anh T1 không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con chung, yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật

  3. 3. Tài sản chung, công nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết do các đương sự không có yêu cầu.
  4. 4. Án phí: Chị Phan Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, biên lai thu số 0003629 ngày 28/11/2023. Xác nhận chị T đã nộp đủ.
  5. 5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ có mặt chị T, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T1 vắng mặt tại phiên tòa, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Phú Bình;
  • - THADS huyện Phú Bình;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - UBND xã Tân Kim;
  • - Các Đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Thu Hà

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HNGĐ - ST ngày 17/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 25/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger