Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUYÊN HẢI

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2023/HSST

Ngày 15-8-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hoài Quốc

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Huỳnh Văn Rô
  • Ông Hà Văn Quen

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Khánh HYền, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Sĩ, Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2023/TLST-HS,ngày 25 tháng 7 năm 2023theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Bùi Văn H; Sinh năm 1968, tại Trà Vinh.

    Nơi cư trú: ấp B, xã T, thị xã DH, Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không; con ông Bùi Văn L (chết) và bà Nguyễn Thị T (Chết); Vợ: sinh năm 1976; con: có 02 người con lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2010; Anh, chị, em ruột: có 07 người kể cả bị cáo (Lớn nhất sinh năm 1961, nhỏ nhất 1983); Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 07/7/2022, Công an thị xã Duyên Hải ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi giúp sức đánh bạc số tiền là 3.500.000₫ theo Quyết định số 19/QĐXPHC. Đã chấp hành xong năm 2022 nhưng chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo H bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/01/2023 cho đến nay.

  2. Huỳnh Hoàng HY; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1986. tại: Trà Vinh.;

    Nơi cư trú ấp C, xã T, thị xã DH, Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp:Làm giồng; con ông Huỳnh Thế T, sinh năm 1960 và bà Phan Thị L, sinh năm 1961; Vợ:sinh năm 1982; con: có 02 người con (Lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2021); Anh, chị, em ruột: có 04 người kể cả bị cáo (Lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất bị cáo); Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị cáo Huỳnh Hoàng HY bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/01/2023 cho đến nay.

  3. Lê Văn S; Sinh ngày 10 tháng 3 năm 1973; tại Trà Vinh;

    Nơi cư trú: ấp K, xã T, thị xã DH, tỉnh Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: làm giồng; con ông Lê Văn T, sinh năm 1953 (Chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1954; Vợ: chưa có; Anh, chị, em ruột: có 05 người, kể cả bị cáo (Lớn nhất bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1981); Tiền án: không; Tiền sự: không. Bị cáo Lê Văn S bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/5/2023 cho đến nay.

  4. Lâm Văn Q; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1993; tại Trà Vinh;

    Nơi cư trú: ấp L, xã D, thị xã DH, tỉnh Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: làm thuê; Con ông Lâm Văn N, sinh năm 1970 và bà Ngô Thị L, sinh năm 1970; Vợ sinh năm 1992 (Ly hôn năm 2022); Con có 02 người con (Lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2019); Anh, chị, em ruột có 03 người kể cả bị cáo (lớn nhất bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2001); Tiền án, Tiền sự: không; Bị cáo Lâm Văn Q bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/5/2023 cho đến nay.

  5. Huỳnh Văn T; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1987; tại Trà Vinh;

    Nơi cư trú: ấp B, xã T, thị xã DH, Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: đánh bắt thủy sản; Con ông Huỳnh Văn R,(chết) và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1947; Vợ, sinh năm 1988; con: 03 ngươi con ( Lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2011); Anh, em ruột có 06 người kể cả bị cáo, (Lớn nhất không nhớ năm sinh vì đã chết, nhỏ nhất sinh năm 1990); Tiền án: không Tiền sự: ngày 13/8/2021 tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép và không thực hiện Quyết định áp dụng biện pháp hạn chế tụ tập đông người; UBND thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xử phạt vị phạm hành chính số tiền 22.500.000₫ (hai mươi hai triệu năm trăm, ngàn đồng) theo Quyết định số 2988/QĐ-XPVPHC ngày 20/8/2021. Chưa chấp hành xong quyết định. Bị cáo Huỳnh Văn T bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/01/2023 cho đến nay.

  6. Trần Hoàng N; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1990; tại Trà Vinh;

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp L, xã D, thị xã DH, tỉnh Trà Vinh;Chổ ở hiện nay: ấp C, xã T, thị xã DH, tỉnh Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Nuôi tôm; Con ông Trần Văn Đ, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1960; Vợ sinh năm 1990; Con có 02 người con (Lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2015); Anh, chị, em ruột có 03 người kể cả bị cáo (lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất bị cáo); Tiền án: Không; Tiền sự: không. Bị cáo Trần Hoàng N bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/01/2023 cho đến nay.

  7. Phan Văn P; Sinh ngày 29 tháng 4 năm 1995; tại Trà Vinh;

    Nơi cư trú: ấp C, xã T, thị xã DH, tỉnh Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: làm giồng; con ông Phan Văn L, sinh năm 1965 (chết) và bà Phạm Thị T (chết); Vợ: chưa có; Anh, chị, em ruột: có 03 người, kể cả bị cáo (Lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2000); Tiền án: không; Tiền sự: không. Bị cáo Phan Văn P bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/5/2023 cho đến nay.

  8. Phan Văn N; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1980; tại Trà Vinh;

    Nơi cư trú: ấp B, xã T, thị xã DH, tỉnh Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp:nuôi tôm; con ông Phan Văn NX (chết) và bà Huỳnh Thị B, sinh năm 1946; Vợ: sinh năm 1983; con: có 03 người con (Lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2009); Anh, chị, em ruột: có có 07 người, kể cả bị cáo (Lớn nhất sinh năm 1966, nhỏ nhất bị cáo); Tiền án: không; Tiền sự: không. Bị cáo Phan Văn N bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/5/2023 cho đến nay.

  9. Huỳnh Văn L; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1988; tại Trà Vinh;

    Nơi cư trú: ấp B, xã T, thị xã DH, tỉnh Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: đi biển; con ông Huỳnh Văn R (chết) và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1947; Vợ: sinh năm 1985; con: có 01 người con sinh năm 2023; Anh, chị, em ruột: có có 07 người, kể cả bị cáo ( Lớn nhất không nhớ năm sinh vì đã chết, nhỏ nhất sinh năm 1990); Tiền án: không; Tiền sự: không. Bị cáo Huỳnh Văn L bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/5/2023 cho đến nay.

Các bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án

  1. Bà Nguyễn Thị HG sinh năm 1988. Nơi cư trú: ấp B, xã T, thị xã DH, tỉnh Trà Vinh. có mặt

  2. Bà Nguyễn Thị T sinh năm 1983. Nơi cư trú: ấp B, xã T, thị xã DH, tỉnh Trà Vinh. có mặt

  3. Bà Nguyễn Thị H sinh năm 1954. Nơi cư trú: ấp K, xã T, thị xã DH, tỉnh Trà Vinh. vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Hoàng HY với Bùi Văn H có quen biết nhau từ trước và thường tổ chức đá gà ăn thua bằng tiền. HY và H là người trực tiếp liên hệ với những người có gà để tham gia đá gà ăn thua bằng tiền, địa điểm tổ chức do H và HY chọn để cho các chủ gà đem gà lại đá và cá cược với nhau để thu tiền xâu (biện) giữa HY và H bàn bạc với nhau và thống nhất giao cho C (không rõ họ chữ đệm và địa chỉ cụ thể) chuẩn bị cân, cựa, băng keo và sắp xếp người canh những điểm vào nơi tổ chức đá gà ăn thua bằng tiền do HY và H tổ chức. C điện thoại cho Lâm Văn Q, Lê Văn S và Tèo (không rõ họ chữ đệm và địa chỉ cụ thể) đi canh đường. H và HY thống nhất lấy tiền xâu 100.000đ/1.000.000đ đối với chủ gà, 50.000/1.000.000đ đối với người không phải là chủ gà. HY là người lấy và giữ tiền xâu. Sau mỗi ngày tổ chức đá gà ăn thua bằng tiền thì HY lấy tiền xâu (biện) xem nhiều hay ít trừ đi chi phí (mua băng keo, cựa, cân,...) số tiền còn lại bao nhiêu HY mới trả tiền công cho C, Tèo, Sự và Q mỗi ngày từ 100.000đ (một trăm ngàn đồng) đến 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), số tiền còn lại thì HY và H chia hai (đôi) với nhau. Với hình thức trên HY và H đã tổ chức tại hai điểm đá gà ăn thua bằng tiền (C, Tèo, Q, Sự cũng có tham gia) trước đây tổ chức tại điểm cây quách thuộc phần đất của bác hai Tiến và điểm cạnh nhà tám T cũng thuộc ấp K, xã T, thị xã DH. Trong khoảng thời gian gần một tháng số tiền thu lợi bất chính mỗi ngày khoảng vài trăm ngàn đồng không nhớ cụ thể là bao nhiêu.

Vào ngày 13/10/2022, Huỳnh Hoàng HY dùng số điện thoại 0944.541.xxx gọi vào số 0867722985 của Trần Văn K, sinh năm 1985, trú ấp L, xã D, thị xã DH nhưng không gặp K mà gặp N (K để điện thoại ở nhà và đi ra ngoài) hỏi là “có gà 2,6kg để đá không”, N trả lời là “ có”. HY mới điện vào số điện thoại 0354.789.xxx của Bùi Văn H hỏi có gà 2,6 đá không, H trả lời là “có” và nói HY là hẹn khoảng 09 giờ tổ chức đá gà ăn thua bằng tiền tại điểm bên cạnh nhà tám T tại ấp K, xã T, thị xã DH. Trước khi HY gọi cho H thì Huỳnh Văn T đang ở nhà Bùi Văn H nên có hỏi H có gà 2,6kg đá không. Khoảng 09 giờ cùng ngày, H mới kêu T đem gà xuống điểm đá gà ăn thua bằng tiền tại ấp K, xã T, thị xã DH. C cũng ngồi tại nhà H nên nghe việc HY và H tổ chức hẹn để T đem gà đến đá tại điểm trên. H nói C biết địa điểm nên C thì tự đi sắp xếp những người canh đường, cung cấp cựa, cân và băng keo để phục vụ cho HY và H tổ chức đá gà ăn thua bằng tiền (trước đó đã phân công rồi khi có tổ chức đá gà ăn thua bằng tiền thì C sẽ tự hiểu và thực hiện theo nhiệm vụ). Đến giờ hẹn, C gọi vào số điện thoại của Q 0981.047.xxx nói là “đi làm” C nói tiếp là chơi ở bên cạnh nhà Tám T thuộc ấp K, xã T. C kêu Q là đi ra phía sau điểm đá gà cách khoảng 300m để canh đường. Sau đó, C dùng số điện thoại của H 0354.789.xxx tiếp tục điện cho Sự qua số điện thoại 0375.939.xxx, Sự hỏi “ai vậy”, C trả lời là “C làm chung với H”, C nói tiếp là “lại chỗ cũ”. Sự biết là kêu canh đường từ khu vực ngã ba Khoán Tiều đến ngã ba Bến Đình vì từ khi đi làm cho H, Sự chỉ có canh đường tuyến này, C cũng điện cho Tèo (không rõ họ chữ đệm và địa chỉ cụ thể) làm nhiệm vụ canh đường, Q và Sự phải thường xuyên di cHYển quan sát khi nào phát hiện người lạ mặt hay lực lượng Công an thì báo cho C và H biết để giải tán. T đem con gà vàng và N đem con gà bướm (trắng) lại điểm hẹn gặp H thì H kêu đi cân gà, con gà vàng nặng 2,6kg, con gà bướm (trắng) nặng 2,8kg. Sau khi hai bên thống nhất gà bướm đá ba ăn hai với gà vàng. Bên gà vàng đá sổ 6.000.000₫ (sáu triệu đồng) gồm Huỳnh Văn T, Huỳnh Văn L, mỗi người tham gia 2.000.000₫ (hai triệu đồng) và Phan Văn N 2.000.000₫ (hai triệu đồng). Trong số tiền Nam đá gà1.000.000đ tiền của Nam và Cao Văn M, sinh năm 1981, trú ấp B, xã T, thị xã DH gửi 1.000.000đ (một triệu đồng) theo gà của T cho Nam không có vào điểm đá gà. Bên gà bướm (trắng) đá sổ 9.000.000đ (chín triệu đồng) gồm: Huỳnh Hoàng HY, Trần Hoàng N và Phan Văn P, mỗi người tham gia 3.000.000₫ (ba triệu đồng). Riêng P tự chia cho Nguyễn Minh T tham gia số tiền cá cược 1.500.000đ (một triệu năm trăm ngàn đồng) và hai người không biết tên, địa chỉ cụ thể mỗi người tham gia cá cược là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) và còn lại P 900.000đ (chín trăm ngàn đồng). Trong lúc thỏa thuận cược, T, Lẹ và Nam đứng cách nhau khoảng 01m nên đều biết việc cược và biết số tiền cá cược là 6.000.000đ. HY, N và P đứng gần nhau nên đều biết việc cược và biết số tiền cá cược là 9.000.000đ. Khi HY đã xác định số tiền trận gà thì hai bên trồng cựa gà, gà vàng do T ôm cho Lẹ trồng cựa và thả gà, gà bướm do N ôm cho HY trồng cựa và thả gà. Sau khi thống nhất số tiền cá cược thì H là người làm trọng tài, H đếm 1 2 3 thì Lẹ và HY thả gà đá một lúc thì gà vàng không đứng lên được nên H xử gà vàng thua. T lấy tiền của mình rồi gom tiền Lẹ và Nam đủ 6.000.000₫ (sáu triệu đồng) đưa cho HY. Khi T đưa tiền cho HY nH thì Lẹ, Nam và H đều thấy. Sau đó HY đưa lại cho N tiền T cược là 1.800.000đ (một triệu tám trăm ngàn đồng) HY đã lấy của N 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng) tiền biện trận gà đó (do N là chủ gà) và HY đưa cho P 1.900.000₫ (một triệu chín trăm ngàn đồng) và lấy 100.000đ (một trăm ngàn đồng) tiền biện trận gà. P đưa cho T 900.000đ (chín trăm ngàn đồng), hai người lạ mặt (không biết tên và địa chỉ cụ thể) mỗi người 200.000đ (hai trăm ngàn đồng), số tiền 600.000₫ (sáu trăm ngàn đồng) còn lại là của P. Ngoài ra còn Nguyễn An Tốt, sinh năm 1994, Ba Động, xã Trường Long Hòa, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia đá hàng sáo 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng) theo con gà vàng với một người không biết tên và địa chỉ cụ thể.

Kết thúc trận thứ nhất tiếp tục diễn ra trận thứ hai giữa con gà bướm nặng 3,3kg của Phan Thái Hưng, sinh năm 1987, trú ấp C, xã T, thị xã DH đá với gà chuối nặng 3,1kg của Đỗ Thành T, sinh năm 1976, trú ấp K, xã T, thị xã DH. Gà chuối đá bảy ăn mười với gà bướm đá sổ trong là 2.200.000đ, sổ ngoài là 3.000.000đ, khi thống nhất tiền cá cược thì hai bên trồng cựa gà. Gà bướm do Lê Hoàng T, sinh năm 1995 ngụ ấp C, xã T, thị xã DH trồng cựa; gà chuối không biết ai trồng cựa. Trồng cựa xong, H làm trọng tài đếm 1, 2, 3 thả gà, gà bướm do Lê Hoàng T thả, gà chuối do HY thả, hai con gà đá được khoảng vài phút thì gà chuối chạy nên H xử gà chuối thua đang chuẩn bị chung tiền thì bị Cơ quan Công an vào bắt quả tang. Quá trình xác minh xác định được Phan Thái Hưng và Lê Hoàng T theo gà bướm mỗi người tham gia 500.000₫ (năm trăm ngàn đồng), Nguyễn Văn Nghĩa, sinh năm 1984, trú ấp C, xã T, thị xã DH, tỉnh Trà Vinh tham gia theo gà chuối 200.000đ (hai trăm ngàn đồng), Nguyễn Tấn An, sinh năm 1970, trú ấp C, xã T, thị xã DH, tỉnh Trà Vinh tham gia đá hàng sáo với số tiền 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) với một người không biết tên và địa chỉ cụ thể. Ngoài còn những người khác tham gia nữa nhưng không xác định được nhân thân lai lịch cụ thể vì khi lực lượng Công an vào thì các đối tượng bỏ chạy những người biết việc cá cược trên thì chỉ nhớ mặt mà không biết rõ nhân thân nên không xác định được con người cụ thể. Đỗ Thành T đến nay chưa mời làm việc được nên chưa xác định số tiền 3.000.000₫ cá cược bên ngoài là do ai tham gia và cụ thể từng người bao nhiêu tiền vì vậy chưa đủ cơ sở để xem xét xử lý các đối tượng trong trận gà cá cược này, do đó tiếp tục xác minh khi nào mời làm việc được sẽ xem xét xử lý sau.

Quá trình điều tra cơ quan CSĐT công an thị xã Duyên Hải đã thu giữ các đồ vật liên quan đến vụ án:

  • 01 (một) con gà trống đá màu vàng nặng 2,6kg.
  • 01 (một) con gà trống đá màu vàng trắng (bướm) nặng 2,8kg.
  • 01 (một) con gà trống đá màu vàng trắng (bướm) nặng 3,3kg.
  • 01 (một) con gà trống đá màu vàng trắng xanh (chuối) nặng 3,1kg.
  • 01 (một) cái cân hiệu Nhơn Hòa màu xanh loại 5kg đã qua sử dụng.
  • 02 (hai) cặp cựa gà bằng kim loại.
  • 04 (bốn) cuộn băng keo màu trắng đã qua sử dụng.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO cảm ứng màu xanh, có ốp lưng bằng. nhựa trong suốt, có gắn sim số 0375 939627, điện thoại đã qua sử dụng
  • 01 (một) xe mô tô Honda Future màu đỏ, biển số 84F1-291.67, xe đã qua sử dụng.
  • 01 (một) xe mô tô Honda, loại Wave, màu đỏ đen, biển số 84F1-212.95, xe đã qua sử dụng.
  • 01 (một) xe mô tô Honda, loại Wave, màu đen bạc, biển số 84F1-106.82, xe đã qua sử dụng.
  • 01 (một) điện thoại Iphone màu xanh, có ốp lưng màu trong suốt, có gắn sim số 0981047900, điện thoại đã qua sử dụng
  • 01 (một) điện thoại di động samsung cảm ứng màu đen, mặt sau điện thoại bị sứt ra, có ốp lưng trong suốt có hình người, trong điện thoại có gắn sim số 0944.541.xxx, điện thoại đã qua sử dụng.
  • 01 (một) điện thoại di động Masstel bàn phím màu đen có gắn sim số 0397992346, 0961901667, điện thoại đã qua sử dụng.
  • 01 (một) xe mô tô WAVE RS, màu đỏ, biển số 84K1-2858, xe đã qua sử dụng.
  • 01 (một) xe mô tô Exiter màu đỏ trắng đen, biển số 84F1-159.07, xe đã qua sử dụng.
  • Tiền Việt Nam tổng cộng là: 29.900.000đ (hai mươi chín triệu chín trăm ngàn đồng)

* Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số 12 ngày 09/4/2023 và số 04 ngày 20/6/2023 bằng hình thức là trả lại tài sản cho chủ sở hữu không liên quan đến đánh bạc gồm:

  • 01 (một) xe mô tô WAVE RS, màu đỏ, biển số 84K1-2858, xe đã qua sử dụng và tiền Việt Nam đồng là 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng) cho Trần Văn Trí, sinh năm 1995, trú ấp C, xã T, thị xã DH, tỉnh Trà Vinh.
  • 01 (một) điện thoại di động Masstel bàn phím màu đen có gắn sim số 0397992346, 0961901667, điện thoại đã qua sử dụng cho anh Huỳnh Văn T, sinh năm 1987, trú ấp B, xã T, thị xã DH, tỉnh Trà Vinh.
  • Tiền Việt Nam đồng tổng cộng là: 8.500.000đ (tám triệu năm trăm ngàn đồng) gồm 17 (mười bảy) tờ polime mỗi tờ mệnh giá 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) cho Nguyễn Minh T, sinh năm 1992, trú ấp C, xã T, thị xã DH, tỉnh Trà Vinh.
  • Tiền Việt Nam đồng tổng cộng là: 1.500.000đ (một triệu năm trăm ngàn đồng) gồm 02 (Hai) tờ polime mỗi tờ mệnh giá 500.000₫ (năm trăm ngàn đồng) và gồm 05 (năm) tờ polime mỗi tờ mệnh giá 100.000đ (mộttrăm ngàn đồng) cho Cao Văn M, sinh năm 1981, trú ấp B, xã T, thị xã DH, tỉnh Trà Vinh.

Tịch thu số tiền 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm ngàn đồng) đối với Nguyễn Minh T theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 38/QĐ-XPHC ngày 20/6/2023 của Công an thị xã Duyên Hải.

Còn 04 (bốn) con gà trống đã chết nên đã tiêu hủy theo Q định.

Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKS.HS ngày 21`-7-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh đã truy tố các bị cáo Huỳnh Hoàng HY, Bùi Văn H, Lê Văn S, Lâm Văn Q bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải truy tố về tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; Đối với các bị cáo Huỳnh Hoàng HY, Huỳnh Văn T, Trần Hoàng N, Huỳnh Văn L, Phan Văn P, Phan Văn N bị truy tố về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Huỳnh Hoàng HY, Bùi Văn H, Lê Văn S, Lâm Văn Q, Huỳnh Văn T, Trần Hoàng N, Huỳnh Văn L, Phan Văn P, Phan Văn N đã thừa nH toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã mô tả. Các bị cáo chỉ yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, Điều 17, Điều 35, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt tiền đối với Bùi Văn H từ 60 triệu đồng đến 80 triệu đồng về tội “ Tổ chức đánh bạc”. Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, Điều 17, Điều 35, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt tiền đối với bị cáo Huỳnh Hoàng HY từ 60 triệu đồng đến 80 triệu đồng, về tội “ Tổ chức đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 35, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt tiền đối với bị cáo Huỳnh Hoàng HY từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng, về tội “Đánh bạc” . Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hai tội danh buộc bị cáo HY nộp số tiền từ 80 triệu đồng đến 105 triệu đồng. Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, Điều 35, Điều 17, điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt tiền đối với bị cáo Lê Văn S từ 50 triệu đồng đến 60 triệu đồng, về tội “ Tổ chức đánh bạc”, Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, Điều 35, Điều 17, điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt tiền đối với bị cáo Lâm Văn Q từ 50 triệu đồng đến 60 triệu đồng, về tội “ Tổ chức đánh bạc”; Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 35, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt tiền đối với bị cáo Huỳnh Văn T, từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng về tội “ Đánh bạc”, Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 35, điểm i, s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt tiền đối với bị cáo Trần Hoàng N từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng về tội “ Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 35, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt tiền đối với bị cáo Huỳnh Văn L từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng, về tội “ Đánh bạc”, Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 35, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt tiền đối với bị cáo Phan Văn P từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng về tội “ Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 35, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt tiền đối với bị cáo Phan Văn N từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng về tội “ Đánh bạc”. Ngoài ra vị kiểm sát viên đề nghị Về xử lý vật chứng như sau:

Tịch thu tiêu hủy:

  • 02 (hai) cặp cựa gà bằng kim loại.
  • 04 (bốn) cuộn băng keo màu trắng đã qua sử dụng.

Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước các tài sản sau:

  • 01 (một) cái cân hiệu Nhơn Hòa màu xanh loại 5kg đã qua sử dụng.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO cảm ứng màu xanh, có ốp lưng bằng. nhựa trong suốt, có gắn sim số 0375 939627, điện thoại đã qua sử dụng
  • 01 (một) điện thoại di động samsung cảm ứng màu đen, mặt sau điện thoại bị sứt ra, có ốp lưng trong suốt có hình người, trong điện thoại có gắn sim số 0944.541.xxx, điện thoại đã qua sử dụng.
  • 01 (một) điện thoại Iphone màu xanh, có ốp lưng màu trong suốt, có gắn sim số 0981047900, điện thoại đã qua sử dụng

Đối với số tiền còn lại 2.500.000 đồng được quản lý tại cơ quan thi hành án, vị kiểm sát viên đề nghị như sau:

  • Trà cho bị cáo Huỳnh Văn T số tiền 800.000 đồng.
  • Trà cho bị cáo Huỳnh Văn L số tiền 1.200.000 đồng.
  • 1.000.000 đồng giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Duyên Hải quản lý để xử lý trong vụ án lần thứ hai.
  • 500.000 đồng tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Trả cho các bị cáo các phương tiện xe mô tô như sau:

  • Trả cho bị cáo Lê Văn S 01 (một) xe mô tô Honda Future màu đỏ, biển số 84F1-291.67, xe đã qua sử dụng.
  • Trả cho bị cáo Phan Văn N 01 (một) xe mô tô Honda, loại Wave, màu đỏ đen, biển số 84F1-212.95, xe đã qua sử dụng.
  • Trả cho bị cáo Huỳnh Văn T 01 (một) xe mô tô Honda, loại Wave, màu đen bạc, biển số 84F1-106.82, xe đã qua sử dụng.

Đối với 01 (một) xe mô tô Exiter màu đỏ trắng đen, biển số 84F1-159.07, xe đã qua sử dụng của Lê Hoàng T giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Duyên Hải quản lý để xử lý trong vụ án lần thứ hai..

Buộc các bị cáo Huỳnh Hoàng HY, Trần Hoàng N, Phan Văn P nộp số tiền thu lợi bất chính vào ngân sách nhà nước, cụ thể như sau:

  • Huỳnh Hoàng HY số tiền 5.300.000 đồng.
  • Trần Hoàng N số tiền 4.300.000 đồng.
  • Phan Văn P số tiền 1.500.000 đồng

Ngoài ra vị kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng:

  • Bị cáo H xin giảm nhẹ hình phạt.
  • Bị cáo HY không nói lời nói sau cùng.
  • Bị cáo Sự xin giảm nhẹ hình phạt.
  • Bị cáo Q xin giảm nhẹ hình phạt.
  • Bị cáo T xin giảm nhẹ hình phạt.
  • Bị cáo N xin giảm nhẹ hình phạt.
  • Bị cáo Nam xin giảm nhẹ hình phạt.
  • Bị cáo P xin giảm nhẹ hình phạt.
  • Bị cáo Lẹ xin giảm nhẹ hình phạt.

NH ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nH thấy như sau:

[1] Kết quả thẩm vấn, tranh luận công khai tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận:

Các bị cáo Bùi Văn H, Huỳnh Hoàng HY có hành vi hẹn gà, làm trọng tài và biện để tổ chức đánh bạc với hình thức đá gà ăn thua bằng tiền. HY thống nhất giao cho H phân công người canh đường tiền công từ 100.000đ đến 300.000₫. Lê Văn S canh tuyến đường từ ấp Khoán Tiều đến bến đò, Lâm Văn Q canh phía sau nơi tổ chức đá gà khi phát hiện người lạ mặt nghi ngờ là công an thì điện báo về cho H hoặc C để kịp thời giải tán. Vào khoảng 11 giờ 15 phút ngày 13/10/2022, tại khu đất bỏ trống tại ấp K, xã T, thị xã DH, H; HY đang tổ chức đá gà đến trận thứ hai vừa xong chưa chung tiền thì bị bắt quả tang. Trận gà thứ nhất các người chơi bên gà của bướm của N gồm Huỳnh Hoàng HY 3.000.000đ, Trần Hoàng N 3.000.000đ, Phan Văn P 3.000.000đ, tổng số tiền 9.000.000đ. Hai bên thỏa thuận tỷ lệ cược là ba ăn hai với bên gà vàng của T gồm Huỳnh Văn T 2.000.000 đồng, Huỳnh Văn L 2.000.000đ, Phan Văn N 2.000.000đ, tổng số tiền 6.000.000 đồng thua đã giao tiền cho HY. Như vậy đủ cơ sở quy kết các bị cáo Huỳnh Hoàng HY, Bùi Văn H, Lê Văn S, Lâm Văn Q phạm tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Đối với các bị cáo Huỳnh Hoàng HY, Huỳnh Văn T, Trần Hoàng N, Huỳnh Văn L, Phan Văn P, Phan Văn N bị truy tố về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự

[3] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng trong vụ án này có nhiều bị cáo và có nhóm bị cáo phạm tội “ Tổ chức đánh bạc”, nhóm bị cáo phạm tội “ Đánh bạc”. Đối với các bị cáo phạm tội “ Tổ chức đánh bạc” có tính chất đồng phạm, tuy nhiện việc đồng phạm này mang tính chất giản đơn. Nên cần phân tích tính chất phạm tội của các bị cáo để từ đó có hình phạt tương xứng.

[4]Đối với bị cáo Bùi Văn H có nhân thân xấu, có tiền sự vào ngày 07/7/2022 bị Công an thị xã Duyên Hải xử phạt hành chính về hành vi giúp sức đánh bạc với số tiền 3.500.000 đồng, bị cáo đã chấp hành xong vào năm 2022, nhưng chưa được coi là chưa bị xử phạt hành chính, bị cáo H nH thức rõ việc “Tổ chức đánh bạc” là vi phạm pháp luật, nhưng với bản chất thích đỏ đen, bị cáo H trong vụ án này là người chủ mưu cũng là người thực hành, bị cáo và bị cáo HY và các bị cáo Sự, Lâm Văn Q và các đối tượng C, Tèo đã tổ chức việc đánh bạc với hình thức đá gà ăn tiền cho các đối tượng khác tham gia đánh bạc tại khu đất trống thuộc ấp K, xã T, thị xã DH, cụ thể bị cáo đã chọn địa điểm trên cơ sở bàn bạc với bị cáo HY cũng như bị cáo bàn bạc với bị cáo HY về việc lấy tiền xâu. Bị cáo cũng là người thực hành, cụ thể bị cáo làm trọng tài để phân định việc T thua của việc đánh bạc. Qua đó thấy được tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm. tuy nhiên việc tổ chức đánh bạc của các bị cáo cho các đối tượng tham gia đánh bạc chỉ giản đơn với số tiền đánh bạc không lớn và bị cáo chưa thu lợi từ việc tổ chức đánh bạc, khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, gia đình bị cáo có công với cách mạng, bị cáo trước đây có tham gia cách mạng đi nghĩa vụ quân sự, con của bị cáo cũng tham giam cách mạng đi nghĩa vụ quân sự đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo ñöôïc quy ñònh taïi điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó thấy không cần thiết phải xử phạt bị cáo hình phạt tù mà áp dụng hình thức phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ giáo dục cải tạo bị cáo theo söï ñeà nghò cuûa vò kieåm saùt viên laø coù caên côù, đúng theo quy định của pháp luật.

[4] Đối với bị cáo Huỳnh Hoàng HY với tuổi đời của bị cáo, bị cáo nH thức được rõ việc “Tổ chức đánh bạc”, “ Đánh bạc” là vi phạm pháp luật, nhưng với bản chất thích đỏ đen, bị cáo HY cùng bị cáo H và các bị cáo Sự, Lâm Văn Q và các đối tượng C, Tèo đã tổ chức việc đánh bạc với hình thức đá gà ăn tiền cho các đối tượng khác tham gia đánh bạc tại khu đất trống thuộc ấp K, xã T, thị xã DH,, cụ thể bị cáo đã chọn gà và kết hợp với bị cáo H trong việc chọn địa điểm tổ chức đánh bạc, chính bị cáo HY đã tham gia trực tiếp vào việc đánh bạc, cụ thể bị cáo tham gia nhóm của các bị cáo Trần Hoàng N, Phan Văn P đánh bạc với số tiền 9.000.000 đồng (mỗi bị cáo 3,000.000 đ). Qua đó thấy được tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm. tuy nhiên việc tổ chức đánh bạc của bị cáo cho các đối tượng tham gia đánh bạc chỉ giản đơn với số tiền đánh bạc không lớn và bị cáo chưa được khoản tiền nào từ việc tổ chức đánh bạc, khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, gia đình bị cáo có công với cách mạng (Bác là thương binh, chú ruột là liệt sỹ), con bị cáo còn nhỏ mới chỉ chưa đầy 03 tuổi, bị cáo là lao động chính trong gia đình đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo ñöôïc quy ñònh taïi điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó thấy không cần thiết phải xử phạt bị cáo hình phạt tù mà áp dụng hình thức phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ giáo dục cải tạo bị cáo theo söï ñeà nghò cuûa vò kieåm saùt viên laø coù caên cöù, đúng theo quy định của pháp luật.

[5] Đối với bị cáo Lâm Văn Q có năng lực nH thức đầy đủ, bị cáo đã nH thức được rõ việc “Tổ chức đánh bạc” là vi phạm pháp luật, nhưng với bản chất thích đỏ đen bị cáo đã cùng với các bị cáo khác gồm bị cáo H, bị cáo HY, bị cáo Sự tổ chức việc đánh bạc, vai trò của bị cáo trong vụ án này với tính chất là người người giúp sức, cụ thể bị cáo là người cảnh giới khi phát hiện lực lượng chức năng thì báo động cho các người chơi bên trong tẩu thoát. Qua đó thấy được tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm. tuy nhiên việc tổ chức đánh bạc của bị cáo cho các đối tượng tham gia đánh bạc chỉ giản đơn với số tiền đánh bạc không lớn và bị cáo chưa được chia khoản tiền nào từ việc tổ chức đánh bạc vai trò của bị cáo chỉ giữ vai trò thứ yếu,, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, gia đình bị cáo có công với cách mạng, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo ñöôïc quy ñònh taïi điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó thấy không cần thiết phải xử phạt bị cáo hình phạt tù mà áp dụng hình thức phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ giáo dục cải tạo bị cáo theo söï ñeà nghò cuûa vò kieåm saùt viên laø coù caên côù, đúng theo quy định của pháp luật.

[7] Đối với bị cáo Lê Văn S có năng lực nH thức đầy đủ, bị cáo đã nH thức được rõ việc “Tổ chức đánh bạc” là vi phạm pháp luật, nhưng với bản chất thích đỏ đen bị cáo đã cùng với các bị cáo khác gồm bị cáo H, bị cáo HY, bị cáo Q tổ chức việc đánh bạc, vai trò của bị cáo trong vụ án này với tính chất là người người giúp sức, cụ thể bị cáo cùng với bị cáo Q là người cảnh giới khi phát hiện lực lượng chức năng thì báo động cho các người chơi bên trong tẩu thoát. Qua đó thấy được tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm. tuy nhiên việc tổ chức đánh bạc của bị cáo cho các đối tượng tham gia đánh bạc chỉ giản đơn với số tiền đánh bạc không lớn và bị cáo chưa được chia khoản tiền nào từ việc tổ chức đánh bạc, khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, gia đình bị cáo có công với cách mạng, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo ñöôïc quy ñònh taïi điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó thấy không cần thiết phải xử phạt bị cáo hình phạt tù mà áp dụng hình thức phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ giáo dục cải tạo bị cáo theo söï ñeà nghò cuûa vò kieåm saùt viên laø coù caên côù, đúng theo quy định của pháp luật.

[8] Đối với bị cáo Huỳnh Văn T có nhân thân xấu bị Ủy ban nhân dân thị xã Duyên Hải xử phạt về hành vi tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép vào ngày 20/8/2021. Bị cáo nH thức được việc đánh bạc là vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý về mặt hình sự, tuy nhiên bản chất thích đỏ đen bị cáo đã bất chấp pháp luật, cụ thể bị cáo T tiếp tục tham gia đánh bạc do các bị cáo H, HY tổ chức vào ngày 13/10/2022,với số tiền dùng đánh bạc của bị cáo T, bị cáo Lẹ, bị cáo Nam là 6.00.000 đồng (Mỗi bị cáo là 2.000.000 đồng), hành vi của bị cáo T đã cấu thành tội “ Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Qua đó thấy tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, tuy nhiên việc đánh bạc của bị cáo với số tiền không lớn, hơn nữa Bị cáo mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo ñöôïc quy ñònh taïi điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó thấy không cần thiết phải xử phạt bị cáo hình phạt tù mà áp dụng hình thức phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ giáo dục cải tạo bị cáo theo söï ñeà nghò cuûa vò kieåm saùt viên laø coù caên cöù, đúng theo quy định của pháp luật.

[9] Đối với bị cáo Trần Hoàng N với năng thực nH thức đầy đủ. Bị cáo nH thức được việc đánh bạc là vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý về mặt hình sự, tuy nhiên bản chất thích đỏ đen bị cáo đã bất chấp pháp luật, cụ thể bị cáo N tham gia việc đánh bạc do các bị cáo H, HY tổ chức chức vào ngày 13/10/2022,với số tiền bị cáo và bị cáo HY, bị cáo Phan Văn P dùng đánh bạc là 9.000.000 đồng (mỗi bị cáo 3.000.000 đ), hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “ Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Qua đó thấy tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, tuy nhiên việc đánh bạc của bị cáo với số tiền không lớn, bị cáo không có tiền án, tiền sự hơn nữa bị cáo mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, gia đình bị cáo có công với cách mạng đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo ñöôïc quy ñònh taïi điểm i, s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó thấy không cần thiết phải xử phạt bị cáo hình phạt tù mà áp dụng hình thức phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ giáo dục cải tạo bị cáo theo söï ñeà nghò cuûa vò kieåm saùt viên laø coù caên côù, đúng theo quy định của pháp luật.

[10] Đối với bị cáo Phan Văn P với năng thực nH thức đầy đủ. Bị cáo nH thức được việc đánh bạc là vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý về mặt hình sự, tuy nhiên bản chất thích đỏ đen bị cáo đã bất chấp pháp luật, cụ thể bị cáo P tham gia việc đánh bạc do các bị cáo H, HY tổ chức chức vào ngày 13/10/2022,với số tiền bị cáo và bị cáo HY, bị cáo N dùng đánh bạc là 9.000.000 đồng (mỗi bị cáo 3.000.000 đ), hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “ Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Qua đó thấy tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, tuy nhiên việc đánh bạc của bị cáo với số tiền không lớn, bị cáo không có tiền án, tiền sự hơn nữa Bị cáo mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo ñöôïc quy ñònh taïi điểm i, s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó thấy không cần thiết phải xử phạt bị cáo hình phạt tù mà áp dụng hình thức phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ giáo dục cải tạo bị cáo theo söï ñeà nghò cuûa vò kieåm saùt viên laø coù caên cöù, đúng theo quy định của pháp luật.

[11] Đối với bị cáo Phan Văn N có nhân thân xấu từng bị xử phạt về hành vi đánh bạc nên Bị cáo nH thức được việc đánh bạc là vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý về mặt hình sự, tuy nhiên bản chất thích đỏ đen bị cáo đã bất chấp pháp luật, cụ thể bị cáo Nam tham gia việc đánh bạc do các bị cáo H, HY tổ chức chức vào ngày 13/10/2022,với số tiền bị cáo và bị cáo T, bị cáo Lẹ dùng đánh bạc là 6.000.000 đồng (mỗi bị cáo 2.000.000 đ), trong số tiền 2.000.000 đồng của bị cáo có số tiền 1.000.000 đồng của đối tượng Cao Văn M gửi tham gia đánh bạc, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “ Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Qua đó thấy tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, tuy nhiên việc đánh bạc của bị cáo với số tiền không lớn, bị cáo mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo ñöôïc quy ñònh taïi điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó thấy không cần thiết phải xử phạt bị cáo hình phạt tù mà áp dụng hình thức phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ giáo dục cải tạo bị cáo theo söï ñeà nghò cuûa vò kieåm saùt viên laø coù caên cöù, đúng theo quy định của pháp luật.

[12] Đối với bị cáo Huỳnh Văn L với năng thực nH thức đầy đủ nên Bị cáo nH thức được việc đánh bạc là vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý về mặt hình sự, tuy nhiên bản chất thích đỏ đen bị cáo đã bất chấp pháp luật, cụ thể bị cáo Lẹ tham gia việc đánh bạc do các bị cáo H, HY tổ chức chức vào ngày 13/10/2022,với số tiền bị cáo và bị cáoT, bị cáo Nam dùng đánh bạc là 6.000.000 đồng (mỗi bị cáo 2.000.000 đ), hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “ Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Qua đó thấy tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, tuy nhiên việc đánh bạc của bị cáo với số tiền không lớn, bị cáo không có tiền án, tiền sự, bị cáo mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo ñöôïc quy ñònh taïi điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó thấy không cần thiết phải xử phạt bị cáo hình phạt tù mà áp dụng hình thức phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ giáo dục cải tạo bị cáo theo söï ñeà nghò cuûa vò kieåm saùt viên laø coù caên côù, đúng theo quy định của pháp luật.

[9] Vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy

  • 02 (hai) cặp cựa gà bằng kim loại.
  • 04 (bốn) cuộn băng keo màu trắng đã qua sử dụng.

Đây là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng

Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước các tài sản sau:

  • 01 (một) cái cân hiệu Nhơn Hòa màu xanh loại 5kg đã qua sử dụng.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO cảm ứng màu xanh, có ốp lưng bằng. nhựa trong suốt, có gắn sim số 0375 939627, điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo Phan Văn N
  • 01 (một) điện thoại di động samsung cảm ứng màu đen, mặt sau điện thoại bị sứt ra, có ốp lưng trong suốt có hình người, trong điện thoại có gắn sim số 0944.541.xxx, điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo Huỳnh Hoàng HY
  • 01 (một) điện thoại Iphone màu xanh, có ốp lưng màu trong suốt, có gắn sim số 0981047900, điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo Lâm Văn Q.

Các tài sản này là công cụ, phương tiện phạm tội

Đối với số tiền còn lại 2.500.000 đồng được quản lý tại cơ quan thi hành án, xử lý như sau:

  • Trà cho bị cáo Huỳnh Văn T số tiền 800.000 đồng, do bị cáo T nộp không liên quan việc phạm tội.
  • Trà cho bị cáo Huỳnh Văn L số tiền 1.200.000 đồng, do bị cáo Lẹ nộp không liên quan việc phạm tội.
  • 1.000.000 đồng giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Duyên Hải quản lý để xử lý trong vụ án lần thứ hai.
  • 500.000 đồng tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Trả cho các bị cáo các phương tiện xe mô tô như sau:

  • Trả cho bị cáo Lê Văn S 01 (một) xe mô tô Honda Future màu đỏ, biển số 84F1-291.67, xe đã qua sử dụng. Do phương tiện này là tài sản do mẹ của bị cáo mua cho bị cáo sử dụng làm phương tiện để nuôi sống gia đình trong đó có mẹ của bị cáo, mẹ bị cáo già yếu (70 tuổi)
  • Trả cho bị cáo Phan Văn N 01 (một) xe mô tô Honda, loại Wave, màu đỏ đen, biển số 84F1-212.95, xe đã qua sử dụng. Do phương tiện này là tài sản chung của bị cáo với vợ của bị cáo.
  • Trả cho bị cáo Huỳnh Văn T 01 (một) xe mô tô Honda, loại Wave, màu đen bạc, biển số 84F1-106.82, xe đã qua sử dụng. Do phương tiện này là tài sản chung của bị cáo với vợ của bị cáo

Đối với 01 (một) xe mô tô Exiter màu đỏ trắng đen, biển số 84F1-159.07, xe đã qua sử dụng của Lê Hoàng T giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Duyên Hải quản lý để xử lý trong vụ án lần thứ hai..

Buộc các bị cáo Huỳnh Hoàng HY, Trần Hoàng N, Phan Văn P nộp số tiền thu lợi bất chính vào ngân sách nhà nước, cụ thể như sau:

  • Huỳnh Hoàng HY số tiền 5.300.000 đồng.
  • Trần Hoàng N số tiền 4.300.000 đồng.
  • Phan Văn P số tiền 1.500.000 đồng..

[10] Xét bản cáo trạng của Viện kiểm sát, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, hình phạt tiền đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nH.

[11] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Duyên Hải, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H, Huỳnh Hoàng HY, Lê Văn S, Lâm Văn Q phạm tội “Tổ chức Đánh bạc”

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35, Điều 17 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn H số tiền 70.000.000 (Bảy mươi triệu) đồng.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35, Điều 17 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Hoàng HY số tiền 65.000.000 (Sáu mươi lăm triệu) đồng.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35, Điều 17 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn S số tiền 53.000.000 (Năm mươi ba triệu) đồng.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35, Điều 17 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lâm Văn Q số tiền 53.000.000 (Năm mươi ba triệu) đồng.

Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Hoàng HY, Huỳnh Văn T, Trần Hoàng N, Huỳnh Văn L, Phan Văn P, Phan Văn N phạm tội “Đánh bạc”

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Hoàng HY số tiền 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo Huỳnh Hoàng HY nộp số tiền 90.000.000 (Chín mươi triệu)đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T số tiền 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Hoàng N số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Văn P số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Văn N số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn L số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy

  • 02 (hai) cặp cựa gà bằng kim loại.
  • 04 (bốn) cuộn băng keo màu trắng đã qua sử dụng.

Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước các tài sản sau:

  • 01 (một) cái cân hiệu Nhơn Hòa màu xanh loại 5kg đã qua sử dụng.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO cảm ứng màu xanh, có ốp lưng bằng. nhựa trong suốt, có gắn sim số 0375 939627, điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo Phan Văn N
  • 01 (một) điện thoại di động samsung cảm ứng màu đen, mặt sau điện thoại bị sứt ra, có ốp lưng trong suốt có hình người, trong điện thoại có gắn sim số 0944.541.xxx, điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo Huỳnh Hoàng HY
  • 01 (một) điện thoại Iphone màu xanh, có ốp lưng màu trong suốt, có gắn sim số 0981047900, điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo Lâm Văn Q.

Đối với số tiền còn lại 2.500.000 đồng được quản lý tại cơ quan thi hành án, xử lý như sau:

  • Trà cho bị cáo Huỳnh Văn T số tiền 800.000 đồng.
  • Trà cho bị cáo Huỳnh Văn L số tiền 1.200.000 đồng.
  • 1.000.000 đồng giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Duyên Hải quản lý để xử lý trong vụ án lần thứ hai.
  • 500.000 đồng tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Trả cho các bị cáo các phương tiện xe mô tô như sau:

  • Trả cho bị cáo Lê Văn S 01 (một) xe mô tô Honda Future màu đỏ, biển số 84F1-291.67, xe đã qua sử dụng. Do phương tiện này là tài sản do mẹ của bị cáo mua cho bị cáo sử dụng làm phương tiện để nuôi sống gia đình trong đó có mẹ của bị cáo, mẹ bị cáo già yếu (70 tuổi)
  • Trả cho bị cáo Phan Văn N 01 (một) xe mô tô Honda, loại Wave, màu đỏ đen, biển số 84F1-212.95, xe đã qua sử dụng. Do phương tiện này là tài sản chung của bị cáo với vợ của bị cáo.
  • Trả cho bị cáo Huỳnh Văn T 01 (một) xe mô tô Honda, loại Wave, màu đen bạc, biển số 84F1-106.82, xe đã qua sử dụng. Do phương tiện này là tài sản chung của bị cáo với vợ của bị cáo

Đối với 01 (một) xe mô tô Exiter màu đỏ trắng đen, biển số 84F1-159.07, xe đã qua sử dụng của Lê Hoàng T giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Duyên Hải quản lý để xử lý trong vụ án lần thứ hai..

Buộc các bị cáo Huỳnh Hoàng HY, Trần Hoàng N, Phan Văn P nộp số tiền thu lợi bất chính vào ngân sách nhà nước, cụ thể như sau:

  • Huỳnh Hoàng HY số tiền 5.300.000 đồng.
  • Trần Hoàng N số tiền 4.300.000 đồng.
  • Phan Văn P số tiền 1.500.000 đồng..

[10] Xét bản cáo trạng của Viện kiểm sát, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, hình phạt tiền đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nH.

[11] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Duyên Hải, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H, Huỳnh Hoàng HY, Lê Văn S, Lâm Văn Q phạm tội “Tổ chức Đánh bạc”

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35, Điều 17 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn H số tiền 70.000.000 (Bảy mươi triệu) đồng.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35, Điều 17 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Hoàng HY số tiền 65.000.000 (Sáu mươi lăm triệu) đồng.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35, Điều 17 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn S số tiền 53.000.000 (Năm mươi ba triệu) đồng.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35, Điều 17 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lâm Văn Q số tiền 53.000.000 (Năm mươi ba triệu) đồng.

Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Hoàng HY, Huỳnh Văn T, Trần Hoàng N, Huỳnh Văn L, Phan Văn P, Phan Văn N phạm tội “Đánh bạc”

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Hoàng HY số tiền 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo Huỳnh Hoàng HY nộp số tiền 90.000.000 (Chín mươi triệu)đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T số tiền 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Hoàng N số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Văn P số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Văn N số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn L số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy

  • 02 (hai) cặp cựa gà bằng kim loại.
  • 04 (bốn) cuộn băng keo màu trắng đã qua sử dụng.

Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước các tài sản sau:

  • 01 (một) cái cân hiệu Nhơn Hòa màu xanh loại 5kg đã qua sử dụng.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO cảm ứng màu xanh, có ốp lưng bằng. nhựa trong suốt, có gắn sim số 0375 939627, điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo Phan Văn N
  • 01 (một) điện thoại di động samsung cảm ứng màu đen, mặt sau điện thoại bị sứt ra, có ốp lưng trong suốt có hình người, trong điện thoại có gắn sim số 0944.541.xxx, điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo Huỳnh Hoàng HY
  • 01 (một) điện thoại Iphone màu xanh, có ốp lưng màu trong suốt, có gắn sim số 0981047900, điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo Lâm Văn Q.

Đối với số tiền còn lại 2.500.000 đồng được quản lý tại cơ quan thi hành án, xử lý như sau:

  • Trà cho bị cáo Huỳnh Văn T số tiền 800.000 đồng.
  • Trà cho bị cáo Huỳnh Văn L số tiền 1.200.000 đồng.
  • 1.000.000 đồng giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Duyên Hải quản lý để xử lý trong vụ án lần thứ hai.
  • 500.000 đồng tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Trả cho các bị cáo các phương tiện xe mô tô như sau:

  • Trả cho bị cáo Lê Văn S 01 (một) xe mô tô Honda Future màu đỏ, biển số 84F1-291.67, xe đã qua sử dụng. Do phương tiện này là tài sản do mẹ của bị cáo mua cho bị cáo sử dụng làm phương tiện để nuôi sống gia đình trong đó có mẹ của bị cáo, mẹ bị cáo già yếu (70 tuổi)
  • Trả cho bị cáo Phan Văn N 01 (một) xe mô tô Honda, loại Wave, màu đỏ đen, biển số 84F1-212.95, xe đã qua sử dụng. Do phương tiện này là tài sản chung của bị cáo với vợ của bị cáo.
  • Trả cho bị cáo Huỳnh Văn T 01 (một) xe mô tô Honda, loại Wave, màu đen bạc, biển số 84F1-106.82, xe đã qua sử dụng. Do phương tiện này là tài sản chung của bị cáo với vợ của bị cáo

Đối với 01 (một) xe mô tô Exiter màu đỏ trắng đen, biển số 84F1-159.07, xe đã qua sử dụng của Lê Hoàng T giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Duyên Hải quản lý để xử lý trong vụ án lần thứ hai..

Buộc các bị cáo Huỳnh Hoàng HY, Trần Hoàng N, Phan Văn P nộp số tiền thu lợi bất chính vào ngân sách nhà nước, cụ thể như sau:

  • Huỳnh Hoàng HY số tiền 5.300.000 đồng.
  • Trần Hoàng N số tiền 4.300.000 đồng.
  • Phan Văn P số tiền 1.500.000 đồng..

[10] Xét bản cáo trạng của Viện kiểm sát, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, hình phạt tiền đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nH.

[11] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Duyên Hải, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H, Huỳnh Hoàng HY, Lê Văn S, Lâm Văn Q phạm tội “Tổ chức Đánh bạc”

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35, Điều 17 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn H số tiền 70.000.000 (Bảy mươi triệu) đồng.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35, Điều 17 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Hoàng HY số tiền 65.000.000 (Sáu mươi lăm triệu) đồng.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35, Điều 17 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn S số tiền 53.000.000 (Năm mươi ba triệu) đồng.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35, Điều 17 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lâm Văn Q số tiền 53.000.000 (Năm mươi ba triệu) đồng.

Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Hoàng HY, Huỳnh Văn T, Trần Hoàng N, Huỳnh Văn L, Phan Văn P, Phan Văn N phạm tội “Đánh bạc”

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Hoàng HY số tiền 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo Huỳnh Hoàng HY nộp số tiền 90.000.000 (Chín mươi triệu)đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T số tiền 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Hoàng N số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Văn P số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Văn N số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn L số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy

  • 02 (hai) cặp cựa gà bằng kim loại.
  • 04 (bốn) cuộn băng keo màu trắng đã qua sử dụng.

Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước các tài sản sau:

  • 01 (một) cái cân hiệu Nhơn Hòa màu xanh loại 5kg đã qua sử dụng.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO cảm ứng màu xanh, có ốp lưng bằng. nhựa trong suốt, có gắn sim số 0375 939627, điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo Phan Văn N
  • 01 (một) điện thoại di động samsung cảm ứng màu đen, mặt sau điện thoại bị sứt ra, có ốp lưng trong suốt có hình người, trong điện thoại có gắn sim số 0944.541.xxx, điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo Huỳnh Hoàng HY
  • 01 (một) điện thoại Iphone màu xanh, có ốp lưng màu trong suốt, có gắn sim số 0981047900, điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo Lâm Văn Q.

Đối với số tiền còn lại 2.500.000 đồng được quản lý tại cơ quan thi hành án, xử lý như sau:

  • Trà cho bị cáo Huỳnh Văn T số tiền 800.000 đồng.
  • Trà cho bị cáo Huỳnh Văn L số tiền 1.200.000 đồng.
  • 1.000.000 đồng giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Duyên Hải quản lý để xử lý trong vụ án lần thứ hai.
  • 500.000 đồng tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Trả cho các bị cáo các phương tiện xe mô tô như sau:

  • Trả cho bị cáo Lê Văn S 01 (một) xe mô tô Honda Future màu đỏ, biển số 84F1-291.67, xe đã qua sử dụng. Do phương tiện này là tài sản do mẹ của bị cáo mua cho bị cáo sử dụng làm phương tiện để nuôi sống gia đình trong đó có mẹ của bị cáo, mẹ bị cáo già yếu (70 tuổi)
  • Trả cho bị cáo Phan Văn N 01 (một) xe mô tô Honda, loại Wave, màu đỏ đen, biển số 84F1-212.95, xe đã qua sử dụng. Do phương tiện này là tài sản chung của bị cáo với vợ của bị cáo.
  • Trả cho bị cáo Huỳnh Văn T 01 (một) xe mô tô Honda, loại Wave, màu đen bạc, biển số 84F1-106.82, xe đã qua sử dụng. Do phương tiện này là tài sản chung của bị cáo với vợ của bị cáo

Đối với 01 (một) xe mô tô Exiter màu đỏ trắng đen, biển số 84F1-159.07, xe đã qua sử dụng của Lê Hoàng T giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Duyên Hải quản lý để xử lý trong vụ án lần thứ hai..

Buộc các bị cáo Huỳnh Hoàng HY, Trần Hoàng N, Phan Văn P nộp số tiền thu lợi bất chính vào ngân sách nhà nước, cụ thể như sau:

  • Huỳnh Hoàng HY số tiền 5.300.000 đồng.
  • Trần Hoàng N số tiền 4.300.000 đồng.
  • Phan Văn P số tiền 1.500.000 đồng..

[10] Xét bản cáo trạng của Viện kiểm sát, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, hình phạt tiền đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nH.

[11] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Duyên Hải, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H, Huỳnh Hoàng HY, Lê Văn S, Lâm Văn Q phạm tội “Tổ chức Đánh bạc”

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35, Điều 17 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn H số tiền 70.000.000 (Bảy mươi triệu) đồng.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35, Điều 17 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Hoàng HY số tiền 65.000.000 (Sáu mươi lăm triệu) đồng.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35, Điều 17 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn S số tiền 53.000.000 (Năm mươi ba triệu) đồng.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35, Điều 17 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lâm Văn Q số tiền 53.000.000 (Năm mươi ba triệu) đồng.

Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Hoàng HY, Huỳnh Văn T, Trần Hoàng N, Huỳnh Văn L, Phan Văn P, Phan Văn N phạm tội “Đánh bạc”

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Hoàng HY số tiền 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo Huỳnh Hoàng HY nộp số tiền 90.000.000 (Chín mươi triệu)đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T số tiền 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Hoàng N số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Văn P số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Văn N số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn L số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy

  • 02 (hai) cặp cựa gà bằng kim loại.
  • 04 (bốn) cuộn băng keo màu trắng đã qua sử dụng.

Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước các tài sản sau:

  • 01 (một) cái cân hiệu Nhơn Hòa màu xanh loại 5kg đã qua sử dụng.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO cảm ứng màu xanh, có ốp lưng bằng. nhựa trong suốt, có gắn sim số 0375 939627, điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo Phan Văn N
  • 01 (một) điện thoại di động samsung cảm ứng màu đen, mặt sau điện thoại bị sứt ra, có ốp lưng trong suốt có hình người, trong điện thoại có gắn sim số 0944.541.xxx, điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo Huỳnh Hoàng HY
  • 01 (một) điện thoại Iphone màu xanh, có ốp lưng màu trong suốt, có gắn sim số 0981047900, điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo Lâm Văn Q.

Đối với số tiền còn lại 2.500.000 đồng được quản lý tại cơ quan thi hành án, xử lý như sau:

  • Trà cho bị cáo Huỳnh Văn T số tiền 800.000 đồng.
  • Trà cho bị cáo Huỳnh Văn L số tiền 1.200.000 đồng.
  • 1.000.000 đồng giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Duyên Hải quản lý để xử lý trong vụ án lần thứ hai.
  • 500.000 đồng tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Trả cho các bị cáo các phương tiện xe mô tô như sau:

  • Trả cho bị cáo Lê Văn S 01 (một) xe mô tô Honda Future màu đỏ, biển số 84F1-291.67, xe đã qua sử dụng. Do phương tiện này là tài sản do mẹ của bị cáo mua cho bị cáo sử dụng làm phương tiện để nuôi sống gia đình trong đó có mẹ của bị cáo, mẹ bị cáo già yếu (70 tuổi)
  • Trả cho bị cáo Phan Văn N 01 (một) xe mô tô Honda, loại Wave, màu đỏ đen, biển số 84F1-212.95, xe đã qua sử dụng. Do phương tiện này là tài sản chung của bị cáo với vợ của bị cáo.
  • Trả cho bị cáo Huỳnh Văn T 01 (một) xe mô tô Honda, loại Wave, màu đen bạc, biển số 84F1-106.82, xe đã qua sử dụng. Do phương tiện này là tài sản chung của bị cáo với vợ của bị cáo

Đối với 01 (một) xe mô tô Exiter màu đỏ trắng đen, biển số 84F1-159.07, xe đã qua sử dụng của Lê Hoàng T giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Duyên Hải quản lý để xử lý trong vụ án lần thứ hai..

Buộc các bị cáo Huỳnh Hoàng HY, Trần Hoàng N, Phan Văn P nộp số tiền thu lợi bất chính vào ngân sách nhà nước, cụ thể như sau:

  • Huỳnh Hoàng HY số tiền 5.300.000 đồng.
  • Trần Hoàng N số tiền 4.300.000 đồng.
  • Phan Văn P số tiền 1.500.000 đồng..

[10] Xét bản cáo trạng của Viện kiểm sát, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, hình phạt tiền đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nH.

[11] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Duyên Hải, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo:

Án xử sơ thẩm các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nH được bản án hoặc từ ngày Nêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi đương sự vắng mặt cư trú.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nôi nhaän:

  • -TAND tænh Traø Vinh;
  • -VKSND thị xã Duyên Hải;
  • -Sở Tư pháp tỉnh Trà Vinh;
  • -CCTHADS thị xã Duyên Hải;
  • -Công an thị xã Duyên Hải;
  • -Các bị cáo;
  • -Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XỐÛ SÔ THAÅM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN

Phạm Văn Hoài Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2023/HSST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH về tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 25/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn H đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger