TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 25/2024/DS-ST Ngày: 15/07/2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt.
Các hội thẩm nhân dân.
- 1. Bà Nguyễn Thị Kim Huế
- 2. Ông Hoàng Xuân Tỵ
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Anh Đào – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh – Kiểm sát viên
Hôm nay, ngày 15 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 32/2024/TLST-DS ngày 29 tháng 02 năm 2024, về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 06 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2024/QĐST-DS ngày 26/06/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Lê Nữ Hàng D, sinh năm 1986
Địa chỉ: Hẻm A đường L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của bà D: Bà Nguyễn Thị Xuân L, sinh năm 1966.
Địa chỉ: A đường L, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1987
Địa chỉ: Hẻm I đường H, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Cao Thanh H1, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Hẻm I đường H, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)
Hiện đang chấp hành cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tính Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án nguyên đơn và đại diện ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Xuân L trình bàyUyền Huy:
Vào ngày 01/12/2022, do có quan hệ quen biết, bà D cho bà Nguyễn Thị H, cư trú tại: 9 đường H, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng vay số tiền 1.000.000.000₫ (Một tỷ đồng). Mục đích vay để đáo hạn ngân hàng và lo kinh tế gia đình. Khi vay hai bên thỏa thuận lãi theo lãi suất ngân hàng chứ không ghi cụ thể mức lãi suất; bà H hẹn tới ngày 01/09/2023 sẽ trả gốc và lãi cho bà D; tuy nhiên đến hạn bà D đòi nhiều lần thì bà H không trả. Nay bà D đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị H và ông Cao Thanh H1 trả số tiền vay gốc là 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) và tiền lãi cụ thể: lãi trong hạn tính từ ngày vay đến ngày 01/09/2023 là 1.000.000.000đ x.83% x 9 tháng = 74.700.000đ; lãi quá hạn tính từ ngày 02/09/2023 đến ngày 15/07/2024 là 1.000.000.000₫ x 1.245%/tháng x 10 tháng 13 ngày = 129.895.000đ (Một trăm hai mươi chín triệu tám trăm chín mươi lăm ngàn đồng). Tổng cộng cả gốc và lãi là: 1.204.595.000đ (Một tỷ hai trăm lẻ bốn triệu năm trăm chín mươi lăm ngàn đồng).
Bị đơn bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Cao Thanh H1 trình bày: Ông có biết bà D là bạn của vợ ông bà Nguyễn Thị H. Tuy nhiên, đối với việc vay tiền giữa bà D và bà H thì ông không biết, không tham gia. Bà H cũng không mang tiền về trả nợ đáo hạn ngân hàng hay sử dụng cho mục đích kinh tế gia đình do thời điểm đó giữa ông và bà H có nhiều mâu thuẫn, gia đình chung sống không hạnh phúc nên không có trao đổi và sử dụng tiền bạc chung. Nay bà D yêu cầu ông có nghĩa vụ liên đới trả số tiền vay gốc 1.000.000.000đ và tiền lãi như trên thì ông không đồng ý.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Cao Thanh H1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong qúa trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghỉ nghị án như sau: thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự qui định. Về nội dung vụ án: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền vay gốc là 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) và tiền lãi cụ thể: lãi trong hạn tính từ ngày vay đến ngày 01/09/2023 là 1.000.000.000₫ x 0.83%/tháng x 9 tháng = 74.700.000đ; lãi quá hạn tính từ ngày 02/09/2023 đến ngày 15/07/2024 là 1.000.000.000₫ x 1.245%/tháng x 10 tháng 13 ngày = 129.895.000đ (Một trăm hai mươi chín triệu tám trăm chín mươi lăm ngàn đồng). Tổng cộng cả gốc và lãi là: 1.204.595.000đ (Một tỷ hai trăm lẻ bốn triệu năm trăm chín mươi lăm ngàn đồng). Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Cao Thanh H1 có nghĩa vụ liên đới trả tiền vay cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Trần Lê Nữ Hàng D khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn bà Nguyễn Thị H; cư trú tại: Số I đường H, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Do vậy, xác định đây là tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Cao Thanh H1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt do đó căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3]. Về nội dung tranh chấp:
[3.1]. Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trả số tiền gốc là 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng), đồng thời xuất trình 01 bản chính giấy vay tiền để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Nội dung giấy vay tiền chỉ có chữ ký, chữ viết của bị đơn bà Nguyễn Thị H. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do đó căn cứ quy định tại khoản 2 điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả 1.000.000.000đ tiền vay gốc là có căn cứ.
[3.2]. Về tiền lãi: Nguyên đơn yêu cầu tính lãi cụ thể: lãi trong hạn tính từ ngày vay đến ngày 01/09/2023 là 1.000.000.000₫ x 0.83%/tháng x 9 tháng = 74.700.000đ; lãi quá hạn tính từ ngày 02/09/2023 đến ngày 15/07/2024 là 1.000.000.000₫ x 1.245%/tháng x 10 tháng 13 ngày = 129.895.000₫ (Một trăm hai mươi chín triệu tám trăm chín mươi lăm ngàn đồng), tổng số tiền lãi là 204.595.000đ (Hai trăm lẻ bốn triệu năm trăm chín mươi lăm ngàn đồng). Thấy rằng, trong tài liệu chứng cứ nguyên đơn xuất trình ghi lãi suất thỏa thuận giữa nguyên đơn và bị đơn là theo lãi ngân hàng nhưng không ghi cụ thể mức lãi suất do đó nay nguyên đơn yêu cầu áp dụng mức lãi suất trong hạn là 0.83%/tháng, lãi quá hạn 1.245%/tháng là có cơ sở, nguyên đơn khai chưa nhận được bất cứ khoản tiền lãi nào của bị đơn, bị đơn không đến Tòa án làm việc và không có ý kiến phản bác với yêu cầu của nguyên đơn nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn về tiền lãi nêu trên.
[3.3]. Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Cao Thanh H1 có trách nhiệm trả số tiền vay gốc là 1.000.000.000đ và tiền lãi thấy rằng nguyên đơn thừa nhận khi vay tiền ông Cao Thanh H1 không biết, không tham gia, đối với nội dung trong giấy vay tiền ghi mục đích vay “để đáo hạn ngân hàng và lo kinh tế gia đình” là do bà H tự viết, nguyên đơn không liên hệ gì với ông H1, cũng không biết bà H có mang tiền về chi tiêu cho gia đình hay không do đó yêu cầu của nguyên đơn buộc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Cao Thanh H1 có trách nhiệm liên đới trả số tiền vay gốc 1.000.000.000đ và tiền lãi là không có cơ sở chấp nhận.
[4]. Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
[5]. Từ những phân tích trên, đã có đủ cơ sở kết luận: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Lê Nữ Hàng D về việc: “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” với bị đơn bà Nguyễn Thị H.
[6]. Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận do đó nguyên đơn không phải chịu án phí DSST. Bị đơn bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điều 147, điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự
- Áp dụng Điều 463, 466, 468, 357 Bộ luật dân sự 2015;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Lê Nữ Hàng D. Buộc bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm trả cho bà Trần Lê N Hàng Dương số tiền vay gốc là 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) và tiền lãi cụ thể: lãi trong hạn tính từ ngày vay đến ngày 01/09/2023 là 1.000.000.000₫ x 0.83%/tháng x 9 tháng = 74.700.000đ; lãi quá hạn tính từ ngày 02/09/2023 đến ngày 15/07/2024 là 1.000.000.000₫ x 1.245%/tháng x 10 tháng 13 ngày = 129.895.000đ (Một trăm hai mươi chín triệu tám trăm chín mươi lăm ngàn đồng). Tổng cộng cả gốc và lãi là: 1.204.595.000đ (Một tỷ hai trăm lẻ bốn triệu năm trăm chín mươi lăm ngàn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo ngày tòa án ban hành bản án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 357 Bộ luật dân sự 2015.
2. Về án phí:
Hoàn trả cho bà Trần Lê N Hàng Dương số tiền tạm ứng án phí là 23.348.000₫ (Hai mươi ba triệu ba trăm bốn mươi tám ngàn đồng) theo biên lai thu số 0006102 ngày 31/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc.
Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 48.137.850₫ (Bốn mươi tám triệu một trăm ba mươi bảy ngàn tám trăm năm mươi đồng).
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nguyệt |
Bản án số 25/2024/DS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Số bản án: 25/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Lê Nữ Hàng D - Nguyễn Thị H
