Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST

Ngày 15/5/2024

“Vv Ly hôn, nuôi con chung”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Chinh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Hoài và ông Nguyễn Đăng Vĩnh;

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 14/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 về việc: “Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 21/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Thạch Thị T; sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn C, xã N, huyện G, Hà Nội; vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: anh Phạm Kiên C; sinh năm 1977; nơi cư trú cuối cùng: Tổ G, Khu G, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: Canada; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Thạch Thị T trình bày:

Chị và anh Phạm Kiên C đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện ngày 29/12/2003 tại UBND phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống hạnh phúc ở Tổ G, Khu G, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Đến tháng 9 năm 2022, do khó khăn về kinh tế nên anh C đi xuất khẩu lao động ở Canada. Trong thời gian ở Canada, anh C không có thời gian về Việt Nam thăm gia đình và cũng ít liên lạc về nhà. Vì vậy vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, tình cảm dần phai nhạt, nhiều lần chị T yêu cầu anh C về Việt Nam để giải quyết ly hôn nhưng anh C không về Việt Nam và cũng không cho chị T biết địa chỉ hiện tại của anh C nên chị T không thể cung cấp địa chỉ chính xác cho Tòa án. Đến nay chị Thu nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị T đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho chị được ly hôn anh C.

Về con chung: chị T và anh C có hai con chung là Phạm Gia H, sinh ngày 19/5/2012 và Phạm Thạch M, sinh ngày 30/6/2004, hiện nay cháu Phạm Thạch M đã trưởng thành, khỏe mạnh nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu Phạm Gia H hiện nay đang ở với chị T nên chị T đề nghị Tòa án giao cháu Phạm Gia H cho chị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng nuôi con chung sẽ do hai vợ chồng tự thỏa thuận, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Công văn số: 5396/QLXNC-P3 ngày 18/3/2024, của Cục Q - Bộ C1 cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của anh Phạm Kiên C như sau: từ năm 2022 đến nay, trường hợp anh Phạm Kiên C, sinh ngày 01/6/1977, CCCD số: [...]; địa chỉ: Tổ G, Khu G, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, xuất cảnh ngày 13/9/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 13/3/2024 và tại Đơn trình bày ngày 18/4/2024, bà Mai Thị M1 (mẹ đẻ anh C) và chị Phạm Thị H1 (em gái anh C) khai: anh Phạm Kiên C đi Canada từ khoảng tháng 9/2022 và vẫn liên lạc với gia đình. Bà M1 và chị H1 chỉ biết anh C đi xuất khẩu Canada, còn địa chỉ cụ thể như thế nào thì bà M1 và chị H1 không biết nên không thể cung cấp địa chỉ chính xác của anh C cho Tòa án được. Bà M1 và chị H1 đã thông báo cho anh C biết hiện nay Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã thụ lý đơn khởi kiện của chị Thạch Thị T và cam kết nhận tài liệu giấy tờ của Tòa án thay cho anh C.

* Tại Biên bản lấy lời khai, nguyện vọng của cháu Phạm Gia H, sinh ngày 19/5/2012 thể hiện: có nguyện vọng được ở cùng với mẹ.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán; Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án, đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (không cung cấp địa chỉ của mình ở nước ngoài cho nguyên đơn và người thân ở trong nước biết, thuộc trường hợp giấu địa chỉ).

- Về nội dung: đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thạch Thị T như nêu trên. Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhận thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Thạch Thị T đối với anh Phạm Kiên C; giao con chung là Phạm Gia H, sinh ngày 19/5/2012 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình tố tụng, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn, nuôi con chung”; bị đơn anh Phạm Kiên C hiện đang sinh sống, làm việc tại Canada. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Nguyên đơn chị Thạch Thị T vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn anh Phạm Kiên C vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, niêm yết các văn bản tố tụng tại chính quyền địa phương. Căn cứ Điều 227; Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; hướng dẫn tại Công văn số: 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn; bị đơn và công bố các tài liệu, chứng cứ do Tòa án xác minh, thu thập.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Thạch Thị T và anh Phạm Kiên C đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện ngày 29/12/2003 tại UBND phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống hạnh phúc ở Tổ G, Khu G, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Đến tháng 9 năm 2022, do khó khăn về kinh tế nên anh C đi xuất khẩu lao động ở Canada. Trong thời gian ở Canada, anh C không có thời gian về Việt Nam thăm gia đình và cũng ít liên lạc về nhà. Vì vậy vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, tình cảm dần phai nhạt, nhiều lần chị T yêu cầu anh C về Việt Nam để giải quyết ly hôn nhưng anh C không về Việt Nam và cũng không cho chị T biết địa chỉ hiện tại của anh C nên chị T không thể cung cấp địa chỉ chính xác cho Tòa án. Tuy nhiên anh C vẫn liên lạc với mẹ anh C là bà Mai Thị M1 và em gái anh C là chị Phạm Thị H1. Tòa án đã lấy lời khai của bà Mai Thị M1 và chị Phạm Thị H1 thể hiện: anh Phạm Kiên C đi Canada từ khoảng

tháng 9/2022 và vẫn liên lạc với gia đình. Bà M1 và chị H1 chỉ biết anh C đi xuất khẩu Canada, còn địa chỉ cụ thể như thế nào thì bà M1 và chị H1 đều không biết nên không thể cung cấp địa chỉ chính xác của anh C cho Tòa án được. Bà M1 và chị H1 đã thông báo cho anh C biết hiện nay Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã thụ lý đơn khởi kiện của chị Thạch Thị T và cam kết nhận tài liệu giấy tờ của Tòa án thay cho anh C

Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy: chị T và anh C không còn tồn tại thực tế đời sống chung vợ chồng; vợ chồng không thực hiện nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, quan tâm giúp đỡ nhau cả về vật chất và tinh thần, không còn cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh C.

[2.2] Về con chung: chị T và anh C có hai con chung là Phạm Gia H, sinh ngày 19/5/2012 và Phạm Thạch M, sinh ngày 30/6/2004, hiện nay cháu Phạm Thạch M đã trưởng thành, khỏe mạnh nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu Phạm Gia H hiện nay đang ở với chị T nên chị T đề nghị Tòa án giao cháu Phạm Gia H cho chị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Xét thấy yêu cầu, quan điểm, điều kiện của chị T về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung khi ly hôn như nêu trên là phù hợp với quy định tại Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử, chấp nhận giao cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Phạm Gia H. Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[2.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: việc cấp dưỡng nuôi con chung sẽ do hai vợ chồng tự thỏa thuận, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[3] Về án phí: căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326 /2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Thạch Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh về nội dung giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 5; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 244; Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị T.

[1] Về quan hệ hôn nhân: chị Thạch Thị T được ly hôn với anh Phạm Kiên C.

[2] Về con chung: giao cho chị Thạch Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Phạm Gia H, sinh ngày 19/5/2012 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi).

Sau khi ly hôn, anh Phạm Kiên C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu anh Phạm Kiên C lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Thạch Thị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy chị Thạch Thị T không đủ điều kiện bảo đảm quyền lợi ích của con thì anh Phạm Kiên C có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: chị Thạch Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về án phí: chị Thạch Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005777 ngày 11/3/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

Án xử công khai sơ thẩm: chị Thạch Thị T biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật; anh Phạm Kiên C biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND phường Cửa Ông, Tp. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trí Chinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HNGĐ-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 25/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thạch Thị T - Phạm Kiên C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger