Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14 - 6 - 2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tư;

2. Bà Nguyễn Thị Biên.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên

Trong ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 62/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/5/2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 10/2024/TB-TA ngày 20/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 27/5/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1985. Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số nhà A, ngách B, ngõ G, đường L, tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt)
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1978. Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số nhà A, ngách B, ngõ G đường L, tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt, không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 05 tháng 3 năm 2024, bản tự khai ghi ngày 10 tháng 4 năm 2024 và biên bản ghi lời khai ngày 11 tháng 4 năm 2024, nguyên đơn là chị Trần Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T kết hôn ngày 15/12/2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, vợ chồng lấy nhau tự nguyện, không bị ai ép buộc, khi cưới được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương. Vợ chồng chung sống bình thường được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, anh T thường xuyên gây sự cãi nhau, chửi bới, đánh đập chị vô cớ. Anh T mỗi đêm ngủ đều nguyền rủa, chửi bới chị từ đêm tới gần sáng. Mâu thuẫn cứ diễn ra như vậy đến năm 2018 khi chị sinh cháu thứ hai thì phát hiện anh T có mối quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác, anh T công khai ngoại tình và ra ngoài thuê nhà sinh sống với họ. Anh T ngoại tình suốt từ năm 2018 đến nay với nhiều người phụ nữ. Đến nay anh T vẫn thuê trọ sinh sống với người phụ nữ khác. Cứ khoảng 1-2 ngày anh T lại về nhà, nhưng chỉ về vào ban ngày rồi lại đến chỗ trọ ở. Anh T thường xuyên có hành vi đánh đập chị một cách vô cớ, nhiều lúc anh T nói nhìn thấy chị ngứa mắt, nghe chị nói ngứa tai là xông vào đánh chị. Năm 2019, anh T khoá trái cửa và đánh chị một trận thừa sống thiếu chết, thời điểm đó chị đã không thể chịu đựng được anh T và nộp đơn ly hôn nhưng vì con còn nhỏ nên sau khi Toà án hoà giải chị đã rút đơn. Bản thân chị đã cố gắng tìm mọi cách để anh T thay đổi và về nhà chung sống với vợ con nhưng không được. Đến nay anh T vẫn ngoại tình rồi về nhà đánh đập, chửi bới chị. Chị và anh T đã sống ly thân nhau nhiều năm nay, không còn tình cảm vợ chồng. Chị nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hoà giải được vì đã quá trầm trọng nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

- Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là Nguyễn Anh T1, sinh ngày 05/10/2015 và Nguyễn Quỳnh T2, sinh ngày 22/12/2018. Các cháu do chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nhiều năm nay, anh T ít khi có trách nhiệm với con vì ít khi ở nhà. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi 02 con, chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Chị đang làm kế toán, thu nhập 13.5 triệu/tháng. Chị khẳng định đủ điều kiện về kinh tế để nuôi dưỡng tốt các con.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về công sức đóng góp: Chị và anh T chung sống cùng bà Á (mẹ anh T) trên nhà đất của bà Á nhưng không có công sức đóng góp vào khối tài sản chung của bà Á nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Tòa án tiến hành làm việc với bà Nguyễn Thị Á1 (mẹ đẻ anh Nguyễn Văn T), bà Á1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị H kết hôn cuối năm 2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B. Trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, vợ chồng lấy nhau tự nguyện, không bị ai ép buộc, gia đình bà có tổ chức lễ cưới hỏi cho vợ chồng anh T theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh T và chị H về sinh sống với gia đình bà. Vợ chồng chung sống được khoảng 2-3 năm hạnh phúc. Đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn hoàn toàn là do anh T, anh T có tính trai gái, nhiều năm nay ngoại tình bên ngoài và thuê nhà sinh sống để cặp bồ, ngoại tình công khai với nhiều người phụ nữ suốt từ năm 2017 đến nay, rồi lại về nhà đánh đập, chửi bới vợ, con. Anh T thuê nhà bên ngoài sinh sống nhưng 1-2 ngày lại về nhà một lần, về một chốc lát lại đi. Mâu thuẫn vợ chồng anh T, chị H đã diễn ra nhiều năm nay, không thể hoà giải được. Bà và chị H cũng đã nhiều lần khuyên bảo anh T phải thay đổi nhưng anh T không nghe. Vợ chồng anh T, chị H đã sống ly thân nhau và không còn mối quan hệ gì về tình cảm và kinh tế. Bà nhận thấy chị H đã quá nhẫn nhục chịu khổ trong nhiều năm nay, bản thân anh T là con bà nhưng bà cũng không thể chấp nhận được. Mâu thuẫn vợ chồng anh T, chị H đã quá trầm trọng, không thể hoà giải đoàn tụ được. Nay chị H yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, bà đề nghị Toà án giải quyết cho chị H ly hôn anh T để chị H được giải thoát. Trước khi kết hôn với chị H, anh T đã kết hôn 02 lần nhưng không ai chịu được tật xấu, tính trăng hoa của anh T nên vợ chồng đã ly hôn.

- Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung là Nguyễn Anh T1, sinh ngày 05/10/2015 và Nguyễn Quỳnh T2, sinh ngày 22/12/2018. Các cháu hiện do chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T ít khi có trách nhiệm với các con trong nhiều năm nay. Do vậy khi vợ chồng anh T, chị H ly hôn, bà đề nghị Toà án giải quyết giao 02 cháu cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

- Về công sức đóng góp: Trong thời gian vợ chồng chị H, anh T chung sống cùng bà không có công sức đóng góp gì vào khối tài sản của bà nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tòa án tiến hành ghi ý kiến của cháu Nguyễn Anh T1 (con chung của chị H và anh T), cháu T1 trình bày: Cháu là con anh Nguyễn Văn T, con chị Trần Thị H. Cháu đang học lớp 3A3, trường Tiểu học N, phường T, thành phố B. Cháu đang ở với mẹ cháu, bố cháu ít khi ở nhà. Trường hợp bố mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ cháu vì mẹ cháu là người hàng ngày quan tâm, chăm sóc cháu rất chu đáo, tỉ mỉ cháu.

* Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy báo làm việc, quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ cho bị đơn là anh Nguyễn Văn T. Tuy nhiên anh T không nộp văn bản ý kiến cho Tòa án và cũng không đến Tòa án làm việc theo giấy báo.

* Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và mở phiên hòa giải nhưng nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho các đương sự, không ai có ý kiến gì.

* Tại phiên tòa ngày 27/5/2024, do bị đơn vắng mặt lần thứ nhất không có lý do, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa

* Tại phiên tòa ngày 14/6/2024:

  • - Nguyên đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
  • - Bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
  • + Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • + Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T
    2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Anh T1, sinh ngày 05/10/2015 và Nguyễn Quỳnh T2, sinh ngày 22/12/2018. Anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh Nguyễn Văn T thực hiện quyền, nghĩa vụ này. Về cấp dưỡng nuôi con do các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
    3. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí chị H đã nộp.
    4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
    5. Kiến nghị, khắc phục: Không có

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Trần Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, con chung với anh Nguyễn Văn T. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, cụ thể là tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn cư trú tại thành phố B, tỉnh Bắc Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

[1.3] Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn tại phiên tòa.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:

- Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Văn T kết hôn ngày 15/12/2014 (là thời điểm thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000), kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B và được cấp giấy chứng nhận kết hôn, là hôn nhân hợp pháp đúng với quy định tại Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.

- Quá trình chung sống, Hội đồng xét xử thấy chị H và anh T đã phát sinh nhiều mâu thuẫn trong nhiều năm và mâu thuẫn đã trở lên trầm trọng từ năm 2018 đến nay, không thể hòa giải được. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh T nhiều năm nay thuê nhà bên ngoài sinh sống với nhiều người phụ nữ khác nhau, anh T công khai ngoại tình rồi về nhà gây sự, chửi bới, đánh đập chị H vô cớ. Anh T, chị H đã sống ly thân nhau từ năm 2018 và không còn tình cảm vợ chồng. Chị H yêu cầu giải quyết ly hôn, anh T mặc dù đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, giấy báo làm việc, quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ, thông báo hòa giải nhưng không nộp văn bản ý kiến cho Tòa án, cũng không đến Tòa án làm việc và hòa giải theo thông báo. Do vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng chị H, anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để xử cho chị H được ly hôn anh T là phù hợp với quy định pháp luật.

[2.2] Về yêu cầu giải quyết con chung: Chị H yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là Nguyễn Anh T1, sinh ngày 05/10/2015 và Nguyễn Quỳnh T2, sinh ngày 22/12/2018, chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Anh T không có ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con của chị H. Hội đồng xét xử thấy, anh T đã thuê nhà sinh sống bên ngoài và sống ly thân với chị H từ năm 2018 đến nay, các cháu Nguyễn Anh T1Nguyễn Quỳnh T2 đang sống với chị H, do chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị H có chỗ ở, có việc làm, thu nhập ổn định là 13.5triệu/tháng. Cháu Nguyễn Anh T1 đã đủ 07 tuổi, cháu trình bày có nguyện vọng được chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi bố mẹ ly hôn. Do vậy, để đảm bảo quyền, nghĩa vụ của cha mẹ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; đảm bảo quyền lợi của con được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt nhất sau khi bố mẹ ly hôn, cần giao 02 cháu Nguyễn Anh T1Nguyễn Quỳnh T2 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Sau khi ly hôn, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con chung, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền, nghĩa vụ này.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.5] Về công sức đóng góp: Các đương sự không yêu cầu giải quyết về công sức đóng góp trong thời gian vợ chồng chung sống với bà Nguyễn Thị Á1 (mẹ đẻ anh T) nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị H đã nộp.

[2.7] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

[2.8] Về đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đối với việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T
  2. 2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Anh T1, sinh ngày 05/10/2015 và Nguyễn Quỳnh T2, sinh ngày 22/12/2018 đến khi cháu T1, cháu T2 đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con chung (cháu Nguyễn Anh T1, cháu Nguyễn Quỳnh T2), không ai được cản trở anh T thực hiện quyền, nghĩa vụ này.
  3. 3. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001645 ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị H đã thi hành xong án phí.
  4. 4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
  5. 5. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKS TP.Bắc Giang;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Thọ Xương, TP.Bắc Giang;
  • (Giấy CNKH số 101/2014, quyển số 01/2014)
  • - Chi cục THADS TP.Bắc Giang;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 25/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger