Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG PHÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HS-ST

Ngày 13/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Thạch Thanh Tâm

Ông Thạch Hoàng Tha

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hiền-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Cao Trương Minh Đức-Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2024/TLST-HS ngày 14/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HS ngày 21/8/2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn T, sinh ngày 01/01/1986 tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị N1 (đã chết); Có vợ và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2005 và nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/12/2023 cho đến nay. (có mặt)

  2. Nguyễn Văn N2, sinh ngày 09/8/2005 tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thanh N3; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Về nhân thân: Vào các ngày 01/12/2023 và ngày 15/02/2024 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 05 năm 03 tháng tù về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 140/2023/HS-ST và 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST, tổng hợp hình phạt chung là 08 năm 03 tháng tù và bản án đã có hiệu lực pháp luật; Bị cáo đang chấp hành án phạt tù của vụ án khác từ ngày 03/9/2023 cho đến nay. (có mặt)

  3. Đoàn Văn D (tên thường gọi khác là N4), sinh ngày 04/01/2001 tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Số B đường B, Khóm E, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Văn D1 và bà Đinh Thị H; Tiền án: 01 lần vào ngày 24/01/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2022/HS-ST, ngày 08/02/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt nhưng đến lần phạm tội này bị cáo chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không; Về nhân thân: vào ngày 18/5/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2018/HS-ST lần phạm tội này đã được xóa án tích, ngày 09/5/2019 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường D3, thành phố S áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường thị trấn với thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định số 98/QĐ-UBND, ngày 09/8/2019 và ngày 13/4/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định số 84/QĐ-TA và 87/QĐ-TA với thời hạn của mỗi quyết định là 24 tháng. Ngoài ra, vào ngày 18/6/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 87/2024/HS-ST và bản án đã có hiệu lực pháp luật; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/12/2023 cho đến nay. (có mặt)

  4. Hứa Điền N5, sinh ngày 07/7/2002 tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Số D đường M, Khóm F, Phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tô Điền T1 và bà Hứa Thu T2; Tiền án: 02 lần, vào các ngày 16/9/2020 và ngày 02/12/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2020/HS-ST và 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 114/2020/HS-ST, tổng hợp hình phạt chung của hai bản án là 03 năm 10 tháng tù, ngày 12/5/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù nhưng đến lần phạm tội này chưa được xóa án tích; Tiền sự: 01 lần vào ngày 07/6/2023 bị Trưởng Công an thành phố S, tỉnh Sóc Trăng xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 6.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tại Quyết định số 39/QĐ-XPHC, bị cáo chưa nộp phạt; Về nhân thân: Vào ngày 18/6/2024 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 87/2024/HS-ST; Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác. (có mặt)

  5. Đỗ Thạch Phát T3, sinh ngày 17/4/2005 tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Số I đường X, Khóm C, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thạch D2 và bà Đỗ Mỹ H1; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Về nhân thân: Vào ngày 15/02/2024 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST và bản án đã có hiệu lực pháp luật; Bị cáo đang chấp hành án phạt tù của vụ án khác từ ngày 02/5/2024 cho đến nay. (có mặt)

- Bị hại:

  1. Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1987; Nơi cư trú: ấp T, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

  2. Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1974; Nơi cư trú: ấp T, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

  3. Ông Bùi Thanh T5, sinh năm 1967; Nơi cư trú: ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

- Người làm chứng:

  1. Bà Bùi Thị Lan A, sinh năm 2000; Nơi cư trú: ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

  2. Bà Lâm Thị Kim Đ, sinh năm 1972; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T cùng với ông Nguyễn Thanh B, ông Bùi Thanh T5 và ông Nguyễn Văn T4 có mối quan hệ quen biết hàng xóm và không có mâu thuẫn gì với nhau.

Vào khoảng 15 giờ ngày 23/8/2023, ông T5, B, T4 và T tổ chức uống rượu và hát karaoke tại quán nước giải khát của bà Bùi Thị Lan A ở ấp N, xã C, huyện L. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, trong lúc đang hát karaoke thì giữa T và ông T4 xảy ra mâu thuẫn cự cãi qua lại với nhau. Trong lúc cự cãi, ông T4 dùng tay đánh trúng 01 cái vào đầu T. Tức giận nên T bỏ ra ngoài, gọi điện thoại cho con ruột là Nguyễn Văn N2 nói cho N2 biết việc bị ông T4 đánh và kêu N2 đến gây thương tích cho ông T4. Lúc này, N2 đang uống rượu tại nhà của Đoàn Văn D ở Số B đường B, Khóm E, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng với Đỗ Thạch Phát T3 và Hứa Điền N5. Sau khi nghe điện thoại của T thì N2 nói cho D, Phát T3, N5 biết việc cha ruột của N2 bị đánh rồi rủ cả nhóm cùng đi tìm người đã đánh ông T để gây thương tích thì D, Phát T3, N5 đồng ý. Trước khi đi, N2 kêu Phát Tài đi lấy dao cho cả nhóm thì Phát T3 đồng ý nên đi về phòng trọ của Phát T3 tại Nhà trọ 69 thuộc Khóm C, Phường H, thành phố S lấy 03 cây dao tự chế bỏ vào trong 01 cái giỏ màu đen rồi đem đến nhà D để đưa dao cho N2 nhưng Phát T3 không đi theo mà đi về phòng trọ.

Lúc này, N2 một mình điều khiển xe chở theo giỏ dao đi về nhà N2, còn D điều khiển xe chở N5 đi theo sau. Khi chạy đến nhà của N2 thì N2, D và N5 dừng xe lại rồi lấy dao ra để chia cho mỗi người. Nhất lấy 01 đưa cho N5 nhưng N5 không lấy nên N2 lấy cả 02 cây dao này cầm ở 02 tay, D thì lấy cây dao dài còn lại. Sau đó, N2 kêu D lấy xe chở N2 ngồi ở sau, N5 ngồi ở giữa đi đến chỗ của T. Trên đường đi, N2 gặp T ở đầu lộ đal và được T chỉ đường đi vào quán, D chạy xe chở N5 và N2 đến quán. Khi đến nơi N2, D lập tức xuống xe đi vào trong quán còn N5 đứng cạnh xe, dùng tay quay đầu xe lại và ngồi ở ngoài lộ đal đợi. Khi vào quán thì thấy có 03 người gồm T3, T4, B đang ngồi uống rượu nên N2 lên tiếng hỏi “thằng nào chém cha tao” rồi N2 cầm dao chém 01 nhát trúng vào vùng bả vai trái của T3 gây thương tích. Thấy T3 bị chém thì ông B và ông T4 bỏ chạy vào phía trong quán thì N2 tiếp tục đuổi theo chém nhiều cái trúng vào tay trái và vùng bụng của B gây thương tích. Còn D đuổi theo T4 và cầm dao trên tay phải chém trúng vào tay trái và cẳng tay phải của T4 gây thương tích. Cùng lúc này, T bước vào quán, thấy B bị thương nên T hô hoán lên “chém nhầm rồi” và đỡ B đứng sang một bên, cùng lúc N5 cũng đi vào kêu N2 và D đi về. N2 và T bỏ chạy về nhà của N2, còn D chở N5 đi sau về nhà N2. Khi về tới nhà, Nhất bỏ 02 cây dao vào giỏ và đưa cho D mang theo giỏ đựng dao chạy về thành phố S. Trên đường đi, D vứt bỏ giỏ đựng dao. Đối với T3, T4 và B sau khi bị chém đã được người xung quanh đưa đi cấp cứu, sau khi xuất viện đã có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với người đã gây thương tích.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 494/KLTTCT-TTPYST ngày 27/11/2023 của Trung tâm P-Sở Y tế tỉnh S đã kết luận: Bùi Thanh T5 có sẹo bả vai trái, kích thước trung bình, bề mặt bờ vết sẹo sắc - gọn. Tổn thương vùng vai là vùng nguy hiểm đến tính mạng. Tổn thương có đặc điểm do vật sắc gây nên. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế là 02%.

Tại các Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 495/KLTTCT-TTPYST ngày 27/11/2023 và 110/KLTTCT-TTPYST ngày 11/3/2024 của Trung tâm P-Sở Y tế tỉnh S đã kết luận: Nguyễn Thanh B có sẹo 1/3 giữa mặt sau cẳng tay trái, kích thước lớn, gây đứt cơ dạng ngón cái ngắn, duỗi ngón cái dài, duỗi ngón cái ngắn, đứt cơ duỗi 2, 3, 4, 5 tay trái, đứt cơ duỗi cổ tay trụ tay trái, bán phần cơ gấp cổ tay trụ tay trái, đã được phẫu thuật khâu nối còn hạn chế ít chức năng cổ tay, cứng khớp đốt - bàn ngón I tay trái. Sẹo ngang mặt ngoài 1/3 giữa cánh tay trái, kích thước nhỏ, không gây ảnh hưởng đến chức năng. Tổn thương không nằm ở vùng nguy hiểm đến tính mạng. Tổn thương có đặc điểm do vật có cạnh sắc gây nên. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế) là 23%.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 500/KLTTCT-TTPYST ngày 29/11/2023 của Trung tâm P-Sở Y tế tỉnh S đã kết luận: Nguyễn Văn T4 có sẹo 1/3 trên cánh tay trái ngang cơ Delta, kích thước lớn, đứt bán phần cơ Delta đã được phẫu thuật khâu nối, không gây ảnh hưởng chức năng. Sẹo ngang 1/3 giữa mặt ngoài cánh tay trái, kích thước trung bình, đứt bán phần điểm bám cơ Delta đã được phẫu thuật khâu nối, không gây ảnh hưởng chức năng. Sẹo ngang 1/3 dưới mặt ngoài căng tay phải, kích thước trung bình đứt gấp cổ tay quay phải đã được phẫu thuật khẩu nối, ảnh hưởng ít đến động tác khớp cổ tay. Tổn thương không nằm ở vùng nguy hiểm đến tính mạng. Tổn thương có đặc điểm do vật có cạnh sắc gây nên. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế) là 13%.

Tại Cáo trạng số 29/CT-VKS-LP ngày 13/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015. (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các bị cáo Nguyễn Văn N2, Đoàn Văn D, Hứa Điền N5 và Đỗ Thạch Phát T3 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d Khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015. (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N2, Đoàn Văn D, Hứa Điền N5 và Đỗ Thạch Phát T3 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo T, đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù.

Áp dụng điểm d Khoản 3 Điều 134; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo N2, đề nghị xử phạt bị cáo từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt ở bản án trước buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.

Áp dụng điểm d Khoản 3 Điều 134; điểm h Khoản 1 Điều 52; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo D, đề nghị xử phạt bị cáo từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt ở bản án trước buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.

Áp dụng điểm d Khoản 3 Điều 134; điểm h Khoản 1 Điều 52; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo N5, đề nghị xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 06 năm tù.

Áp dụng điểm d Khoản 3 Điều 134; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo T3, đề nghị xử phạt bị cáo từ từ 05 năm đến 06 năm tù. Tổng hợp hình phạt ở bản án trước buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.

Về xử lý vật chứng của vụ án: áp dụng Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại cảm ứng, màu đỏ (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI, loại cảm ứng, màu xanh, đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã được bồi thường xong và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cấp xử lý.

Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng tội, không oan sai cho các bị cáo. Các bị cáo trình bày lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, các bị hại là ông Nguyễn Thanh B, ông Nguyễn Văn T4, ông Bùi Thanh T5 và những người làm chứng là bà Bùi Thị Lan A, Lâm Thị Kim Đ đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, những người tham gia tố tụng nêu trên đã có lời khai rõ ràng về các tình tiết của vụ án và việc vắng mặt cũng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ vào Điều 292, Điều 293, Điều 299 của Bộ luật Tố tụng Hình sự để xét xử vắng mặt đối với những người nêu trên.

[3]. Xét lời khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo và người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 16 giờ ngày 23/8/2023, T cùng với B, Thanh T5, T4 uống rượu tại quán của bà Bùi Thị Lan A ở ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng, khi hát karaoke thì giữa Thống với T4 xảy ra mâu thuẫn cự cãi nên T bỏ đi ra ngoài rồi gọi điện thoại cho con ruột là N2 nói cho N2 biết sự việc mâu thuẫn với T4 rồi kêu Nhất đến gây thương tích cho T4 thì N2 đồng ý. Trong lúc nghe điện thoại của T thì N2 đang ngồi nhậu chung với D, Phát T3 và N5 tại nhà của D ở Số B đường B, Khóm E, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng nên N2 rủ cả nhóm đi gây thương tích cho những người tại quán giải khát thì cả nhóm đồng ý. Sau đó, Phát T3 đã lấy 03 cây dao tự chế đưa cho N2, D và N5 rồi đi về nhà trọ, còn N2 cùng với N5 và D điều khiển xe mô tô đi đến quán giải khát nơi B, Thanh T5 và T4 đang nhậu, khi đến gần quán thì cả nhóm gặp T chỉ đường đi vào quán, khi đến nơi thì N5 đứng bên ngoài xe đợi còn N2 và D đi vào bên trong quán dùng dao tự chế chém trúng vào vai trái của T5, cánh tay trái và vùng bụng phải của B, hai cánh tay của T4 gây thương tích, lúc này T đi vào thấy B và Phát T3 bị thương thương tích nên nói “chém lầm rồi” thì N5 cũng đi vào nên T, N2, D và N5 bỏ đi về.

[4]. Hành vi của các bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của các bị hại một cách trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

Đối với bị cáo T về ý thức chủ quan chỉ yêu cầu bị cáo N2 gây thương tích cho bị hại T4 mà không yêu cầu bị cáo N2 gây thương tích cho các bị hại là B và T3, bị cáo T cũng không biết, không xúi giục hay yêu cầu các bị cáo N2 và D gây thương tích cho B và T3, lời khai của bị cáo T hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo N2 nên bị cáo T không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành là các bị cáo N2 và D theo quy định tại Khoản 4 Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015. (sửa đổi, bổ sung năm 2017) mà chỉ chịu trách nhiệm hình sự đối với hậu quả là thương tích của bị hại T4. Xét thấy, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong sinh hoạt mà bị cáo T đã yêu cầu cũng như chấp nhận để mặc cho hậu quả xảy ra việc các bị cáo N2 và D dùng dao loại sắc bén là hung khí nguy hiểm chém trúng vào cơ thể của bị hại T4 gây thương tích, qua giám định thì tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015. (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Đối với các bị cáo N2, D, T3 và N5 không có mâu thuẫn gì với các bị hại nhưng chỉ vì bênh vực T là cha ruột của bị cáo N2 mà các bị cáo đã cùng thống nhất ý chí, chuẩn bị công cụ là dao tự chế loại sắc bén để giải quyết mâu thuẫn. Các bị cáo N2 và D đã dùng dao chém trúng vào cơ thể của các bị hại gây thương tích nên phạm tội thuộc trường hợp có tính chất côn đồ và dùng hung khí nguy hiểm, còn riêng các bị cáo Phát T3 và N5 mặc dù không trực tiếp tham gia gây thương tích cho các bị hại nhưng đã thống nhất ý chí với bị cáo N2, cung cấp dao và chấp nhận để mặc cho hậu quả xảy ra, qua kết luận giám định thì tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của các bị hại Bằng là 23%, T4 là 13% và T3 là 02%. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận các bị cáo Nguyễn Văn N2, Đoàn Văn D, Hứa Điền N5 và Đỗ Thạch Phát T3 phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d Khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015. (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5]. Mặc dù các bị cáo đã cùng thống nhất thực hiện hành vi phạm tội nhưng giữa các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ, bàn bạc, phân công vai trò cụ thể cho từng bị cáo nên các bị cáo phạm tội không thuộc trường hợp đồng phạm có tổ chức mà chỉ là đồng phạm giản đơn. Vai trò cụ thể của từng bị cáo như sau:

Đối với bị cáo Nguyễn Văn T có vai trò chính trong vụ án, chính bị cáo là người thông báo sự việc mâu thuẫn và khởi xướng, rủ rê bị cáo N2 gây thương tích cho bị hại T4, bị cáo còn là người chỉ đường cho các bị cáo N2, D và N5 đi đến nơi gây thương tích cho bị hại T4 nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo là phù hợp.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn N2 là đồng phạm với vai trò là người thực hành tích cực sau khi nghe bị cáo T thông báo sự việc mâu thuẫn và khởi xướng, rủ rê gây thương tích cho bị hại T4 thì bị cáo đồng tình hưởng ứng, bị cáo còn là người khởi xướng, rủ rê, lôi kéo các bị cáo D, N5 và T3 cùng tham gia bênh vực bị cáo T, chính bị cáo đã trực tiếp cùng với bị cáo D chém nhiều dao vào trúng vào cơ thể của các bị hại gây thương tích, hơn nữa việc bị cáo gây thương tích cho các bị hại B và T3 là tiếp nhận ý chí vượt luôn cả ý thức chủ quan của bị cáo T nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc là phù hợp.

Đối với bị cáo Đoàn Văn D là đồng phạm với vai trò là người giúp sức tích cực sau khi nghe bị cáo N2 khởi xướng, rủ rê cùng tham gia giải quyết mâu thuẫn cho bị cáo T thì bị cáo D đồng tình hưởng ứng, bị cáo còn là người thực hành tích cực đã trực tiếp cùng với bị cáo N2 chém nhiều dao vào trúng vào cơ thể của các bị hại gây thương tích nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc là phù hợp.

Đối với bị cáo Hứa Đ1 Nghĩa là đồng phạm với vai trò là người giúp sức tích cực sau khi nghe bị cáo N2 khởi xướng, rủ rê cùng tham gia giải quyết mâu thuẫn cho bị cáo T thì bị cáo đồng tình hưởng ứng, chính bị cáo là người đã thống nhất ý chí, hưởng ứng và đi chung với các bị cáo N2 và D để cổ vũ về mặt tinh thần, cũng như chấp nhận để mặc cho hậu quả xảy ra là thương tích của các bị hại nên cần có mức hình phạt nghiêm là phù hợp.

Đối với bị cáo Đỗ Thạch Phát T3 là đồng phạm với vai trò là người giúp sức tích cực sau khi nghe bị cáo N2 khởi xướng, rủ rê cùng tham gia giải quyết mâu thuẫn cho bị cáo T thì bị cáo đồng tình hưởng ứng, chính bị cáo là người đã cung cấp 03 cây dao tự chế dùng làm công cụ tấn công các bị hại và chấp nhận để mặc cho hậu quả xảy ra là thương tích của các bị hại nên cần có mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo là phù hợp.

Từ hành vi và hậu quả mà các bị cáo đã gây ra, cần có hình phạt nghiêm đối với các bị cáo thì mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nhằm giáo dục, cải tạo và răn đe các bị cáo trở thành công dân tốt sống phải chấp hành đúng quy định pháp luật nên áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo là phù hợp.

[6]. Tuy nhiên, khi quyết định mức hình phạt đối với các bị cáo, cần xem xét đến tình tiết tăng nặng, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng,

Đối với bị cáo Nguyễn Văn T không có tình tiết tăng nặng, về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo đã cùng với bị cáo N2 bồi thường cho các bị hại T4 và B mỗi người là 10.000.000 đồng, các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cha ruột của bị cáo là ông Nguyễn Văn N có công với nước. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với bị cáo Nguyễn Văn N2 không có tình tiết tăng nặng, chưa có tiền án, tiền sự, nhưng có nhân thân xấu đã 02 lần bị Tòa án kết án và đang chấp hành án. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo đã cùng với bị cáo T bồi thường cho các bị hại T4 và B mỗi người là 10.000.000 đồng, các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ông nội của bị cáo là ông Nguyễn Văn N có công với nước. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với bị cáo Đoàn Văn D có 01 tình tiết tăng nặng vì trước lần phạm tội này thì bị cáo đã bị kết án nhưng đến lần phạm tội này chưa được xóa án tích nên bị cáo phạm tội thuộc tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại Khoản 1 Điều 53; Điều 70 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cần áp dụng điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để tăng nặng một phần hình phạt đối với bị cáo.

Ngoài ra, bị cáo D có nhân thân xấu nhiều lần bị kết án và bị xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo D đã thành khẩn khai báo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với bị cáo Hứa Điền N5 có 01 tình tiết tăng nặng vì trước lần phạm tội này thì bị cáo đã bị kết án về tội rất nghiệm trọng do lỗi cố ý nhưng đến lần phạm tội này bị cáo lại tiếp tục phạm tội phạm rất nghiệm trọng do lỗi cố ý và chưa được xóa án tích nên bị cáo phạm tội thuộc tình tiết tăng nặng là tái phạm nguy hiểm theo quy định tại Khoản 2 Điều 53; Khoản 2 Điều 107 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cần áp dụng điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để tăng nặng một phần hình phạt đối với bị cáo.

Ngoài ra, bị cáo N5 có nhân thân xấu nhiều lần bị kết án và bị xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo N5 đã thành khẩn khai báo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với bị cáo Đỗ Thạch Phát T3 không có tình tiết tăng nặng, chưa có tiền án, tiền sự, nhưng có nhân thân xấu đã bị kết án và đang chấp hành án. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại Bằng số tiền là 1.000.000 đồng, bị hại B có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[7]. Ngoài ra, đối với các bị cáo N2, D và Phát T3 đã bị kết án như phần lý lịch nêu và hiện nay các bản án đều đã có hiệu lực pháp luật nên khi quyết định hình phạt cần tổng hợp hình phạt tại các bản án nêu trên để buộc các bị cáo chấp hành hình phạt chung của các bản án theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với bị cáo N5 việc tổng hợp hình phạt tại các bản án sẽ được thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[8]. Về xử lý vật chứng của vụ án: Đối với 02 điện thoại di động của các bị cáo T và N2 dùng làm phương tiện để liên hệ cùng gây thương tích cho bị hại, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước

[9]. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã được bồi thường xong các khoản chi phí và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[10]. Về án phí: Cáo bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[11]. Xét lời đề nghị Kiểm sát viên về tội danh và việc áp dụng pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về hình phạt cần xử phạt các bị cáo ở mức khởi điểm như Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

Căn cứ vào điểm d Khoản 3 Điều 134; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Văn N2.

Căn cứ vào điểm d Khoản 3 Điều 134; điểm h Khoản 1 Điều 52; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Đoàn Văn D.

Căn cứ vào điểm d Khoản 3 Điều 134; điểm h Khoản 1 Điều 52; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Hứa Điền N5.

Căn cứ vào điểm d Khoản 3 Điều 134; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Đỗ Thạch Phát T3.

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N2, Đoàn Văn D, Hứa Điền N5 và Đỗ Thạch Phát T3 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo thi hành án phạt tù.

  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N2 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 08 năm 03 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 15/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Buộc bị cáo Nguyễn Văn N2 phải chấp hành chung cả hai bản án là 13 (mười ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2023.

  3. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn D 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 87/2024/HS-ST ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Buộc bị cáo Đoàn Văn D phải chấp hành chung cả hai bản án là 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.

  4. Xử phạt bị cáo Hứa Điền N5 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án phạt tù.

  5. Xử phạt bị cáo Đỗ Thạch Phát T3 05 (năm) năm tù. Tổng hợp hình phạt 01 năm 06 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 15/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Buộc bị cáo Đỗ Thạch Phát T3 phải chấp hành chung cả hai bản án là 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/5/2024.

  6. Về xử lý vật chứng của vụ án: căn cứ vào Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

    Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại cảm ứng, màu đỏ (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI, loại cảm ứng, màu xanh, đã qua sử dụng.

    (Theo Phiếu Nhập Kho số NK0035 ngày 13/8/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện L, tỉnh Sóc Trăng)

  7. Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

  8. Về án phí: căn cứ Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng là án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng các bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Long Phú;
  • - Công an huyện Long Phú (HSNV);
  • - CQTHAHS-CA huyện Long Phú;
  • - Chi cục THADS huyện L;
  • - UBND các Phường A và Phường B, thành phố S;
  • - UBND xã T, huyện T;
  • - Các bị cáo;
  • - Các bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Bảo Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 25/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N2, Đoàn Văn D, Hứa Điền N5 và Đỗ Thạch Phát T3 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger