Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH CHƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 13/5/2024.

V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Ngọc Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Viết Tùng; Ông Nguyễn Văn Hiền.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thỏa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Ngọc Soa - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2024/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 26/4/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1994. Địa chỉ: Xóm A, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn xin xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Trần Văn Y, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày như sau:

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Hanh Trần Văn Y kết hôn với nhau vào ngày 25/4/2014 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vợ chồng sống hạnh phúc với nhau đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, thường hay cãi nhau. Mâu thuẫn trầm trọng nhất cũng kể từ đầu năm 2019. Cũng kể từ đó, vợ chồng sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn Y.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung: Trần Thị Bảo Q, sinh ngày 15/8/2015. Nếu ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh Trần Văn Y đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Ngoài ra, vợ chồng không có con nuôi, con riêng.

Về chia tài sản và nợ: Chị Trần Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến bị đơn anh Trần Văn Y: Tại bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt thì anh Trần Văn Y trình bày:

Về hôn nhân: Anh nhất trí với đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị H, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn theo yêu cầu của chị Trần Thị H.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung: Trần Thị Bảo Q, sinh ngày 15/8/2015. Nếu ly hôn anh Y có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu chị H đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Ngoài ra, vợ chồng không có con nuôi, con riêng.

Về tài sản và nợ: Anh Trần Văn Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Trần Văn Y đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt anh.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị H được ly hôn anh Trần Văn Y.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Trần Thị Bảo Q, sinh ngày 15/8/2015 cho chị Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Trần Văn Y.

Về chia tài sản và nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án thuộc trờng hợp Tòa án không tiến hành hoà giải được vì bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án được quy định tại Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]Về nội dung vụ án: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Hanh Trần Văn Y là hợp pháp, được xác lập trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vợ chồng sống hạnh phúc với nhau đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, thường hay cãi nhau. Mâu thuẫn trầm trọng nhất cũng kể từ đầu năm 2019. Cũng kể từ đó, vợ chồng sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ. Chị Trần Thị H xin ly hôn thì anh Trần Văn Y cũng đồng ý.

Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Hanh Trần Văn Y chỉ tồn tại về mặt hình thức, thực chất tình trạng hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H, xử cho chị H được ly hôn với với anh Trần Văn Y là đúng với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3]Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung: Trần Thị Bảo Q, sinh ngày 15/8/2015. Nếu ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh Y đóng góp nuôi con. Anh Trần Văn Y cũng có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu chị Trần Thị H cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy chị Trần Thị Hanh Trần Văn Y đều có nguyện vọng nuôi cháu Trần Thị Bảo Q, đây là nguyện vọng chính đáng của cả hai người. Tuy nhiên, để đảm bảo được sự phát triển tâm sinh lý cũng như quyền lợi mọi mặt của con, hiện tại cháu Bảo Q đang còn nhỏ, cần sự chăm sóc và dạy dỗ của người mẹ. Vì vậy, hội đồng xét xử giao cháu Trần Thị Bảo Q, sinh ngày 15/8/2015 cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp và đúng với quy định tại các Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Trần Văn Y.

[4]Về chia tài sản và nợ: Chị Trần Thị Hanh Trần Văn Y không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa; những người tham gia tố tụng và việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật để giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị H được ly hôn anh Trần Văn Y.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Trần Thị Bảo Q, sinh ngày 15/8/2015 cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Trần Văn Y.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn) theo biên lai số 0011734 ngày 16/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKS huyện Thanh Chương;
  • - Chi cục THA dân sự H.Thanh Chương;
  • - UBND xã Thanh Long;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Ngọc Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HNGĐ - ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 25/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger