Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/DS-PT

Ngày: 11-01-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thiện Tâm
Bà Lê Thị Bích Tuyền

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chung - Kiểm sát viên.

Vào ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 288/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 109/2023/DS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 631/2023/QĐ-PT ngày 02 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1936.

    Địa chỉ: Số nhà A, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mộng T, sinh năm 1988, địa chỉ: Số nhà A, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An (giấy ủy quyền ngày 01 tháng 8 năm 2023).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà L: Ông Nguyễn Văn K - Trợ giúp viên pháp lý- Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L.

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1964.

    Địa chỉ: Số nhà F, ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Trúc L1, sinh năm 1985, địa chỉ: Số nhà D, ấp V, xã T, huyện C, tỉnh Long An (giấy ủy quyền ngày 05 tháng 6 năm 2023).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1962.

Địa chỉ: Số nhà A, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị L.

(Các đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L trình bày trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Ngày 26 tháng 12 năm 2011, bà L chia đất cho các con như sau: Chia cho ông Nguyễn Văn B thửa đất số 2964, tờ bản đồ số 6, xã T, diện tích là 284 m²; thửa đất số 2264, tờ bản đồ số 6, xã T, diện tích là 500 m² và thửa đất số 2963, tờ bản đồ số 6, xã T, diện tích là 495 m². Chia cho ông Nguyễn Văn B1 thửa đất số 1816, tờ bản đồ số 6, xã T, diện tích là 1.823 m²; thửa đất số 1814, tờ bản đồ số 6, xã T, diện tích là 1.889 m². Chia cho bà Nguyễn Thị L2 thửa đất số 189, tờ bản đồ số 9, xã T, diện tích là 3.092 m².

Ngày 23 tháng 12 năm 2013, Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp cho bà L số tiền 40.000.000 đồng để xây dựng nhà tình nghĩa, các con đã thống nhất và bà L đã xây dựng nhà tình nghĩa trên thửa đất số 2963, tờ bản đồ số 6, xã T của ông B, mục đích là để sau này ông B hoặc con ông B về chăm sóc, phụng dưỡng bà L. Tuy nhiên, bà L xây nhà đến nay đã gần 10 năm nhưng bà L vẫn sống một mình, chỉ có các con, các cháu ông B1 chăm sóc, phụng dưỡng bà L.

Ngày 12 tháng 02 năm 2020, ông Nguyễn Văn B hợp đồng với địa chính huyện đo đạc lại phần đất của ông B, ông B cắm cộc ranh mới sai lệch với vị trí ranh trước đây, giành luôn đường đi vào nhà ông B1, đường đi này đã tồn tại tính đến nay là hơn 64 năm, ông B tuyên bố sẽ làm hàng rào, không cho con cháu bà L sử dụng lối đi này.

Bà L gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã T kiện ông B, đòi lại thửa đất số 2264, tờ bản đồ số 6, xã T và thửa đất số 2963, tờ bản đồ số 6, xã T. Tại phiên hòa giải, ông B nói là sau khi bà L qua đời, ông B1 phải rước bà L về thờ cúng, trả lại đất cho ông B.

Nay bà L yêu cầu ông B trả lại cho bà L một phần thửa đất số 2963, tờ bản đồ số 6, xã T, gồm khu J1, diện tích là 8,9 m², khu J2 diện tích là 112,4 m² (có nhà tình nghĩa của bà L) và khu J3, diện tích là 45,9 m², để bà L sinh sống, thờ cúng chồng và người con là Liệt sĩ. Bà L không đồng ý thanh toán giá trị đất cho ông B.

Ông Nguyễn Văn B là bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Nguyễn Thị Trúc L1 trình bày trong quá trình giải quyết vụ án:

Ngày 08 tháng 11 năm 2010, cha mẹ ông B là ông Nguyễn Văn Đ (đã mất) và bà Nguyễn Thị L tổ chức họp mặt gia đình, có đầy đủ các anh chị em của ông B tham dự, cuộc họp thống nhất phân chia đất đai, nhà như sau: Ông Nguyễn Văn B được tặng cho thửa đất số 2964, tờ bản đồ số 6, xã T, diện tích là 284 m²; thửa đất số 2264, tờ bản đồ số 6, xã T, diện tích là 500 m² và thửa đất số 2963, tờ bản đồ số 6, xã T, diện tích là 495 m², tổng diện tích là 1.279 m². Bà Nguyễn Thị L2 được tặng cho thửa đất số 189, tờ bản đồ số 9 xã T, diện tích là 3.092 m², phần đất này đã được bán lấy tiền chia đều cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị N và bà Nguyễn Thị L2. Ông Nguyễn Văn Đ1 được tặng cho căn nhà tọa lạc tại đường H, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Văn B1 được tặng cho thửa đất số 1816, tờ bản đồ số 6, xã T, diện tích là 1.823 m²; thửa đất số 1814, tờ bản đồ số 6, xã T, diện tích là 1.889 m², tổng diện tích là 3.512 m².

Khi bà L được nhà nước cấp tiền để xây dựng nhà tình nghĩa, ông B có phụ bà L số tiền là 11.700.000 đồng để bà L xây nhà. Từ khi được cho đất đến nay, ông B vẫn để cho bà L sử dụng đất, ông B chưa sử dụng.

Nay bà L khởi kiện, yêu cầu ông B trả lại cho bà L một phần thửa đất số 2963, tờ bản đồ số 6, xã T, gồm khu J1, diện tích là 8,9 m², khu J2 diện tích là 112,4 m² (có nhà tình nghĩa của bà L) và khu J3, diện tích là 45,9 m², thì ông B không đồng ý, vì việc tặng cho đất là công khai, có sự thống nhất trong gia đình, có họp gia đình trước khi phân chia đất. Ông B không có lấn chiếm bờ đi như bà L trình bày. Ông B đồng ý để cho bà L tiếp tục sử dụng các thửa đất nêu trên đến cuối đời. Sau khi bà L qua đời thì ông B sẽ trực tiếp quản lý, sử dụng. Ông B cũng không đồng ý nhận giá trị đất.

Sau khi bà L xây dựng nhà tình nghĩa trên đất của ông B, vợ chồng ông B có rước bà L về sống chung với vợ chồng ông B, nhưng bà L không đồng ý. Ông B không có nói là sau khi bà L qua đời, ông B1 phải rước bà L về thờ cúng, trả lại đất cho ông B như bà L trình bày.

Ông Nguyễn Văn B1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Việc tranh chấp đất nêu trên giữa mẹ ông B1 là bà L với em ông B1 là ông B thì ông B1 không có liên quan. Ông B1 yêu cầu ông B chừa cho ông B1 lối đi vào nhà ông B1 như trước đây. Từ khi phát sinh tranh chấp, ông B1 tự tạo lối đi mới trên đất của ông B1. Thửa đất số 2963, tờ bản đồ số 6, xã T là của ông B.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 109/2023/DS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An đã căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 235, 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; Các Điều 164 và 166 của Bộ luật dân sự năm 2015; Các Điều 12 và 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn B trả lại cho bà Nguyễn Thị L một phần thửa đất số 2963, tờ bản đồ số 6 (số thửa mới là 108, tờ bản đồ số 26) xã T, có diện tích là 167,2 m², gồm khu J1, diện tích là 8,9 m², khu J2 diện tích là 112,4 m² (có nhà tình nghĩa của bà L) và khu J3, diện tích là 45,9 m², theo mảnh trích đo địa chính số 198-2022, do công ty TNHH Đ2 đo vẽ ngày 16 tháng 9 năm 2022, chi nhánh V đăng ký đất đai tại huyện C ký duyệt ngày 20 tháng 9 năm 2022 và mảnh trích đo địa chính phân khu của công ty TNHH Đ2.

    Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị L được quyền sử dụng đất đến cuối đời bà Nguyễn Thị L đối với một phần thửa đất số 2963, tờ bản đồ số 6 (số thửa mới là 108, tờ bản đồ số 26), xã T, gồm khu J1, diện tích là 8,9 m², khu J2 diện tích là 112,4 m² (có nhà tình nghĩa của bà L), theo mảnh trích đo địa chính số 198-2022, do công ty TNHH Đ2 đo vẽ ngày 16 tháng 9 năm 2022, chi nhánh V đăng ký đất đai tại huyện C ký duyệt ngày 20 tháng 9 năm 2022 và mảnh trích đo địa chính phân khu của công ty TNHH Đ2.

  2. Bà Nguyễn Thị L phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản tranh chấp với tổng số tiền 33.800.000 đồng (ba mươi ba triệu tám trăm nghìn đồng), bà Nguyễn Thị L đã thanh toán xong.
  3. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự.

Ngày 02/8/2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, công nhận khu J1, diện tích là 8,9 m², khu J2 diện tích là 112,4 m² (có nhà tình nghĩa của bà L) và khu J3, diện tích là 45,9 m², theo mảnh trích đo địa chính số 198-2022, do công ty TNHH Đ2 đo vẽ ngày 16 tháng 9 năm 2022, chi nhánh V đăng ký đất đai tại huyện C ký duyệt ngày 20 tháng 9 năm 2022 và mảnh trích đo địa chính phân khu của công ty TNHH Đ3 của bà L.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị Mộng T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Phần đất bà L tranh chấp đã cho ông B vào năm 2011, đến năm 2013 Nhà nước hỗ trợ cho bà L để xây nhà tình nghĩa, ông B đồng ý giao đất để xây nhà tình nghĩa và bà L sử dụng đất từ năm 2013 cho đến nay, nên đề nghị Tòa án buộc ông B trả phần đất 167,2 m² cho bà L, để bà L làm nhà thờ. Năm 2011, bà L cho đất ông B, lúc này các con bà L thống nhất ông B có nghĩa vụ chăm sóc và phụng dưỡng cho đến cuối đời, nhưng từ năm 2013 cho đến nay, ông B không chăm sóc bà L, chỉ có các con ông B1 chăm sóc. Thửa đất 2963, trước đây ông B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông B không đi cấp đổi chỉ có ông B1 đi cấp đổi, do Nhà nước cấp nhầm nên hiện nay ông B1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất luôn phần đất của ông B. Hiện nay các phần đất tranh chấp bà L vẫn đang quản lý, sử dụng, ông B không có sử dụng các thửa đất này. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà L.

Bà Nguyễn Thị Trúc L1 là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Năm 2011 ông Nguyễn Văn B được bà Nguyễn Thị L là mẹ ruột tặng cho thửa đất số 2964, tờ bản đồ số 6, xã T, diện tích là 284 m²; thửa đất số 2264, tờ bản đồ số 6, xã T, diện tích là 500 m² và thửa đất số 2963, tờ bản đồ số 6, xã T, diện tích là 495 m², tổng diện tích là 1.279 m². Năm 2013, bà L được Nhà nước hổ trợ xây nhà tình nghĩa thì ông B đồng ý, hiện nay bà L vẫn đang quản lý, sử dụng đất và sinh sống tại căn nhà này. Bà L đã tặng cho ông B nên ông B không đồng ý trả đất lại cho bà L, ông B đồng ý để cho bà L sử dụng đến cuối đời, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà L. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Ủy ban nhân dân huyện C đã cấp đổi cho ông B1 dề nghị Tòa án cấp hủy bỏ.

Ông Nguyễn Văn B1 trình bày: Thửa đất 2963 của ông B nhưng khi cấp đổi thì thành thửa 108 của ông, ông xác định phần đất tranh chấp của ông B, đề nghị Tòa án hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đổi cho ông.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn K trình bày:

Năm 2013, bà L được Nhà nước hổ trợ xây nhà tình nghĩa, ông B đồng ý giao đất để cho bà L xây dựng nhà tình nghĩa trên đất của ông B. Bà L phải có đất thì nhà nước mới cấp tiền xây dựng nhà tình nghĩa. Mục đích xây dựng nhà tình nghĩa trên đất của ông B là để sau đó ông B hoặc con ông B về chăm sóc bà L, nhưng cho đến nay ông B và con ông B không thực hiện nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L, buộc ông B trả cho bà L các phần đất theo yêu cầu của bà L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu:

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kháng cáo của bà Nguyễn Thị L đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị L:

Xét thấy bà Nguyễn Thị L đã lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn B thửa đất số 2264, 2963, 2964 tờ bản đồ số 6 xã T, huyện C, tỉnh Long An, ông B đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc bà L lập hợp đồng tặng cho ông B năm 2011 là tự nguyện và không có đặt điều kiện. Sau khi được tặng cho phía ông B không có sử dụng đến năm 2013 khi bà L được UBND xã T xem xét cất cho căn nhà tình nghĩa thì bà L có bàn với ông B cất trên phần đất của ông và ông B đã chở bà L đến UBND xã ký tên nhận tiền xây nhà tình nghĩa. Vấn đề này tại cấp phúc thẩm các đương sự thống nhất.

Tuy nhiên phần đất của ông B1 ở giáp ranh đất ông B vào năm 2015 khi làm thủ tục cấp đổi giấy mới theo chủ trương chung thì ông B1 đi đổi giấy, nhà nước làm thủ tục cấp đổi cho ông B1 nhưng lại cấp luôn phần đất ông B đang đứng giấy năm 2011 (cấp chồng lấn). Theo hồ sơ thể hiện thì hiện nay bên ông B1 chưa được nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì khi cấp đổi UBND xã T đã phát hiện việc cấp sai nên giữ giấy lại. Về pháp lý trên bản vẽ giải quyết vụ án khi phê duyệt phần đất tranh chấp được ghi chú phần đất này do ông B1 đứng giấy (bản thân ông B1 cũng thừa nhận đất đó là cấp giấy cho ông không đúng trong khi ông thừa nhận đất dính liền căn nhà tình nghĩa là của bà L).

Hiện nay các bên chỉ không thống nhất là: Thời điểm bà L cho rằng khi bà được xem xét cấp nhà tình nghĩa bà có trao đổi với ông B và ông B thống nhất cho lại đất để bà L có cơ sở nhận 40 triệu từ UBND xã T để cất nhà tình nghĩa; còn ông B cho rằng chỉ cho phần đất đó sử dụng đến cuối đời. Vấn đề này cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ để làm rõ (cần hỏi thêm về chế độ chính sách khi xét cấp đất cho bà L, UBND xã T có yêu cầu thế nào về quyền sử dụng đất để cất nhà, vì phải có đất trước thì mới có thể nhận tiền để cất nhà).

Ngoài ra cấp sơ thẩm chấp nhận để ông B1 đại diện theo uỷ quyền cho bà L là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng vì họ có quyền lợi đối lập (do về mặt pháp lý thì đất đó ông B1 đang đứng giấy). Đồng thời cấp sơ thẩm mặc nhiên công nhận đất là của ông B (trong khi trên hệ thống quản lý bản đồ là của ông B1 chưa giải quyết dứt điểm sai lầm khi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và cấp sơ thẩm tuyên cho bà L ở đến cuối đời mà không giải quyết trọn vẹn thủ tục hành chính về việc cấp đổi giấy nên sẽ dẫn đến vụ án không thể thi hành khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Huỷ bản án sơ thẩm đưa về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị L thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Việc xác định quan hệ tranh chấp: Thấy rằng nguồn gốc thửa đất 2963 là của bà L, các đương sự trình bày bà L tặng cho ông B vào năm 2011. Hiện nay bà L đang quản lý, sử dụng đất và sinh sống tại phần đất này nhưng yêu cầu ông B phải trả đất là không phù hợp. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp quyền sử dụng đất là chưa chính xác và mâu thuẫn với phần nhận định của bản án, tại phần nhận định Tòa án cấp sơ thẩm nhận định hợp đồng tặng cho không có điều kiện nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L. Trong vụ án này, Tòa án cấp sơ thẩm cần làm rõ đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà L và ông B, bà L có yêu cầu gì không (yêu cầu vô hiệu hay hủy hợp đồng tặng cho không), trường hợp Tòa án đã giải thích nhưng nguyên đơn không yêu cầu, chỉ yêu cầu trả đất là không phù hợp, vì đất nguyên đơn đang quản lý, sử dụng. Do đất nguyên đơn đang sử dụng, trường hợp nguyên đơn khởi kiện chỉ yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được xem xét giải quyết theo Luật tố tụng hành chính.

[3] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị L, thấy rằng:

[3.1] Theo đơn khởi kiện ngày 16 tháng 6 năm 2020 và đơn khởi kiện ngày 22 tháng 12 năm 2020, bà L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông B trả lại các thửa đất 2964, tờ bản đồ số 6, diện tích 284 m² và thửa đất 2963, tờ bản đồ số 6, diện tích 284 m².

Thấy rằng trong đơn khởi kiện giữa ông B1 và ông B mâu thuẫn với nhau về lối đi, bà L khởi kiện yêu cầu ông B trả lại quyền sử dụng đất, bà L là người lớn tuổi (thời điểm làm đơn khởi kiện bà L 84 tuổi), bà L là người không biết chữ nhưng đơn khởi kiện không có người làm chứng ký xác nhận vào đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết cũng không lấy lời khai của bà L về việc khởi kiện có phải ý chí của bà L hay không là thiếu sót theo quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3.2] Về phạm vi ủy quyền:

Bà L là nguyên đơn ủy quyền cho ông Nguyễn Văn B1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án tham gia tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm. Thấy rằng phần đất tranh chấp theo Mãnh trích đo hiện nay ông B1 đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà L yêu cầu ông B trả lại đất. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà L thì phải xem xét đến phần đất ông B1 đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên quyền và lợi ích của bà L và ông B1 đối lập, việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận ủy quyền của ông Nguyễn Văn B1 là vi phạm thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 87 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3.3] Theo thông báo thụ lý số 185/2020/TB-TLVA ngày 27 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An đã thụ lý yêu cầu của bà L như sau: Bà L yêu cầu ông Nguyễn Văn B trả lại thửa đất số 2964, tờ bản đồ số 6, diện tích 284 m² và thửa đất số 2963, tờ bản đồ số 6, diện tích 459 m² nhưng trong quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án cấp sơ thẩm, bà L chỉ yêu cầu ông B trả lại các khu J1, diện tích là 8,9 m², khu J2 diện tích là 112,4 m² (có nhà tình nghĩa của bà L) và khu J3, diện tích là 45,9 m² thuộc một phần thửa đất số 2963 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đình chỉ xét xử đối với phần bà L không yêu cầu là thiếu sót theo quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[4] Về nội dung vụ án:

[4.1] Về nguồn gốc thửa đất: Thửa đất số 2963, tờ bản đồ số 6 (số thửa mới là 108, tờ bản đồ số 26), tọa lạc tại xã T trước đây của bà Nguyễn Thị L, các đương sự trình bày năm 2011 bà Nguyễn Thị L đã lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn B thửa đất này cùng các thửa đất khác, ông Nguyễn Văn B đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[4.2] Bà Nguyễn Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn B trả lại cho bà Nguyễn Thị L một phần thửa đất số 2963, tờ bản đồ số 6 (số thửa mới là 108, tờ bản đồ số 26), xã T, gồm khu J1, diện tích là 8,9 m², khu J2 diện tích là 112,4 m² (có nhà tình nghĩa của bà L) và khu J3, diện tích là 45,9 m².

Theo mảnh trích đo địa chính số 198-2022, do công ty TNHH Đ2 đo vẽ ngày 16 tháng 9 năm 2022, chi nhánh V đăng ký đất đai tại huyện C ký duyệt ngày 20 tháng 9 năm 2022 và mảnh trích đo địa chính phân khu của công ty TNHH Đ2 (không có ngày tháng) thì các phần đất tranh chấp gồm khu J1, diện tích là 8,9 m², khu J2 diện tích là 112,4 m² (có nhà tình nghĩa của bà L) và khu J3, diện tích là 45,9 m² thửa cũ là thửa 2963, thửa mới là thửa 108 do ông Nguyễn Văn B1 đứng tên quyền sử dụng đất.

[4.3] Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thu thập tài liệu, chứng cứ:

Tại công văn số 223/CV.VPĐKĐĐ ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C trả lời Tòa án có nội dung: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 108, tờ bản đồ số 26, đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An đã được UBND huyện C ký cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/7/2013 cho ông Nguyễn Văn B1, nhưng chưa cấp phát cho đương sự. Qua kiểm tra thì thửa đất 108, tờ bản đồ 26 thuộc thửa 1814, tờ bản đồ số 6 là thửa đất 2963, tờ bản đồ số 6 ông Nguyễn Văn B1 và thửa 2963 108, tờ bản đồ số 6 của ông Nguyễn Văn B”.

Tại công văn số 694/CV.VPĐKĐĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C trả lời Tòa án có nội dung: “Thửa đất 296, tờ bản đồ số 6 của ông Nguyễn Văn B khi cấp đổi thành thửa đất 108, tờ bản đồ 26 của ông Nguyễn Văn B1 do tại thời điểm đo đạc nâng tỷ lệ bản đồ theo Quyết định 3101/QĐ-UBND ngày 03/11/2010 của UBND tỉnh L và tại thời điểm ông Nguyễn Văn B và Nguyễn Văn B1 nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị L vào năm 2011 cùng thời điểm nên việc cập nhật chỉnh lý giữa Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C và đơn vị thi công dự án chưa phối hợp nhịp nhàng nên có sự chồng lấn diện tích thửa đất 2963 nêu trên. Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C phát hiện hiện sự chồng lấn nêu trên nên tiếp tục giữ lại thửa 108, tờ bản đồ 26 chưa cấp phát giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ sử dụng”.

[4.4] Thấy rằng, phần đất tranh chấp thuộc thửa 2963 của ông Nguyễn Văn B hiện nay là thửa 108 của ông Nguyễn Văn B1. Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C xác định việc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn B1 là sai.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định đất là của ông B (trong khi trên hệ thống quản lý bản đồ là của ông B1) nhưng không xem xét giải quyết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đổi cho ông B1 sẽ không triệt để vụ án, trường hợp yêu cầu khởi kiện của bà L có căn cứ sẽ không thi hành án án được.

Như vậy để giải quyết triệt để, toàn diện vụ án Tòa án cần thu thập tài liệu, chứng cứ của Ủy ban nhân dân huyện C có ý kiến giải quyết như thế nào đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đổi cho ông Nguyễn Văn B1. Do hiện nay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đổi cho ông B1 nhưng chưa phát hành cho đương sự, Ủy ban xác nhận cấp đổi sai thì Ủy ban có ý kiến xử lý như thế nào?

[5] Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của bà L cho rằng thời điểm bà L được xem xét cấp nhà tình nghĩa bà có trao đổi với ông B và ông B thống nhất cho lại đất để bà L được nhận 40 triệu từ Ủy ban nhân dân xã T để cất nhà tình nghĩa, còn ông B cho rằng chỉ cho phần đất đó sử dụng đến cuối đời. Vấn đề này cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ để làm rõ. Tòa án cần thu thập ý kiến UBND xã T thời điểm cấp nhà tình thương cho bà L, khi xét cấp nhà tình nghĩa cho bà L, UBND xã T có yêu cầu thế nào về quyền sử dụng đất để cất nhà, vì phải có đất trước thì mới có thể nhận tiền để cất nhà.

[6] Về thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án:

Bà Nguyễn Thị L yêu cầu ông Nguyễn Văn B trả lại thửa đất số 2964, tờ bản đồ số 6, diện tích 284 m² và thửa đất số 2963, tờ bản đồ số 6, diện tích 459 m². Khi giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm nhận định Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn B là hợp đồng tặng cho không có điều kiện nên yêu cầu của bà Nguyễn Thị L không có căn cứ và không phù hợp với các Điều 164 và 166 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 203 của Luật đất đai năm 2013, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà L.

Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Nguyễn Thị L, hồ sơ cấp đất cho ông Nguyễn Văn B, không thu thập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà L và ông B, hồ sơ cấp đổi đất cho ông B1 nhưng Tòa án cho rằng hợp đồng tặng cho không có điều kiện là chưa có căn cứ. Để có cơ sở giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm phải thu thập hồ sơ cấp đất cho bà L, hồ sơ cấp đất cho ông B, hồ sơ cấp đổi cho ông B1.

[7] Từ những phân tích trên, thấy rằng những sai sót ở Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm không khắc phục được nên hủy bản án dân sự sơ thẩm, giao về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại.

[8] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị L và đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà L là phù hợp nên chấp nhận.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án dân sự sơ thẩm là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[10] Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Được quyết định khi vụ án được giải quyết lại.

[11] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị L.

  1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 109/2023/DS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
  2. Giao hồ sơ vụ án về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Được quyết định khi vụ án được giải quyết lại.
  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; AV./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/DS-PT ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 25/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger