|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2024/HS-PT
Ngày 11 tháng 01 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Điều Văn Hằng;
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tuyển;
Ông Phùng Hải Hiệp.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Ngô Cảnh Duy, Thư ký Tòa án nhân dân
cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn
Huy Hoàng, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, Tòa án nhân dân cấp
cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 1041/2023/TLPT-
HS ngày 28 tháng 9 năm 2023 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số
78/2023/HS-ST ngày 17/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
* Bị cáo có kháng cáo:
Cao Thị H, sinh ngày 01/01/2003; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: Nam
Định;Nơi đăng kí hộ khẩu thường trú + nơi ở hiện nay: Xóm C, thôn Q, xã G, huyện G, tỉnh Nam
Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp:
Lao động tự do; Bố đẻ: Cao Minh T, sinh năm 1973; Mẹ đẻ: Vũ Thị N, sinh năm 1977; Bố, mẹ hiện
ở xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; Chồng: Trần Văn C, sinh năm 2000; Con: Không có; Anh, chị,
em ruột: Gia đình có 4 chị em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được áp dụng
biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; Vắng mặt
tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm
tắt như sau:
Khoảng tháng 3 năm 2022, Phạm Văn V, sinh năm 1994, ở xã G, huyện G, tỉnh Nam Định,
đã tìm hiểu qua mạng xã hội và nhận làm giấy phép lái xe giả. Vượng được một trang fanpage báo
chi phí làm một hồ sơ giấy phép lái xe đối với tất cả các hạng là 250.000 đồng/1 bộ hồ sơ. Vượng
chỉ cần gửi ảnh chân dung, ảnh chứng minh thư nhân dân hoặc căn cước công dân, ảnh giấy phép
lái xe cũ đối với các trường hợp cấp đổi; địa chỉ của người đứng tên trong giấy phép lái xe, gửi qua
T1 có tên là “Viu” để làm giấy phép lái xe giả; Sau khi làm xong, bên kia sẽ gửi qua các kênh giao
hàng cho V, V phải trả tiền cho người giao tiền ship là 50.000 đồng/1 đơn hàng. Bên nhận làm giả
giấy phép lái xe sẽ tạo một App giao hàng nhanh, hướng dẫn V đăng nhập theo đường link để tiện
theo dõi đơn hàng và thanh toán tiền. V thấy từ việc quảng cáo chốt đơn đến việc sản xuất và ship
hàng, thu tiền tạo thành một vòng khép kín và muốn có tiền để chi tiêu cá nhân nên đã nảy sinh và
thực hiện quảng cáo trên mạng với nội dung nhận cấp, đổi giấy phép lái xe các hạng, sau đó đặt
làm giả để thu tiền của người có nhu cầu xin cấp, đổi giấy phép lái xe.
Khoảng tháng 6 năm 2022, V thuê phòng 0620, tòa S, khu đô thị V thuộc xã Đ, huyện G,
thành phố Hà Nội. V rủ Hoàng Văn Đ, sinh năm 1995, Cao Thị H, sinh năm 2003, đều ở xã G, huyện
G, tỉnh Nam Định và Tống Xuân D, sinh năm 2003, ở xã G, huyện G cùng ở phòng V thuê để thực
hiện việc mời chào, chốt đơn cho những người có nhu cầu làm giấy phép lái xe.
V mua sim rác đã được đăng ký kích hoạt để mọi người cùng sử dụng, khi trang quảng cáo
đăng nội dung nhận cấp, đổi giấy phép lái xe thì H, Đ, D đều phải sử dụng điện thoại của mình đăng
nhập theo đường link vào trang quảng cáo đó để cùng theo dõi, nếu có người nhắn tin hỏi thủ tục
thì phải nhắn trả lời và mời chào họ chốt đơn đặt làm giấy phép lái xe. Chi phí đối với giấy phép
lái xe hạng A1, A2 là từ 1.300.000 đồng đến 1.500.000 đồng; hạng B2 trở lên giá từ 3.500.000
đồng đến 6.000.000 đồng; nếu người nào mặc cả thì có thể vẫn nhận giá thấp hơn; nếu người nào
đã nhắn tin để tư vấn mời chào khách rồi thì người khác không được nhắn vào nữa sẽ gây loãng
tin, người còn lại chỉ theo dõi qua điện thoại; nếu khách nào có nghi ngờ, không tin thì lúc này mọi
người có trách nhiệm hỗ trợ nhau bằng cách giả làm cán bộ sở giao thông để gọi điện tư vấn giải
thích thêm. V đề ra các câu nói thường gặp để hướng dẫn D, Đ, H tư vấn trả lời khách (gọi là văn
mẫu) thường có nội dung: “Anh/ chị cần hỗ trợ gì không ạ, bên em nhận làm thủ tục cấp, đổi giấy
phép lái xe trọn gói, bao thi hộ đảm bảo đỗ, được sở G1 cấp giấy phép lái xe thật 100% có mã QR,
có hồ sơ gốc, khoảng 5 đến 7 ngày là xong, khi nào nhận được, kiểm tra đúng mới phải trả tiền.
Trường hợp khách đồng ý làm giấy phép lái xe thì người chốt đơn yêu cầu chụp ảnh chứng
minh thư nhân dân hoặc căn cước công dân, ảnh chân dung và ghi địa chỉ gửi qua zalo hoặc tin
nhắn messenger. D, Đ, H chốt đơn nhận được thông tin sẽ chuyển cho V qua ứng dụng tin nhắn
Telegram. V sẽ chịu trách nhiệm tổng hợp và thuê làm giả hồ sơ, giấy phép lái xe, gửi dịch vụ ship
hàng nhanh và thu tiền của khách qua tài khoản; tiền công V trả cho người đã nhận chốt được đơn
hàng theo mức là: Đơn hàng từ 1.000.000 đồng trở xuống thì được trả 100.000 đồng; đơn hàng từ
1.100.000 đồng đến 2.500.000 đồng thì được trả 200.000 đồng; đơn hàng từ 2.500.000 đồng trở
lên thì được trả 300.000 đồng. V thấy điện thoại Oppo của Đ chạy chậm, nên đã cho Đ một điện
thoại Iphone 7 plus, màu hồng đã qua sử dụng để Đ dùng chốt đơn. Điện thoại Oppo của Đ được
reset lại và cho mọi người sử dụng chung để gọi tư vấn cho khách. Sau thời gian khoảng 1 tuần kể
từ khi khách gửi ảnh sẽ nhận lại được bộ hồ sơ gồm: Giấy phép lái xe mang tên người có tên trong
căn cước công dân; Biên bản tổng hợp kết quả lái xe, biên bản sát hạch thực hành lái xe đường
trường, bài sát hạch lý thuyết, đơn đề nghị, giấy khám sức khỏe; các tài liệu này thì chỉ có giấy
phép lái xe ghi tên, còn lại những giấy tờ khác đều để trống tên.
Phạm Văn V mua qua mạng xã hội 01 tài khoản của ngân hàng M2, đứng tên chủ tài khoản
là “VANG A SUI” với giá 2.000.000 đồng, dùng để nhận và trả tiền mua bán giấy phép lái xe. V sử
dụng điện thoại di động Iphone 11 mầu đỏ, lắp sim thuê bao 0877617047 tạo ra trang nick facebook
các trung tâm sát hạch lái xe như: “Trung Tâm Đào T2 và Sát Hạch Lái Xe N”, “Trung tâm đào tạo
và sát hạch lái xe Cầu G”, “Trung tâm đào tạo và sát hạch lái xe H22”, “Trung Tâm Đ6”, “Trung
Tâm Đào T2 và Sát Hạch L”, kèm các hình ảnh giấy phép lái xe, ảnh thi sát hạch lái xe trên mạng
rồi đăng quảng cáo để giao cho H, Đ, D. người đặt làm giấy phép lái xe ít và do bị quản trị mạng
phát hiện nội dung quảng cáo có dấu hiệu lừa đảo nên các trang này chỉ chạy được khoảng 4 đến 5
ngày là bị khoá và xoá nick; sau mỗi lần bị khoá thì V lại tạo trang nick khác để tiếp tục quảng cáo
nhưng lượng khách chốt đơn vẫn không nhiều. Do vậy, đến cuối tháng 7 năm 2022, V mua qua
mạng xã hội một trang Fanpage và thuê chạy quảng cáo tự động với nội dung là nhận cấp, đổi giấy
phép lái xe, giá thuê chạy quảng cáo là 3.000.000 đồng/1 ngày; trang Fanpage được người bán cài
đặt liên kết với ứng dụng Pancake V2 và tạo ra 4 đến 5 đường link, cho 4 đến 5 người cùng đăng
nhập vào chung một trang quảng cáo để cùng theo dõi lượng người hỏi và nhắn tin chốt đơn với
khách. Sau đó, V hướng dẫn D, H, Đ cài đặt trên điện thoại và cấp cho mỗi người một đường link để
đăng nhập vào trang Fanpage quảng cáo mới và tiếp tục chốt đơn với khách. Từ thời điểm này
lượng khách chốt đơn đặt làm giấy phép lái xe nhiều hơn. H, D và Đ thống nhất với khách và
chuyển thông tin cho V. Vượng đặt làm giấy phép lái xe giả, trả cho khách và thu tiền, trả tiền,
nhận, trả hồ sơ cùng giấy phép lái xe qua shipper là người giao hàng.
Với cách thức và phương pháp như trên, từ tháng 3 năm 2022 đến tháng 9 năm 2022, Phạm
Văn V, Tống Xuân D, Hoàng Văn Đ và Cao Thị H đã thực hiện việc mời chào, chốt đơn cho người
có nhu cầu làm mới, cấp đổi giấy phép lái xe các hạng và thu tiền. Trong đó, H trực tiếp chốt đơn
với 4 người làm hồ sơ cấp, đổi giấy phép lái xe hạng A1 và hạng C, gồm:
- Kiều Thị H1, sinh năm 1985, ở thôn G, xã B, huyện B, thành phố Hà Nội, làm giấy phép lái xe hạng A1, chị H1 đã trả 1.300.000 đồng.
- Trần Văn S, sinh năm 2000, ở thôn X, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, làm giấy phép lái xe hạng C, anh S trả 5.800.000 đồng.
- Nguyễn Phan T3, sinh năm 2001, ở khu A, thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ, làm giấy phép lái xe hạng A1, anh T3 đã trả 1.400.000 đồng, đề nghị trả lại tiền.
- Phan Đức C1, sinh năm 2003, ở khu A, thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ, nhờ Nguyễn Phan T3 đăng ký làm giấy phép lái xe hạng A1, anh C1 đã trả 1.300.000 đồng, đề nghị trả lại tiền.
Sau khi nhận giấy phép lái xe và hồ sơ những người nêu trên kiểm tra giấy phép lái xe thì
phát hiện, hình dấu trên giấy phép lái xe méo mó, chữ ký không phải của người có thẩm quyền
được giao cấp, đổi giấy phép lái xe; không có trung tâm sát hạch lái xe hoặc tra cứu trên cổng
thông tin điện tử của Bộ G2 thì không thấy có số giấy phép lái xe; so sánh với giấy phép lái xe thật
thì họ phát hiện ra giấy phép lái xe là giả. Những người này đều không sử dụng, có người đốt, xé
bỏ, tiêu hủy, làm rơi mất, có người giữ lại và nộp lại cho Cơ quan điều tra.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ tổng số 104 giấy phép lái xe các hạng A1, A2, B2, C,
D và 88 bộ hồ sơ tài liệu sát hạch lái xe, đồng thời đã trưng cầu giám định giấy phép lái xe thu giữ
được.Ngày 09/10/2022 thu: 14 bộ hồ sơ và giấy phép lái xe của: Nguyễn Thanh T4 (hạng B2), còn
lại là A1: Nguyễn Xuân K, Hà Mạnh T5, Hoàng Thị T6, Hoàng Thị T7, Hoàng Thị Kim P, Đặng
Thị Thúy H2, Nguyễn Thị H3, Phan Đức C1, Nguyễn Phan T3, Nguyễn Hoàng Y, Hoàng Kim T8,
Kiều Thị H1, Trịnh Hoàng T9.Các giấy phép lái xe này có nhiều giấy phép trùng ngày cấp và số
trùng nhau, có hình dấu của “Sở giao thông vận tải tỉnh G1”; “Sở giao thông vận tải tỉnh G1”, “Sở
giao thông vận tải TP Hà Nội”.Tại Bản kết luận giám định số 1402/KL-KTHS ngày 12/10/2022
của Phòng K4 Công an tỉnh P kết luận: “Hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “SỞ GIAO THÔNG
VẬN TẢI” trên 12 giấy phép lái xe so với hình dấu tròn màu đỏ có cùng nội dung trên tài liệu mẫu
so sánh không phải do cùng một dấu đóng ra; Chữ ký đứng tên “Trịnh Văn T10” dưới mục “Phó
giám đốc” trên tài liệu mẫu cần giám định được làm giả bằng phương pháp sao chụp in phun màu;
Các lớp in trên 14 “giấy phép lái xe” so với các lớp in trên tài liệu mẫu so sánh không phải do cùng
một phương pháp in ra; 14 giấy phép lái xe tài liệu mẫu cần giám định đều là các giấy phép lái xe
giả".
Ngày 27/10/2022 thu: 19 giấy phép lái xe hạng A1 và 16 bộ hồ sơ sát hạch: của: Nguyễn
Văn N1, Nguyễn Văn T11, Nguyễn Thị H4, Nguyễn Thị H5, Hà Thị Lan A, Hà Công Tuấn A1,
Nguyễn Quang D1, Nguyễn Thị Phương A2, Nguyễn Văn V1, Bùi Thị B, Bùi Thị Đ1, Bùi Thị N2,
Đỗ Hưng H6, Nguyễn Hữu T12, Bùi Thanh N3; T13 được giấy phép lái xe của Trần Văn T14, Trần
Văn H7, Nguyễn Thị Thùy T15, Nguyễn Thị T16 (mất hồ sơ); thu được hồ sơ của Nguyễn Quang
T17 (mất giấy phép).
Các giấy phép lái xe này có nhiều giấy phép trùng ngày cấp và số trùng nhau, có hình dấu
của “Sở giao thông vận tải tỉnh G1” và “Sở giao thông vận tải TP Hà Nội”.
Tại bản kết luận giám định số 1501/KL-KTHS ngày 02/11/2022 của Phòng K4 - Công an
tỉnh P kết luận: Các lớp in trên 19 giấy phép lái xe so với các lớp in trên tài liệu mẫu so sánh là
không phải do cùng một phương pháp in ra; 19 giấy phép lái xe đều là các giấy phép lái xe giả.
Ngày 31/10/2022 thu: 36 giấy phép lái xe các hạng A1, C, B1, B2 và 32 bộ hồ sơ sát hạch:
Bộ hồ sơ và giấy phép lái xe của: Đào Duy K1, Nguyễn Văn N4, Nguyễn Tiến D2, Luân Văn Đ2,
Nguyễn Văn D3, Nguyễn Quốc T18, Trần Văn S (C), Nguyễn Văn K2, Đinh Thị D4, Đinh Thị L,
Đinh Xuân H8, Đinh Việt H9, Đoàn Quốc V2, Ngô Mạnh D5, Phùng Văn H10, Nguyễn Thị N5,
Nông Ngọc H11, Hoàng Thị Minh T19, Đàm Thị Kim O, Trần Văn D6, Nguyễn Văn T20, Phạm Kiều
T21, Đặng Thùy D7 (B2), Lê Thị H12, Đỗ Thị C2, Nguyễn Thái H13 (B1), Lê Thị S1, Nguyễn Thị
S2, Trần Thị H14, Nguyễn Tiến Đ3, Đặng Thị S3; T13 giấy phép lái xe (mất hồ sơ) của: Đỗ Bá Q,
Nguyễn Thị Thúy L1, Đào Thị Phúc L2, Kiều Duy C3, Quàng Xuân Q1; Thu hồ sơ (mất giấy phép
lái xe) của: Nguyễn Thị H15.Các giấy phép lái xe này có nhiều giấy phép trùng ngày cấp và số
trùng nhau, có hình dấu của “Sở giao thông vận tải tỉnh G1”; “Sở G1”; “Sở giao thông vận tải tỉnh
G1”; “Sở giao thông vận tải tỉnh G1”; “Sở giao thông vận tải tỉnh G1”; “Sở giao thông vận tải tỉnh
G1”; “Sở giao thông vận tải tỉnh Cao Bằng”; “Sở giao thông vận tảitỉnh Lai Châu”.
Tại bản kết luận giám định số 1615/KL-KTHS ngày 23/11/2022 của Phòng K4 - Công an
tỉnh P kết luận: Các lớp in trên 36 giấy phép lái xe so với các lớp in trên tài liệu mẫu so sánh là
không phải do cùng một phương pháp in ra; 36 giấy phép lái xe đều là các giấy phép lái xe giả.
Ngày 02/3/2023 thu: 20 giấy phép lái xe các hạng A1, A2, B2, D và 14 bộ hồ sơ sát hạch
lái xe: Nguyễn Thị Y1, Hà Văn T22, Đậu Đức N6, Lương Ma H16, Nguyễn Thị Hồng T23, Đỗ Thị
Thanh T24, Lý Thị D8, Phùng Thị N7, Nguyễn Bá L3, Nguyễn Hữu T25 (B2), Nguyễn Văn X (D),
Nguyễn Hoài T26, Nguyễn Công Đ4; Thu giấy phép, không có hồ sơ: Sơn Thị Sa N8, Phạm Hương
G, Nông Kim T27, Đỗ Thành L4, Tô Thị T28 (A2), Nguyễn Ngọc S4 (A2), Trần Văn T29; Thu hồ
sơ, mất giấy phép lái xe: Lê Văn B1.
Các giấy phép lái xe này có nhiều giấy phép trùng ngày cấp và số trùng nhau, có hình dấu
của “Sở G1”; “Sở giao thông vận tải tỉnh G1”; “Sở giao thông vận tải tỉnh G1”; “Sở giao thông vận
tải tỉnh G1”; “Sở giao thông vận tải tỉnh G1”; “Sở G1”; “Sở giao thông vận tải tỉnh G1”; “Sở giao
thông vận tải tỉnh G1”; “Sở giao thông vận tải tỉnh G1”; “Sở giao thông vận tải tỉnh G1”; “Sở giao
thông vận tải tỉnh G1”; “Sở giao thông vận tải tỉnh G1”; “Sở giao thông vận tải tỉnh G1”; “Sở giao
thông vận tải TP Hải Phòng".
Tại bản kết luận giám định số 359/KL-KTHS ngày 13/3/2023 của Phòng K4 - Công an tỉnh
P kết luận: Các lớp in trên 20 giấy phép lái xe so với các lớp in trên tài liệu mẫu so sánh là không
phải do cùng một phương pháp in ra; 20 giấy phép lái xe đều là các giấy phép lái xe giả.
Ngày 14/3/2023 thu: 15 giấy phép lái xe hạng A1 và 12 bộ hồ sơ sát hạch lái xe: Thu giấy
phép lái xe và hồ sơ gồm: Nguyễn Thị H17, Lê Thị Kim L5, Trần Văn T30, Nguyễn Thị Đ5, Nguyễn
Đình B2, Trần Thị S5, Chang A, Đinh Văn T31, Hoàng Thị C4, Đinh Văn N9, Hà Thị T32, Phạm Thị
Trúc L6; T13 được giấy phép lái xe, không có hồ sơ: Lê Quang Q2, Nguyễn Tú A3, Nguyễn Trịnh
Hoàng T33.
Các giấy phép lái xe này có nhiều giấy phép trùng ngày cấp và số trùng nhau, có hình dấu
của “Sở giao thông vận tải tỉnh G1”; “Sở G1”; “Sở giao thông vận tải tỉnh G1”; “Sở giao thông vận
tải tỉnh G1”; “Sở giao thông vận tải tỉnh Cao Bằng”; “Sở giao thông vận tải tỉnh G1”; “Sở giao
thông vận tải tỉnh G1”; “Sở giao thông vận tải tỉnh G1”; “Sở giao thông vận tải tỉnh G1”; “Sở giao
thông vận tải TP Đà Nẵng”.
Tại bản kết luận giám định số 389/KL-KTHS ngày 20/3/2023 của Phòng K4 Công an tỉnh
P kết luận: Các lớp in trên 15 giấy phép lái xe so với các lớp in trên tài liệu mẫu so sánh là không
phải do cùng một phương pháp in ra; 15 giấy phép lái xe đều là các giấy phép lái xe giả.
Một bộ hồ sơ sát hạch lái xe hạng A1, A2 gồm: 01 biên bản tổng hợp kết quả lái xe, 01
biên bản sát hạch lái xe đường trường, 01 bài sát hạch lý thuyết, 01 đơn đề nghị học sát hạch đề
nghị cấp giấy phép lái xe, 01 giấy khám sức khỏe của người lái xe; Một bộ hồ sơ sát hạch lái xe
hạng B1, B2, C, D gồm: 01 biên bản tổng hợp kết quả lái xe, 01 biên bản sát hạch lái xe đường
trường, 01 bài sát hạch lý thuyết, 01 đơn đề nghị học sát hạch đề nghị cấp giấy phép lái xe, 01 giấy
khám sức khỏe của người lái xe; 01 chứng chỉ sơ cấp.
Tài liệu giấy khám sức khỏe của hồ sơ thu giữ được thể hiện hình dấu “Giám định y khoa”
do bác sỹ Vương Văn H18, Dương Xuân M và Nguyễn Văn T34 của Bệnh viện G3 ký xác nhận. Cơ
quan điều tra đã xác minh tại Bệnh viện G3 xác định: Bệnh viện G3 không quản lý, không sử dụng
và không có con dấu có hình dấu “Giám định y khoa”; không có cán bộ, bác sỹ nào có tên Vương
Văn H18, Dương Xuân M và Nguyễn Văn T34.
Tài liệu chứng chỉ sơ cấp và biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe thể hiện có hình dấu
của Trung tâm dạy nghề đào tạo và sát hạch lái xe trực thuộc trường Đại học phòng cháy chữa
cháy - Bộ C6. Xác minh tại Trung tâm D13 trực thuộc trường Đại học phòng cháy chữa cháy - Bộ
C6 xác định: Ngày 14/10/1999, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 203/1999/QĐ-TTg về việc
thành lập “Trường Đại học phòng cháy chữa cháy” trên cơ sở Trường Cao đẳng Phòng cháy chữa
cháy. Hiện không có trường Cao đẳng Phòng cháy chữa cháy, cũng không có mẫu dấu có hình
“Trung tâm dạy nghề đào tạo và sát hạch lái xe Trường Cao đẳng phòng cháy chữa cháy; không có
cán bộ nào có tên Nguyễn Trường S6, Nguyễn Hồng D9, Phan Văn D10, Phùng Năm C5, Phạm
Thanh H19, Nguyễn Đức K3, Đoàn Minh P1, Đoàn Quốc B3, Nguyễn Đức H20, Trần Anh D11.
Tổng số Phạm Văn V nhận đơn của Đ, D và H12 và đặt làm giả giấy phép lái xe là 198
trường hợp, với số tiền là 283.500.000 đồng, nhưng chỉ xác định được 156 trường hợp với số tiền
221.200.000 đồng. Trong đó, Cao Thị H đã chốt đơn được 4 trường hợp làm giấy phép lái xe với
tổng số tiền là 9.800.000 đồng; Cao Thị H được V chia cho số tiền 900.000 đồng.
Phạm Văn V rủ Tống Xuân D, Cao Thị H và Hoàng Văn Đ cùng làm tìm khách chốt đơn đặt
làm giấy phép lái xe để kiếm tiền chi tiêu cá nhân; V cài đặt và mua sẵn sim, hướng dẫn D, Đ và H
thực hiện việc chốt đơn; mặc dù V đã chia cho mỗi người một đường link để tự chốt đơn, ai nhận
được khách làm nhiều giấy tờ sẽ được chia theo từng mức tiền như đã nêu trên nhưng V đã lập ra
một nhóm Telegram “Quảng cáo ken ken”, “Cây thành công”, “Cây sai” do V làm trưởng nhóm,
để cả 3 bị can vào trao đổi thông tin, thống nhất về việc chốt đơn, hủy đơn, B5, báo lỗi, không
được giành khách của nhau; Trong quá trình làm, nếu có khách nghi ngờ thì một trong các bị can
sẽ tự nhận là cán bộ Sở giao thông để nói chuyện và củng cố niềm tin. Do vậy, cả Hoàng Văn Đ,
Tống Xuân D và Cao Thị H đều đồng phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự với Phạm Văn V về
hành vi làm giả 104 giấy phép lái xe và lừa đảo chiếm đoạt số tiền 221.200.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn V, Tống Xuân D, Hoàng Văn Đ, Cao Thị H và Nguyễn Văn
N1 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên; Ngoài ra, Phạm Văn V
còn có ông nội là Phạm Văn D12 được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất. Cao Thị H
là phụ nữ có thai; V, Đ, H, D phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản
với tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên.
Quá trình điều tra xác định: Đối với sim điện thoại các bị cáo sử dụng để thực hiện tội
phạm đều là sim không đăng ký chủ thuê bao, Phạm Văn V mua nhiều sim, kích hoạt sẵn tài khoản
và để tại phòng, D, Đ và H chủ động lấy sim để liên lạc, chốt đơn làm giấy phép lái xe.
Về tài khoản ngân hàng: Toàn bộ tiền được nhận và phải trả cho việc làm giấy phép lái xe,
hồ sơ sát hạch lái xe đều do V thu, chuyển qua người giao hàng và người giao hàng sẽ chuyển
khoản vào tài khoản ngân hàng M2, đứng tên chủ tài khoản là “VANG A SUI” cho V. V sử dụng
tài khoản này để chuyển tiền cho người mà V đặt làm giấy tờ có T1 là “Viu”. Tài khoản tại Ngân
hàng M2 là V mua qua mạng xã hội, Cơ quan điều tra xác minh anh Vàng A S7 - sinh năm 1996,
ở bản T, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu, là người đứng tên trên tài khoản nhưng anh S7 không quen
biết Phạm Văn V, không đăng ký mở và mua bán tài khoản ngân hàng bao giờ nên không có căn cứ
xử lý; cũng không xác định được người đã bán tài khoản cho V.
Đối với người sử dụng Telegram có tài khoản là “Viu” để nhận thông tin của V và làm giả
giấy phép lái xe và người mua bán tài khoản trang F, người được thuê chạy quảng cáo tự động:
Vượng đều liên lạc giao dịch với nhau qua mạng, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh
nhưng chưa xác định được địa chỉ và con người cụ thể nên khi nào làm rõ xử lý sau.
Đối với Trần Nhung H21, sinh năm 2005, ở xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình là người ở cùng
Phòng 0620 với V, D, Đ và H, nhưng H21 là bạn gái của Tống Xuân D, H21 mới đến chưa biết làm
gì, không liên quan và không biết việc phạm tội nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với những người đăng ký hộ, nhưng do họ hàng nhờ, những người này chỉ đăng ký
làm, gửi ảnh thông tin hộ, họ không nhận hồ sơ hoặc là người phải trả tiền, không biết là giấy phép
lái xe giả nên không có căn cứ để xử lý về hành vi đồng phạm.
Đối với 156 người đã đặt làm giấy phép lái xe và trả tiền, sau khi nhận được giấy phép lái
xe thì chưa sử dụng và đã nhận thức, phát hiện là giấy tờ giả, nên không có căn cứ để xử lý những
người này.
Về trách nhiệm dân sự:
Những người yêu cầu trả lại tiền:
Tống Xuân D chốt đơn nên những người yêu cầu D trả lại: Anh Nguyễn Thái H13 yêu cầu
trả lại 5.000.000 đồng; Nguyễn Thanh T4 số tiền 2.000.000 đồng; Nguyễn Xuân K số tiền 1.300.000
đồng; Hoàng Thị T6 số tiền 1.000.000 đồng; Trịnh Hoàng T9 và vợ là Nguyễn Thị Hằng số tiền
2.200.000 đồng; Đặng Thị Thúy H2 số tiền 1.200.000 đồng; Hà Mạnh T5 số tiền 1.000.000 đồng;
Hà Thị T32 số tiền 1.300.000 đồng.
Hoàng Văn Đ chốt đơn: Hoàng Thị Kim P số tiền 1.300.000 đồng; Hoàng Thị Y2 số tiền
1.300.000 đồng; Hoàng Kim T8 số tiền 1.300.000 đồng.
Cao Thị H chốt đơn: Nguyễn Phan T3 số tiền 1.400.000 đồng; Phan Đức C1 số tiền 1.300.000
đồng.
Còn lại các trường hợp khác không yêu cầu, đề nghị gì.
Về vật chứng, đồ vật, tài sản, tài liệu thu giữ:
- Thu của Tống Xuân D: 01 điện thoại di động IPHONE 11 PROMAX, màu đen, lắp sim 0356648761; IMEI 1: 353898103581989, IMEI 2:353898103472460;
- Thu của Hoàng Văn Đ: 01 điện thoại di động OPPO màu vàng, lắp 02 sim nhưng không kiểm tra được số, IMEI 1: 862988034362452, IMEI 2: 862988034362445; 01 điện thoại di động IPHONE 7 PLUS màu hồng, lắp sim 0879611707, IMEI: 359153070027572.
- Thu của Cao Thị H: 01 điện thoại di động IPHONE XS Max màu vàng, lắp sim 0878.228.335; IMEI 1: 357300090299853, IMEI 2:357300091010184.
- Thu của Phạm Văn V: 01 điện thoại di động IPHONE 12 Pro Max màu xanh, lắp sim 0907138045, IMEI 1: 357061225008466, IMEI 2: 357061225148783; 01 điện thoại IPHONE 11 màu đỏ, lắp sim: 0877617047, IMEI 1: 353989100798251, IMEI 2: 353989100797882; 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen, không lắp sim, IMEI 1: 353147110115989, IMEI 2:353147115115984.
- Thu của Nguyễn Văn N1: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu UMIDIGI màu đen viền trắng, lắp hai sim: 0988665366, 0984399915; IMEI 1: 358660281803493/78, IMEI 2: 358660281803501/78.
Các bị cáo sử dụng điện thoại, sim bị thu giữ để thực hiện tội phạm.
- Thu của Trần Nhung H21: 01 điện thoại di động IPHONE 7 PLUS màu đen gắn sim số:
0879.560.394 có IMEI 35669308094687. Cơ quan điều tra xác định không liên quan đến vụ án
nên đã trả lại chị H21, nhận lại và không có yêu cầu gì.
Thu 104 giấy phép lái xe các hạng A1, A2, B2, C, D và 88 bộ hồ sơ tài liệu sát hạch lái xe.
- Chị Phạm Thị B4, sinh năm 1983, ở xã G huyện G, tỉnh Nam Định, là mẹ đẻ của Tống
Xuân D, tự nguyện nộp 10.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho D.
- Chị Phạm Thu T35, sinh năm 1992, ở khu đô thị T, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội, là chị
gái của Phạm Văn V, tự nguyện nộp 20.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho Phạm Văn V; nộp
10.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho Hoàng Văn Đ (Đ là anh họ của Phạm Văn V và Phạm
Thu T35).
- Nguyễn Văn N1: Nộp tiền thu lời bất chính là 3.600.000 đồng.
* Về điều kiện kinh tế: Các bị cáo đều không có tài sản gì riêng có giá trị ngoài những đồ
dùng sinh hoạt thiết yếu.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2023/HS-ST ngày 17/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ quyết định:
Tuyên bố bị cáo Cao Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả tài liệu
của cơ quan, tổ chức”.
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm a, b khoản 3 Điều 341; điểm s, n khoản 1
Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 (đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”); Điều 55; Điều 38 của
Bộ luật Hình sự đối với Cao Thị H.
Xử phạt:
Bị cáo Cao Thị H 07 (B1) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (Ba)
năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc
bị cáo phải chấp hành 10 (M1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo
khác trong vụ án, quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy
định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/8/2023, bị cáo Tống Xuân D kháng cáo kêu oan về tội
“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và xin giảm hình phạt về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”;
ngày 24/8/2023, bị cáo Cao Thị H kháng cáo xin giảm hình phạt.
Ngày 25/9/2023, bị cáo Tống Xuân D có văn bản xin rút toàn bộ kháng cáo. Ngày
17/11/2023, Tòa án nhân dân cấp cao đã ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng
cáo của bị cáo Tống Xuân D.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Cao Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt và
thừa nhận hành vi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Làm giả tài liệu của cơ
quan, tổ chức” như trong quá trình điều tra bị cáo đã khai và tại phiên tòa sơ thẩm,
bản án sơ thẩm đã nêu. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174; “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ
quan, tổ chức” theo điểm a, b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng
pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Tóm tắt nội dung vụ án, quyết
định của bản án sơ thẩm, kháng cáo của bị cáo. Việc vắng mặt của bị cáo không gây trở
ngại cho việc xét xử phúc thẩm. Sau khi phân tích, đánh giá hành vi của bị cáo, nội dung kháng
cáo Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội thấy có đủ căn cứ xác định Cao Thị H phạm tội “Lừa
đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” là có căn cứ, đúng
pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay không có tình tiết nào mới giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị
cáo. Do đó, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo, giữ nguyên
bản án hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng
tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Cao Thị H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, xét
thấy sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử phúc thẩm, việc xét xử cũng không
theo hướng bất lợi cho bị cáo. Căn cứ Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến
hành xét xử vắng mặt bị cáo. Bị cáo H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện như bản án
sơ thẩm đã nêu, xin giảm nhẹ hình phạt. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai của bị cáo trong
quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan,
nhân chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ
kết luận: Từ tháng 3/2022 đến tháng 9/2022, Phạm Văn V, Tống Xuân D, Hoàng Văn Đ và Cao Thị
H đã dùng thủ đoạn là sử dụng mạng xã hội để tạo ra trang Facebook các trung tâm sát hạch lái xe
như: “Trung Tâm Đào T2 và Sát Hạch Lái Xe N”, “Trung tâm đào tạo và sát hạch lái xe Cầu G”,
“Trung tâm đào tạo và sát hạch lái xe H22”, “Trung Tâm Đ6”, “Trung Tâm Đào T2 và Sát Hạch L”,
kèm các hình ảnh trung tâm sát hạch lái xe, giấy phép lái xe, ảnh thi sát hạch lái xe trên mạng rồi
đăng quảng cáo, cam kết về việc thi hộ, đảm bảo giấy phép lái xe là thật, trên giấy phép lái xe có
mã QR thể hiện thông tin của giấy phép lái xe như nơi cấp, người được cấp giấy phép lái xe để cho
người nhận kiểm tra khi nhận giấy phép lái xe xác nhận là đúng thì mới thanh toán tiền chi phí làm
giấy phép lái xe thông qua dịch vụ giao hàng để nhận làm cho 156 người có nhu cầu đổi, cấp mới
giấy phép lái xe các hạng. Sau đó, V thuê người làm giả hồ sơ, giấy phép lái xe trên cơ sở thông tin
từ ảnh chụp căn cước công dân, chứng minh thư nhân dân, ảnh chân dung mà những người gửi
cho D, Đ và H. Sau khi 156 người này nhận được hồ sơ và giấy phép lái xe đã trả số tiền 221.200.000
đồng thì V chia cho D số tiền 34.600.000 đồng, chia cho Đ số tiền 2.900.000 đồng, chia cho H
900.000 đồng. Số tiền còn lại V trả chi phí mua trang quảng cáo, thuê chạy quảng cáo, chi phí sinh
hoạt, thuê nhà của cả 4 bị cáo và chi tiêu cá nhân hết. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo
H theo điểm a khoản 3 Điều 174 và điểm a, b khoản 3, Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ,
đúng người, đúng tội, không oan.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo H, Hội đồng xét xử thấy: Bị
cáo nhận thức rõ về hành vi bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng do muốn chiếm đoạt tiền
của bị hại nên đã cùng các bị cáo khác đưa ra thông tin gian dối, sai sự thật và thuê làm giấy tờ giả
của cơ quan, tổ chức nhằm để người bị hại tin tưởng, trả tiền. V, Đ, D và H đồng phạm với nhau
việc sử dụng 104 giấy phép lái xe giả để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 221.200.000
đồng. Phạm Văn V phải chịu trách nhiệm với vai trò chủ mưu, rủ rê; Hoàng Văn Đ, Tống Xuân D
và Cao Thị H chịu trách nhiệm với vai trò là người thực hành. Số tiền các bị cáo chiếm đoạt lớn,
không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật
bảo vệ, xâm phạm trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu tại địa phương, ảnh hưởng đến danh dự uy
tín của cán bộ và cơ quan Nhà nước. Trong vụ án này bị cáo H “phạm tội hai lần trở lên” đây là
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và có thai, đây là các
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật
Hình sự.
Toà án cấp sơ thẩm khi quyết định hình phạt đánh giá đúng tính chất nguy hiểm hành vi
phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, vì vậy xử phạt bị cáo Cao Thị H 07 (bảy) năm tù về tội
“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ
chức” là phù hợp quy định của pháp luật và chính sách khoan hồng của Nhà nước. Tại cấp phúc
thẩm bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Tại phiên tòa, quan điểm
của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo
của bị cáo Cao Thị H, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm là phù hợp.
Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị
cáo Cao Thị H, cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có
hiệu lực pháp luật.
[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Cao Thị H phải chịu án phí
hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Cao Thị H; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2023/HSST ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm a, b khoản 3 Điều 341; điểm s, n khoản 1 Điều
51; điểm g khoản 1 Điều 52 (đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”); Điều 55; Điều 38 của Bộ
luật Hình sự.
Xử phạt:
Bị cáo Cao Thị H 07 (B1) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (Ba)
năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc
bị cáo phải chấp hành 10 (M1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo Cao Thị H đi chấp hành án
phạt tù.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Cao Thị H.
- Về án phí: Bị cáo Cao Thị H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu
lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Cục THADS tỉnh Phú Thọ; - Bị cáo (theo đ/c); - Lưu HS; HСТР. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Điều Văn Hằng |
Bản án số 25/2024/HS-PT ngày 11/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 25/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kc
