TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10-6-2024
V/v “tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Mai Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn La
- Ông Đồng Văn Diện
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Tĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xét xử sơ thẩm vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 45/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 48/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Dương Thị Thúy N, sinh năm 1980.
Đăng ký HKTT: K, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: F, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Anh Ninh Văn Ư, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
(Các đương sự đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Dương Thị Thúy N trình bày: Chị kết hôn với anh Ninh Văn Ư vào ngày 28/12/2004, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn, hai bên được tự do, tự nguyện tìm hiểu và có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Cưới nhau xong vợ chồng chị vào trong tỉnh Bình Dương sinh sống và làm ăn.
Quá trình chung sống, vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2010 thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, quan điểm sống khác nhau, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, to tiếng, xúc phạm nhau, hai bên không còn tôn trọng nhau, vợ chồng không bảo ban được nhau, mỗi người làm một ý, tình cảm vợ chồng dần trở nên lạnh nhạt. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên từ năm 2011, từ đó cho đến nay vợ chồng sống ly thân nhau, chấm dứt mọi quan hệ vợ chồng. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Ninh Văn Ư.
- Về con chung: Chị và anh Ư có 01 con chung là Ninh Dương Nữ Thị Anh T, sinh ngày 02/7/2005. Hiện con chung khỏe mạnh, phát triển bình thường, đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung vợ chồng.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Ninh Văn Ư đã được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng là Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng anh Ư không đến làm việc, không gửi văn bản nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị N.
* Quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành xác minh làm rõ tình trạng hôn nhân của chị N, anh Ư; xác minh về nơi cư trú của anh Ư xác định anh Ư thi thoảng về nhà và vẫn có hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã Đ, huyện L.
* Tại phiên toà:
- Nguyên đơn chị Dương Thị Thúy N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Ninh Văn Ư vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) công bố lời khai, tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX: Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.Cho chị N được ly hôn anh Ư; Về con chung, về tài sản chung, công nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết. Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.
Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi thẩm tra các chứng cứ tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng:
[1]. Thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Dương Thị Thúy N làm đơn khởi kiện ly hôn anh Ninh Văn Ư, yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lạng Giang là nơi bị đơn cư trú giải quyết là đúng quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị N khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Ư. Căn cứ Điều 51, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Lạng Giang thụ lý, giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn”.
[3] Sự vắng mặt của các đương sự: Chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Ư đã được Toà án triệu tập lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử theo thủ tục vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về nội dung:
[4]. Về quan hệ hôn nhân:
Chị N và anh Ư đăng ký kết hôn ngày 28/12/2004 tại UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên xác định là hôn nhân giữa chị N và anh Ư là hợp pháp.
Quá trình chung sống, theo chị N trình bày vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2010 do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau, vợ chồng sống ly thân từ năm 2011 cho tới nay, chị xác định không còn tình cảm với anh Ư. Anh Ư được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không trình bày ý kiến, không thể hiện mong muốn vợ chồng được hoà giải đoàn tụ. Bố đẻ của anh Ư là ông Ninh Văn T1 xác định sự việc chị N và anh Ư sống ly thân từ năm 2011. HĐXX thấy, chị N và anh Ư đã sống ly thân suốt một thời gian dài. Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình để xử cho chị N được ly hôn anh Ư.
[5] Về quan hệ con chung: Chị N và anh Ư có 01 con chung là Ninh Dương Nữ Thị Anh T, sinh ngày 02/7/2005. Do con chung đã trưởng thành trên 18 tuổi, hiện khoẻ mạnh bình thường, chị N không yêu cầu giải quyết về nuôi con chung nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị N không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử :
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Dương Thị Thúy N ly hôn anh Ninh Văn Ư.
2. Về quan hệ nuôi con chung: Không xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung, công nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Chị Dương Thị Thúy N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007345 ngày 23/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Xác nhận chị N đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Mai Lan |
Bản án số 25/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 25/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
