Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/DS - PT

Ngày 10 – 01 – 2024

Về việc tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Lê Văn Phận

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Chí Đức

Ông Lê Minh Đạt

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Mai – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Phấn – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 310/2023/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do Bản án dân sự sơ thẩm số 76/2023/DS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4004/2023/QĐXXPT-DS ngày 27 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Hữu N, sinh năm 1967

Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm 1948 (Tại văn bản ủy quyền ngày 18/11/2022); có mặt.

Địa chỉ: Số A H, khu phố E, phường A, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Đắc Phúc Như C, sinh năm 1976; có mặt.

Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Lê Kim Trường S - Văn phòng Luật sư Lê Vũ Hồng H thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; có mặt.

Địa chỉ: Số E, ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

- Người kháng cáo: Ông Trần Hữu N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm,

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Trần Hữu N và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Văn L trình bày:

Ông N là chủ sử dụng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 220, tờ bản đồ số 11 diện tích 3.061 m² đất trồng cây lâu năm tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre do Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 12/5/2011.

Ngày 01/4/2022 ông N tiến hành khảo sát đo đạc lại diện tích đất, mục đích là xác định ranh đất để làm hàng rào thì phát hiện ông Nguyễn Đắc Phúc N1 C chiếm giữ, sử dụng một phần diện tích thửa đất số 220 tờ bản đồ số 11 diện tích 186,7 m² và đang trồng các loại cây như dừa, chanh, bưởi...

Ngày 05/4/2022 ông N làm đơn gửi Ủy ban nhân dân xã A yêu cầu giải quyết buộc ông Nguyễn Đắc Phúc N1 C trả lại cho ông N diện tích 186,7 m² đất mà ông C đang chiếm giữ, sử dụng trái phép. Đến ngày 28/4/2022 Ủy ban nhân dân xã A tổ chức nhưng không thành, và ông N làm hồ sơ khởi kiện đến Tòa án.

Quá trình thu thập hồ sơ để khởi kiện ông N mới biết rằng năm 2017 do ông N không có ở địa phương (du lịch dài hạn ở Mỹ), ông C lợi dụng cơ hội ấy, ông C lập hồ sơ tách thửa đất 220 tờ bản đồ số 11, diện tích 3.061,4 m² của ông N ra thành 02 thửa gồm: Thửa 357 tờ bản đồ 11, diện tích 2.874,8 m² và thửa số 358, tờ bản đồ 11, diện tích 186,7 m², thửa này ghi ông Nguyễn Đắt Đ đứng tên (ông Nguyễn Đắt Đ là cha ông C) và đến ngày 21/9/2017 Sở T2 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 358, tờ bản đồ 11, diện tích 186,7 m² nêu trên cho ông Nguyễn Đắc Phúc Như C (con ông Đ). Ông N cho rằng ông C làm giả hồ sơ tách thửa đất số 220 là vì giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất này (bản chính) ông N đang giữ, trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này không có nội dung ghi chú nào thể hiện sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông N tặng cho hay mua bán một phần thửa đất này với ông C.

Ông N khẳng định thửa đất số 358, tờ bản đồ 11, diện tích 186,7 m² mà Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T2 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C ngày 21/9/2017 là đất của ông N chứ không phải đất của ông C, vì các lý do sau:

Thứ nhất: Tại “đơn xin xác nhận về việc đo đạc nhập thửa” đề ngày 08/02/2017 có nội dung thửa đất 640, 640 của ông Nguyễn Đắc Đ1 nhập với một phần thửa 220 của ông Trần Hữu N, có chữ ký của ông C nhưng không có chữ ký của ông Đ1 và của ông N.

Thứ 2: Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 08/02/2017 đã ghi chú sử dụng đất kiền kề là ông Trần Hữu N nhưng lại ghi chữ T (con ông N), trong khi ông T đã có ý kiến gửi cho Tòa án là không có ký tên trong biên bản.

Thứ 3: Tại biên bản đo đạc sửa sai theo hiện trạng thửa đất ngày 24/4/2017 có ghi chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Đắc Đ1 đối với thửa 640, 641 và các chủ sử dụng liền kề là bà Trần Thị Đ2 và bà Trần Thị H1; giáp ranh đất ông Đ1 có ông N nhưng trong biên bản này không có chữ ký ông N.

Thứ 4: Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 24/4/2017 (BL 58) ghi thửa đất số 358 do ông Nguyễn Đắc Đ1 là chủ sử dụng nhưng thực tế là thửa đất này nằm trong thửa 220 là của ông N và họa đồ hiện trạng sử dụng đất do Văn Phòng đất cung cấp ngày 19/9/2022 thì thửa đất 358 ghi tên chủ sử dụng là ông Nguyễn Đắc Phúc N1 C nhưng không ghi thửa 357 là của ai.

Thứ 5: Trích lục bản đồ địa chính ngày 12/5/2017 ghi tên người sử dụng đất thửa 220 là ông N + ông Đ1 (cha ông C) trong khi đó giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 220 nêu trên được Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông N ngày 12/5/2011.

Thứ 6: Trích lục bản đồ địa chính ngày 12/5/2017 chủ sử dụng đất thửa 246 là ông Nguyễn Đắc Đ1.

Thứ 7: Phiếu ghi ý kiến kiểm tra ngày 22/5/2017 do cán bộ đo đạc thuộc tổ đăng ký đất đai Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C có nội dung ghi chú về diễn biến quá trình biến động tách thửa 220 tờ 11 xã An Khánh thành thửa 357 và 358; còn thửa 246 tờ 11 thì thành các thửa 359, 360, 361, 362. Trong khi đó thửa 220 tờ bản đồ 11 người đứng tên là ông Trần Hữu N, ông N không có yêu cầu tách thửa mà lại tổ chức tách thửa 220 thành thửa 357 và 358 và cấp thửa 358 cho ông Nguyễn Đắc Phúc Như C.

Nay ông N yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Nguyễn Đắc Phúc Như C di dời các loại cây trồng trên đất (ông N không đồng ý hỗ trợ chi phí di dời) và giao trả cho ông N thửa đất số 358, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre mà Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T2 cấp cho ông Nguyễn Đắc Phúc N1 Cường ngày 21/9/2017 (Theo họa đồ hiện trạng sử dụng đất là gồm các thửa 358-2; 358-3; 358-4; 358-5; 358-6 thuộc một phần thửa 358, tờ bản đồ 11); đồng thời kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T2 điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ký hiệu CL039910 số vào sổ cấp GCN CS08 cấp cho ông Nguyễn Đắc Phúc N1 Cường ngày 21/9/2017 sang cho ông Trần Hữu N.

Ông N đồng ý với kết quả đo đạc, thẩm định định giá của Tòa án, không có tranh chấp ranh với thửa đất 357, các thửa đất liền kề khác và không có yêu cầu gì khác.

Trong quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn là ông Nguyễn Đắc Phúc Như C trình bày như sau:

Ông C không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì các lý do sau:

Thứ nhất: Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp số 358, tờ bản đồ số 11, diện tích 186,7 m² tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre có nguồn gốc của cụ Nguyễn Văn C1 (là ông nội ông C) canh tác quản lý sử dụng trước năm 1975. Đến năm 1975, cụ C1 cho con là ông Nguyễn Đắc Đ1 (cha của ông C) canh tác quản lý sử dụng, sau đó ông Đ1 đăng ký, kê khai và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 641, tờ bản đồ số 1 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho hộ ông Nguyễn Đắc Đ1 ngày 06/6/1997. Tại Công văn số: 865/CNCT-ĐKĐĐ ngày 14/7/2023 xác định: Thửa đất số 358, tờ bản đồ số 11, diện tích 186,7 m² tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T2 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Nguyễn Đắc Phúc N1 Cường ngày 21/9/2017. Nguồn gốc nhận thừa kế từ ông Nguyễn Đắc Đ1 đối với một phần thửa đất số 641, tờ bản đồ số 1 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho hộ ông Nguyễn Đắc Đ1 ngày 06/6/1997.

Thứ 2: Về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Đắc Phúc N1 Cường đối với thửa đất số 358, tờ bản đồ số 11, diện tích 186,7 m² tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre là đúng quy định pháp luật vì gia đình ông C và ông C đã sử dụng phần đất này qua nhiều thế hệ, có xác nhận của những người dân ở địa phương, người làm chứng tại Tòa là ông Trương Văn Đ3; Công văn 865/CNCT-ĐKĐĐ ngày 14/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cũng đã xác định: Tại mục 2: “Thửa đất số 358, tờ bản đồ số 11, diện tích 186,7 m² được Chi nhánh đo đạc hiện trạng xác nhận thuộc một phần thửa đất số 641, tờ bản đồ số 1 của ông Nguyễn Đắc Đ1”. Tại mục 3: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 641, tờ bản đồ số 1 của hộ Nguyễn Đắc Đ1 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 06/6/1997. Trên cơ sở Giấy chứng nhận của hộ ông Nguyễn Đắc Đ1, kết quả đo đạc hiện trạng ngày 22/5/2017 và Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế lập ngày 22/5/2017 thực hiện cấp Giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Đắc Phúc N1 Cường ngày 21/9/2017”.

Thứ ba: Về trình tự thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Hữu N đối với thửa đất số 220, tờ bản đồ số 11, diện tích 3.061,4 m² tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre là không đúng thực tế sử dụng đất của ông N, vì ông N đề nghị cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cấp đổi theo số liệu đo chính quy, ông N trình bày năm 2007 khi Đoàn 301 tiến hành đo đạc ông và ông Nguyễn Đắc Đ1, cùng các hộ giáp ranh có thỏa thuận hiệp thương ranh là không có cơ sở vì ông Nguyễn Đắc Đ1 đã chết ngày 09/12/1999 và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C đã có công văn xác định: “không có biên bản hiệp thương ranh của đoàn 301 khi tiến hành đo đạc năm 2007 các hộ giáp ranh với Trần Hữu N”. Đồng thời tại biên bản hòa giải ngày 25/7/2023, người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn cũng thừa nhận: Từ lúc được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 220, tờ bản đồ số 11, diện tích 3.061,4 m² tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre thì ông N không canh tác quản lý sử dụng đất trong khi tại phiên tòa sơ thẩm ông Trần Hữu N cho rằng ông có canh tác quản lý sử dụng phần đất tranh chấp là trồng chuối nhưng ông không có chứng cứ chứng minh và mâu thuẫn với lời trình bày trước đó của người đại diện theo ủy quyền.

Do đó, ông Trần Hữu N căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 12/5/2011 đối với thửa đất số 220, tờ bản đồ số 11, diện tích 3.061,4 m² tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre để khởi kiện đòi lại thửa đất số 358, tờ bản đồ số 11, diện tích 186,7 m² là không có cơ sở.

Trường hợp Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông C đề nghị ông N bồi hoàn giá trị cây trồng theo giá của Hội đồng định giá xác định. Kết quả đo đạc, thẩm định, định giá tài sản của Tòa án ông C thống nhất, không có yêu cầu gì khác trong vụ án này.

Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đưa vụ án ra xét xử với quyết định:

Căn cứ Điều 26, 35, 147, 157, 165, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 100, 166, 170, 203 Luật Đất đai năm 2013;

Áp dụng Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Hữu N về việc yêu cầu ông Nguyễn Đắc Phúc Như C di dời các loại cây trồng trên đất và giao trả cho ông N phần đất thuộc các thửa 358-2; 358-3; 358-4; 358-5; 358-6 (thuộc 1 phần thửa 358, tờ bản đồ 11) tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Ông Nguyễn Đắc Phúc Như C được trọn quyền sử dụng đối với phần đất thuộc các thửa 358-2; 358-3; 358-4; 358-5; 358-6 thuộc một phần thửa 358 tờ bản đồ 11 tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre.

(Có họa đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo)

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí thu thập chứng cứ, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 13 tháng 9 năm 2023, ông Trần Hữu N kháng cáo.

Theo đơn kháng cáo của ông Trần Hữu N và tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Hữu N giữ nguyên nội dung kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Ông N kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, buộc ông Nguyễn Đắc Phúc Như C trả lại cho ông phần đất có diện tích 186,7 m², thuộc thửa đất số 358, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Nguyễn Đắc Phúc Như C không đồng ý nội dung kháng cáo của ông Trần Hữu N, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày quan điểm bảo vệ: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Hữu N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phát biểu: Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Hữu N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng. Xét kháng cáo của ông Trần Hữu N và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre. Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Ông Trần Hữu N kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về nguồn gốc đất: Theo lời trình bày của nguyên đơn cho rằng phần đất tranh chấp thửa đất số 358, tờ bản đồ 11, diện tích 186,7 m² có nguồn gốc từ thửa đất số 220, tờ bản đồ số 11 diện tích 3.061 m² đất trồng cây lâu năm tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre do Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 12/5/2011 cho ông Trần Hữu N. Phía bị đơn thì cho rằng thửa đất số 358, tờ bản đồ 11, diện tích 186,7 m² nằm trong phần đất ông Nguyễn Đắt Đ đứng tên là thửa 641 (tờ bản đồ số 01) cấp vào năm 1997, năm 2017 ông C làm thủ tục để nhận thừa kế đứng tên cho đến nay. Quá trình xác minh của Tòa án thể hiện nguồn gốc phần đất tranh chấp là của gia đình ông C để lại cho ông C.

[2.2] Về quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N nhận thấy: Ông N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 25/4/1994 thửa 615 diện tích 300 m² và thửa 616 diện tích 10.650 m² (tổng diện tích cấp lần đầu là 10.950 m²). Năm 2011 ông N có đơn xin đề nghị cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo số liệu đo chính quy. Căn cứ kết quả trích lục họa đồ vị trí thửa đất ngày 03/12/2010, ngày 12/5/2011 Ủy ban nhân dân huyện C cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N từ thửa 615, 616 thành thửa 220 diện tích 3.061,4 m² và thửa 192 diện tích 8.137,6 m² (tổng diện tích sau khi cấp đổi là 11.199 m², tăng 249 m² so với diện tích cấp lần đầu). Hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện ông N không có hiệp thương ranh với các chủ giáp ranh liền kề. Theo họa đồ hiện trạng sử dụng đất, nếu không tính phần đất tranh chấp thì ông N vẫn đang sử dụng thửa 357, 192, có tổng diện tích là 11.012,3 m² (nhiều hơn diện tích cấp lần đầu).

Về quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C nhận thấy: ông Nguyễn Đắt Đ (cha ông C) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 640, 641 tổng diện tích là 6.000 m², sau khi đo đạc chính quy nó là một phần thửa 220 tờ bản đồ 11, diện tích 186,7 m² và thửa 246, tờ bản đồ 11 diện tích là 7.648,3 m². Đến ngày 23/4/2017, thì một phần thửa đất 220 (tờ bản đồ 11) tách thành thửa 358 tờ bản đồ 11 và thửa đất 246 tờ bản đồ 11 tách thành các thửa 359, 360, 361, 362 cùng tờ bản đồ 11. Tại biên bản xác minh tăng diện tích đất ngày 08/6/2017, thể hiện phần đất của ông Đ có diện tích tích tăng là do đo đạc thủ công năm 1997 tính toán có sự sai lệch diện tích chứ các hộ liền kề không có mua bán hay trao đổi gì với nhau, hiện tại thửa đất trên ổn định không có đơn khiếu nại tranh chấp, có cấm trụ ranh cụ thể. Hình thể thửa đất không có thay đổi. Các chủ giáp ranh công nhận là đúng và đồng ý ký tên.

Tại Công văn số 865/CNCT-ĐKĐĐ ngày 14/7/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C cũng xác định: Thửa đất số 358, tờ bản đồ 11, diện tích 186,7 m² có nguồn gốc nhận thừa kế từ ông Nguyễn Đắt Đ đối với 01 phần thửa 641, tờ bản đồ số 01 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho hộ ông Nguyễn Đắt Đ vào ngày 06/6/1997.

Theo hồ sơ đo đạc năm 2017, ngày 08/02/2017 ông Nguyễn Đắc Phúc N1 C cũng có đơn xin xác nhận về việc trong quá trình cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2007 thửa đất của cha ông nhập với thửa đất của ông Trần Hữu N, nên ông C có đơn xin được điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp và được xác nhận của công chức địa chính, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã A.

Chi nhánh Văn phòng đất đai huyện C cũng cho biết theo số liệu đo đạc chính quy thì phần đất tranh chấp cũng thuộc một phần thửa 220 tờ bản đồ số 11 tách thành thửa đất số 358, tờ bản đồ 11, diện tích 186,7 m² (theo kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 22/5/2017). Thửa đất số 220 tờ bản đồ số 11 diện tích 3061,4 m² được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Hữu N ngày 12/5/2011.

Như vậy, căn cứ vào hồ sơ vụ án, quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và công văn trả lời của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C có đủ căn cứ để xác định phần đất tranh chấp thửa đất số 358, tờ bản đồ 11, diện tích 186,7 m²) có nguồn gốc nhận thừa kế từ ông Nguyễn Đắt Đ thuộc 01 phần thửa 641, tờ bản đồ số 01 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/6/1997, khi Đoàn 301 tiến hành đo đạc năm 2007 đã đo nhập một phần thửa đất số 641, tờ bản đồ số 1 (nay là thửa đất số 358, tờ bản đồ số 11, diện tích 186,7 m²) vào thửa đất số 220, tờ bản đồ số 11, diện tích 3061.4m² đến ngày 12/5/2011 thì Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Hữu N. Tuy nhiên, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C tại văn bản ký hiệp thương ranh không có chữ ký của ông N. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C là không đúng quy định. Tuy nhiên như đã phân tích trên phía bị đơn đã thực hiện quyền chiếm hữu, quản lý sử dụng đất từ trước đến nay nên không cần thiết hủy giấy chứng nhận này.

Do đó việc nguyên đơn dựa vào các chứng cứ như đơn xin xác nhận về việc đo đạc nhập thửa đề ngày 08/02/2017; Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 24/4/2017; trích lục bản đồ địa chính ngày 12/5/2017; trích lục bản đồ địa chính ngày 12/5/2017; trích lục bản đồ địa chính ngày 12/5/2017; bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 08/02/2017; giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông N thửa 220 vào ngày 12/5/2011 mà cho rằng phần đất tranh chấp (nguyên thửa 358) là của nguyên đơn là không có cơ sở và việc ông C có đơn xin được điều chỉnh lại GCNQSDĐ đã cấp được xác nhận của công chức địa chính, chủ tịch UBND xã A ngày 08/02/2017 là phù hợp theo quy định tại Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 86 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai.

[2.3] Về quá trình sử dụng đất: Tại biên bản hòa giải ngày 25/7/2023 ông N thừa nhận từ lúc được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông không có canh tác trên đất; phía bị đơn ông C trình bày đây là phần đất của tổ tiên để lại cho ông nội ông canh tác, quản lý trước năm 1975. Đến năm 1975 ông nội cho cha ông là ông Nguyễn Đất Đ canh tác, quản lý, sử dụng. Sau đó ông Đ kê khai phần đất này và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1997, hiện phần đất này ông C được nhận thừa kế và vẫn trực tiếp quản lý sử dụng cho đến nay. Lời trình bày của bị đơn phù hợp với lời trình bày của các các chủ giáp ranh phần đất tranh chấp tại biên bản xác minh ngày 08/11/2022 (ông Nguyễn Văn H2, ông Phạm Văn T1, ông Phan Văn B, bà Huỳnh Thị N2, ông Phan Văn C2) và người làm chứng tại phiên tòa là ông Trương Văn Đ3. Phía nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh quá trình quản lý sử dụng đất có thể hiện quyền của chủ sử dụng đất đối với đất tranh chấp.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N là có căn cứ.

[2.4] Xét về cây trồng trên đất:

Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 08/7/2022 xác định trên phần đất tranh chấp có các cây trồng gồm 13 cây bưởi da xanh loại 2, 27 cây chanh loại 2, 07 cây dừa loại 3, tất cả các cây trồng đều do ông C trồng. Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận, ông C được trọn quyền sử dụng đối với phần đất tranh chấp nên ông C được được tiếp tục quản lý các cây trồng.

[3] Nguyên đơn ông Trần Hữu N kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ có giá trị chứng minh nên không có căn cứ để chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên ông Trần Hữu N phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Hữu N. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 76/2023/DS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Áp dụng Điều 100, 166, 170, 203 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

[1] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Hữu N về việc yêu cầu ông Nguyễn Đắc Phúc Như C di dời các loại cây trồng trên đất và giao trả cho ông N phần đất thuộc các thửa 358-2; 358-3; 358-4; 358-5; 358-6 (thuộc 1 phần thửa 358, tờ bản đồ 11) tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Ông Nguyễn Đắc Phúc Như C được trọn quyền sử dụng đối với phần đất thuộc các thửa 358-2; 358-3; 358-4; 358-5; 358-6 thuộc một phần thửa 358 tờ bản đồ 11 tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre.

(Có họa đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo)

[2] Chi phí thu thập chứng cứ: Ông Trần Hữu N có nghĩa vụ chịu số tiền chi phí thu thập chứng cứ là 17.354.000 đồng. Ông N đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng là 15.000.000 đồng; số tiền còn lại là do bị đơn ông Nguyễn Đắc Phúc Như C nộp tạm ứng nên nguyên đơn phải có trách nhiệm hoàn trả cho ông Nguyễn Đắc Phúc N1 C số tiền chi phí tố tụng là 2.354.000 đồng (hai triệu ba trăm năm mươi bốn ngàn đồng).

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Hữu N có nghĩa vụ chịu án phí là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào biên lai thu tạm ứng án phí số 0006487 ngày 18/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm:

Ông Trần Hữu N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phía số 0000694 ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Phòng KTNV&THAHS tỉnh Bến Tre;
  • - Chánh án TAND tỉnh Bến Tre;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Phận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/DS - PT ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 25/2024/DS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger