|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST Ngày 09/8/2024. V/v: Xin ly hôn. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Bích Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Thanh Liêm, bà Bồ Thị Thái.
-Thư ký phiên toà: Ông Đào Ngọc Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La: Ông Nguyễn Bằng Phi– Kiểm sát viên. (Gửi bài phát biểu, không tham gia phiên toà)
Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án Tòa án nhân dân thành phố Sơn La tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 124/2024/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024, về việc: Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T. Địa chỉ: Tổ E, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Quang T1. Địa chỉ: Tổ E, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Quang T1 có tổ chức đám cưới theo phong tục vào năm 1992. Sau khi cưới, vợ chồng về sống tại đội G, xã H, thành phố S cho đến năm 1994 thì vợ chồng chuyển về Tổ E, phường C, thành Phố S sinh sống, cuộc sống chung hòa thuận cho đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, từ đó vợ chồng đã sống ly thân với nhau không ai quan tâm đến ai. Trong thời gian chung sống vợ chồng không làm thủ tục đăng ký kết hôn. Nay bà đề nghị Toà án nhân dân thành phố Sơn La giải quyết cho bà được ly hôn ông Nguyễn Quang T1.
Về con chung: Có hai con chung, con lớn là Nguyễn Thị Ngọc C, sinh ngày 06/7/1992, con nhỏ là Nguyễn Hoàng H, sinh ngày 12/9/2000. Các con đều đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Không có.
Tại bản tự khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt của ông Nguyễn Quang T1 trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị T chung số với nhau, không có làm thủ tục kết hôn, trong thời gian chung sống vợ chồng hòa thuận đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng bất đồng quan điểm và đã sống ly thân từ đó đến nay, nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên nhất trí với yêu cầu của bà Nguyễn Thị T, đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn.
Về con chung: Có hai con chung, con lớn là Nguyễn Thị Ngọc C, sinh ngày 06/7/1992, con nhỏ là Nguyễn Hoàng H, sinh ngày 12/9/2000 Các con đều đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Không có.
Tại biên bản xác minh ngày 24/7/2024 tại UBND xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La xác nhận trong sổ sách, theo dõi, cũng như trên hệ thống quản lý tình trạng hôn nhân không có tên của vợ chồng ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị T.
Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với ông Nguyễn Quang T1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La không tham gia phiên toà, có gửi bài phát biểu như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, xác định tư cách pháp lý người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, tư cách pháp lý và thẩm quyền theo quy định của BLTTDS; Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa sơ thẩm dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 234 BLTTDS.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 9, 14 và khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 273 BLTTDS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Quang T1. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiện cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Quang T1 có hộ khẩu thường trú tại tổ E, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
Ông Nguyễn Quang T1 sau khi nhận thông báo thụ lý có đến Toà án nộp bản tự khai và xin vắng mặt tại các buổi làm việc của Toà án. Do các bên đương sự không có đăng ký kết hôn nên Toà án không tiến hành hoà giải. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xử vắng mặt ông Nguyễn Quang T1.
[2]. Về việc xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Quang T1 và bà Nguyễn Thị T tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1992 cho đến nay nhưng chưa đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Việt Nam. Như vậy việc kết hôn của ông T1 và bà T đã không tuân thủ theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam nên không có giá trị về mặt pháp lý. Nay bà Nguyễn Thị T đề nghị ly hôn với ông T1, ông T1 nhất trí. Căn cứ Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T1, không công nhận quan hệ vợ chồng của bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Quang T1.
[2.2] Về con chung: Có hai con chung, con lớn là Nguyễn Thị Ngọc C, sinh ngày 06/7/1992, con nhỏ là Nguyễn Hoàng H, sinh ngày 12/9/2000. Các con đều đã trưởng thành nên Tòa án không giải quyết về con chung.
[2.3] Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Không có.
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 217, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 14 và Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, tuyên xử:
- - Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
- - Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Quang T1.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0002075 ngày 10/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/8/2024). Bị đơn ông Nguyễn Quang T1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Bích H1 |
Bản án số 25/2024/HNGĐ-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về hôn nhân gia đình (ly hôn)
- Số bản án: 25/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Hôn nhân gia đình (Ly hôn)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thắm - Nguyễn Quang Thiệp
