Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 25/2024/HNGĐ - ST

Ngày 08/8/2024

“ V/v tranh chấp ly hôn, con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG – TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Toàn;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Ngát;

2. Bà Nguyễn Thị Bắc;

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Động.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động tham gia phiên toà: Ông Vương Văn Phong - Kiểm sát viên sơ cấp.

Trong ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2024/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXX- ST ngày 05 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/HPT-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1988;

Địa chỉ: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

- Bị đơn: Anh Vi Văn N, sinh năm 1988;

Địa chỉ: Thôn G, xã G, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

(Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh N vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

[1] Trong đơn khởi kiện, những lời khai tiếp theo có trong hồ sơ nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn cùng với anh Vi Văn N vào năm 2010, trước khi kết hôn hai bên có tự do tìm hiểu và tự nguyện lấy nhau, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Sau khi lấy nhau xong chị về gia đình anh N ở chung sống cùng nhau, quá trình chung sống ban đầu hòa thuận, hạnh phúc.

Mâu thuẫn phát sinh từ năm 2016, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay.

Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh N được ly hôn.

Về con chung: Chị và anh N có 01 con chung là cháu Vi Thị Tố U, sinh ngày 01/01/2012, hiện cháu đang ở cùng với chị. Vợ chồng ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cháu U, về cấp dưỡng nuôi con chị không có yêu cầu. Chị hiện đang làm nông nghiệp và làm thêm nên mức thu nhập khoảng 7.000.000đ/tháng, chị hiện đang ở cùng với bố mẹ đẻ nhưng bố mẹ đã cho 01 mảnh đất để tôi chuẩn bị làm nhà ra ở riêng, chị đảm bảo được việc nuôi con khi được giao

Về tài sản, công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

[2] Bị đơn anh Vi Văn N hiện không có mặt tại nơi cư trú, Tòa án giao cho gia đình anh N và niêm yết tại địa phương thông báo về việc thụ lý vụ án, các giấy triệu tập, thông báo phiên họp và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử để anh N biết đến làm việc tại Tòa án nhưng anh N vẫn vắng mặt không có lý dooHoaf vẫn v, nên Tòa án không thu thập được lời khai của anh N.

[3] Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên toà, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng thủ tục tố tụng; tại phiên toà, Hội đồng xét xử tiến hành đúng trình tự, thủ tục của phiên toà sơ thẩm; nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn anh N vắng mặt không chấp hành đến Tòa án để giải quyết vụ án là vi phạm về nghĩa vụ.

Về giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 91, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, 228, Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị H và anh Vi Văn N được ly hôn nhau.

Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Vi Thị Tố U, sinh ngày 01/01/2012; Về cấp dưỡng nuôi con chị H không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Phạm Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Sơn Động giải quyết ly hôn với anh Vi Văn N, anh N hiện đang cư trú và có hộ khẩu tại huyện S. Xét quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp về “Hôn nhân và con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn anh N đã được Tòa án triệu tập, niêm yết hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị H có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ vào lời khai của các bên đương sự, tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp và những tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được thì có cơ sở xác định:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H kết hôn với anh Vi Văn N vào tháng 4 năm 2010, trước khi kết hôn hai bên có tự do tìm hiểu và tự nguyện lấy nhau, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An số 86 ngày 13 tháng 4 năm 2010. Sau khi cưới chị H về gia đình anh N ở chung sống cùng nhau, quá trình chung sống ban đầu tình cảm hòa thuận hạnh phúc; xác nhận quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh N là hợp pháp.

Mâu thuẫn phát sinh từ năm 2016, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên cãi nhau; vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay.

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình”.

Xét thấy: Chị H và anh N đã xảy ra mâu thuẫn thường xuyên, hai bên đã không quan tâm giúp đỡ đến nhau, không cùng chăm sóc, nuôi dạy con chung cũng như đã ly thân nhau về mặt tình cảm một khoảng thời gian dài mà cả hai không giải hòa được. Như vậy, chị H và anh N đã vi phạm nghĩa vụ chung sống vợ chồng, đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H, cho chị H và anh N được ly hôn nhau theo khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị H và anh N có 01 con chung là cháu Vi Thị Tố U, sinh ngày 01/01/2012, hiện cháu U đang ở cùng với chị H. Chị H có nguyện vọng được cháu U và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con. Căn cứ vào việc làm, thu nhập của chị H và quá trình đang nuôi con đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng,

giáo dục con chung; cháu U có nguyện vọng được ở với mẹ. Từ ngày vợ chồng sống ly thân chị H1 vẫn nuôi con và hiện nay anh N không có mặt tại địa phương. Do đó, yêu cầu nuôi con của của H được chấp nhận theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, giao cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Vi Thị Tố U là hợp lý. Do chị H không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí: Chị H yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 57, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 91, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị H và anh Vi Văn N được ly hôn.
  2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Vi Thị Tố U, sinh ngày 01/01/2012; Về cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  1. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ nộp tạm ứng án phí DSST, theo biên lai số 0008565 ngày 07/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động.
  2. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Sơn Động;
  • - Chi cục THADS huyện Sơn Động;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã Nghi Kiều, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HNGĐ - ST ngày 08/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, con chung

  • Số bản án: 25/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hị Phạm Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Sơn Động giải quyết ly hôn với anh Vi Văn N, anh N hiện đang cư trú và có hộ khẩu tại huyện S. Xét quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp về “Hôn nhân và con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh N đã được Tòa án triệu tập, niêm yết hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị H có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger