|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 08/7/2024
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Đoàn Lan Hương |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Đăng Bôi |
| Ông Lương Văn Hùng |
Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Thanh Huyền – Thư ký Toà án nhân dân huyện T, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thuý Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 116/2024/TLST-HNGĐ ngày 10/5/2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QÐST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989 (có mặt)
HKTT và chỗ ở: Xóm A, thôn G, xã B, huyện T, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1985 (có đơn xin vắng mặt)
HKTT: Thôn B, xã D, huyện L, thành phố Hà Nội. Chỗ ở: Xóm A, thôn G, xã B, huyện T, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị H và anh Nguyễn Đức T kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện L, thành phố Hà Nội ngày 27/3/2013. Sau khi tổ chức đám cưới, chị H và anh T chung sống với nhau tại Đội 3, thôn G, xã B, huyện T, thành phố Hà Nội. Vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2022 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát, bạo lực gia đình ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc nuôi dạy con cái. Mặc dù vẫn sống cùng một nhà nhưng vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2022 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Mặc dù hai bên gia đình đã cố gắng hòa giải mâu thuẫn cho vợ chồng chị nhưng không thành. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn với anh T để ổn định cuộc sống. Bản thân anh T cũng nhận thấy vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, nhưng không ký thuận tình ly hôn vì không muốn mang tiếng bỏ vợ và gây khó khăn cho tôi trong việc ly hôn. Chị H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung là Nguyễn Đức M, sinh ngày 17/4/2014 và Nguyễn Minh Cháu M, sinh ngày 28/3/2020. Ly hôn, hai bên đã thống nhất thỏa thuận giao cháu M cho anh T và giao cháu Cháu M cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau, không tranh chấp về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh T không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Nguyễn Đức T trình bày: Anh T thừa nhận quá trình vợ chồng kết hôn và chung sống như chị H đã trình bày, anh xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, chị H kiên quyết xin ly hôn thì anh cũng đồng ý, nhưng anh không ký thuận tình ly hôn với chị H và không đến Tòa án làm việc. Anh T xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Đức M, sinh ngày 17/4/2014 và Nguyễn Minh Cháu M, sinh ngày 28/3/2020, anh T nhận nuôi cháu Đức và giao cháu Cháu M cho chị H nuôi dưỡng, không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết, xét xử vụ việc.
Tại phiên toà: Nguyên đơn giữ nguyên quan điểm yêu cầu xin ly hôn với anh T, đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Minh Cháu M, sinh ngày 28/3/2020 và giao cháu Nguyễn Đức M, sinh ngày 17/4/2014 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng; không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn và vấn đề tài sản chung, nợ chung của vợ chồng.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa có quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Về quan hệ pháp luật và tư cách đương sự: Tòa án xác định đúng và đầy đủ; Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện T thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền; Về thời hạn giải quyết vụ án: Tòa án giải quyết trong hạn luật định; Về thu thập chứng cứ đủ và đúng theo quy định của pháp luật; Tại phiên tòa Hội đồng xét xử theo đúng trình tự; Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
Về nội dung vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H và xử cho chị H được ly hôn với anh Nguyễn Đức T. Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Minh Cháu M, sinh ngày 28/3/2020 và giao anh Nguyễn Đức T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Đức M, sinh ngày 17/4/2014, các bên không yêu cầu giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét. Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự và của Đại diện Viện Kiểm sát; Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
-
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Anh Nguyễn Đức T vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
-
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Đức T kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện L, thành phố Hà Nội ngày 27/3/2013. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Qua xác minh và các đương sự thừa nhận vợ chồng anh T và chị H có nhiều mâu thuẫn và đã sống ly thân từ đầu năm 2022, không còn khả năng hàn gắn tình cảm. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng và không yêu thương, tôn trọng lẫn nhau, thậm chí còn giải quyết mâu thuẫn vợ chồng bằng bạo lực. Xét thấy, hôn nhân của anh T và chị H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị H là có cơ sở chấp nhận.
-
[3] Về con chung: Chị H và anh T có hai con chung là Nguyễn Đức M, sinh ngày 17/4/2014 và Nguyễn Minh Cháu M, sinh ngày 28/3/2020. Anh T và chị H đã thống nhất thỏa thuận giao cháu M cho anh T và giao cháu Cháu M cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Thỏa thuận của các bên về con chung là tự nguyện, không trái pháp luật nên được chấp nhận. Các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung, tạm hoãn việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H và anh T đến khi có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh T, chị H có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được ngăn cản.
-
[4] Về tài sản chung, công sức đóng góp và nợ chung: Các đương sự không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Trường hợp các bên có yêu cầu và phát sinh tranh chấp thì dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác.
-
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
-
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự.
Căn cứ Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
-
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị H. Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Đức T.
-
Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Minh Cháu M, sinh ngày 28/3/2020 và giao anh Nguyễn Đức T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Đức M, sinh ngày 17/4/2014 đến khi trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H và anh T đến khi có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh T, chị H có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được ngăn cản.
-
Về tài sản chung, công sức đóng góp và nợ chung: Các đương sự không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Trường hợp các bên có yêu cầu và phát sinh tranh chấp thì dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác.
-
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0016233 ngày 09/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, thành phố Hà Nội. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đoàn Lan Hương |
Bản án số 25/2024/HNGĐ-ST ngày 08/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 25/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị H
