Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐÔNG HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HS-ST

Ngày 08/7/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đặng Thị Thu Hằng;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Đăng Đúng và ông Nguyễn Văn Thư.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa tham gia phiên tòa: ông Lê Ngọc Phong- Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/HSST ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/HSST-HPT ngày 19 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:

Vũ Viết T, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1982, tại tỉnh Nam Định (tên gọi khác: không); nơi thường trú: thôn L, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; con ông Vũ Viết B, sinh năm 1956 và bà Phan Thị K (chết); gia đình có ba anh em, bị cáo là con đầu; vợ: Vũ Thị Thanh H, sinh năm 1989 và có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

Lê Kim V, sinh ngày 01 tháng 5 năm 1948, tại tỉnh Phú Yên (tên gọi khác: không); nơi thường trú: thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: 05/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; con ông Lê T1 (chết) và bà Huỳnh Thị N (chết); gia đình có ba anh em, bị cáo là con đầu; vợ: Huỳnh Thị C (chết); có 06 con, lớn nhất sinh năm 1970, nhỏ nhất sinh năm 1991. Tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: bà Huỳnh Thị C (chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: anh Lê Kim V1– sinh năm 1991; nơi cư trú: thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Lê Kim V1– sinh năm 1991; nơi cư trú: thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

* Người làm chứng:

+ Ông Ngô Minh C1– sinh năm 1968; nơi cư trú: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.

+ Ông Nguyễn Văn S– sinh năm 1970; nơi cư trú: thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

+ Ông Trần Ngọc D– sinh năm 1940; nơi cư trú: thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.

+ Ông Ngô Văn D1– sinh năm 1973; nơi cư trú: thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

Tất cả người làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 23/10/2023, sau khi chơi ở nhà bạn tại thôn T, xã H, thị xã Đ, Lê Kim V (có giấy phép lái xe hạng mô tô hạng A1), điều khiển xe mô tô biển số 78F1-284.12 chở Huỳnh Thị C, sinh năm 1948, trú tại thôn M, xã H, Huyện T (vợ Vị) lưu hành trên đường Q theo hướng Nam – B về huyện T. Khoảng 16 giờ 10 phút cùng ngày, tại Km 1342 + 250m, nơi giao nhau giữa đường Q và đường Q thuộc Khu phố B, phường H, thị xã Đ, V điều khiển xe mô tô chuyển hướng Đ – Tây không có tín hiệu báo hướng rẽ, không chú ý quan sát. Cùng lúc này, Vũ Viết T (có giấy phép lái xe ô tô hạng E), điều khiển xe ô tô tải biển số 18H-011.80 lưu hành trên đường Q theo hướng Nam – B, phía sau xe Vị điều khiển đến Km 1342+250m, nơi giao nhau giữa hai đường Quốc lộ, T không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước, dẫn đến mặt trước và mặt dưới phía bên phải đầu xe ô tô biển số 18H – 011.80 tông vào bên trái xe mô tô biển số 78F1-284.12, gây tai nạn. Hậu quả C bị thương tích, được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh P cấp cứu, đến ngày 24/10/2023 bà C chết, xe mô tô biển số 78F1-284.12 và xe ô tô biển số 18H-011.80 bị hư hỏng.

Bản kết luận giám định tử thi số 241/KLGĐTT-PYPY ngày 10/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: Huỳnh Thị C chết do chấn thương sọ não.

Bản kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐGTS ngày 01/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản T: xe mô tô biển số 78F1-284.12 bị hư hỏng thiệt hại về tài sản trị giá 415.000 đồng, xe ô tô biển số 18H-011.80 bị hư hỏng thiệt hại về tài sản trị giá 900.000 đồng.

Bản kết luận giám định số 605/KL-KTHS ngày 18/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh P kết luận:

Dấu vết hằn xước, lõm khuyết, nứt nhựa, mất sơn màu đen tại mặt trên, mặt sau của phần ốp nhựa màu đen ở đuôi xe và dấu vết hằn xước, lõm kim loại, mất sơn đen ở đầu sau ống kim loại tròn bên trái của khung xe nằm trong diện dấu vết hằn xước, mài mòn, nứt, vỡ khuyết nhựa, bung lệch khỏi vị trí cố định và hằn xước, lõm kim loại, mất sơn màu đen ở các bộ phận phía đuôi xe của xe mô tô nhãn hiệu SIRIUS biển số 78F1-248.12, chiều hướng từ sau tới trước phù hợp với dấu vết hằn xước kim loại, bám dính chất màu đen ở mặt bên trái, cạnh dưới bên trái và mặt dưới của đầu dưới bộ phận kim loại dùng cố định đầu bên phải của phần nhựa màu xám ở mặt nạ xe và dấu vết thủng, gãy khuyết nhựa nham nhở tại mặt trước đầu bên phải của phần nhựa màu xám ở mặt nạ xe của chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu CHENG LONG biển số 18H-011.80, có chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải.

Dấu vết ma sát trượt xước, mài mòn lớp sơn màu đen các chữ số ở hàng dưới và móp méo, cong vênh, dồn kim loại tại ½ dưới và góc dưới bên trái biển số của xe mô tô nhãn hiệu SIRIUS biển số 78F1-248.12, có chiều hướng từ sau tới trước, từ dưới lên trên, từ trái qua phải phù hợp với dấu vết ma sát, trượt xước, bong tróc sơn màu trắng bạc, bám dính chất màu đen ở mặt trước và mặt dưới phần đầu bên phải cản kim loại trước đầu xe của ô tô tải nhãn hiệu CHENG LONG biển số 18H-011.80 có chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, từ trái sang phải.

Về dân sự: V2 viết T đã bồi thường cho gia đình bị hại Huỳnh Thị C số tiền 50.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm.

Vật chứng vụ án:

  • - 01 xe mô tô biển số 18H-011.80 và xe mô tô biển số 78F1-248.12 đã trả lại cho chủ sở hữu.
  • - 01 giấy phép lái xe hạng A1 do sở Giao thông vận tải tỉnh P cấp ngày 19/6/2017 tên Lê Kim V và 01 giấy phép lái xe hạng E do sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 01/12/2022 tên Vũ Viết T đang tạm giữ (kèm hồ sơ vụ án).

Tại bản cáo trạng số: 26/CT-VKSĐH ngày 24/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa đã truy tố các bị cáo Vũ Viết T, Lê Kim V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Các bị cáo Vũ Viết T, Lê Kim V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Anh Lê Kim V1 xin giảm nhẹ đến mức thấp nhất về hình phạt cho các bị cáo về trách nhiệm bồi thường dân sự không yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, không yêu cầu bị cáo T tiếp tục bồi thường thiệt hại do tính mạng bà C bị xâm phạm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa sau khi phân tích tính chất và mức độ hành vi phạm tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Vũ Viết T, Lê Kim V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vũ Viết T từ 12-15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 – 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục đối với bị cáo. Không phạt bổ sung. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Kim V từ 12-15 tháng cải tạo không giam giữ, thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T nhận được quyết định thi hành án đối với bị cáo. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo, không khấu trừ thu nhập. Không phạt bổ sung.

Về vật chứng: hoàn trả cho bị cáo T một giấy phép lái xe hạng E tên Vũ Viết T; hoàn trả cho bị cáo V một giấy phép lái xe hạng A1 tên Lê Kim V.

Về trách nhiệm dân sự: đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường thêm nên không xét.

Về án phí: bị cáo T phải chịu theo quy định pháp luật, bị cáo V phải chịu theo quy định pháp luật, nhưng có đơn xin miễn giảm án phí do là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự.

Các bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo rất ăn năn, nhận thức được hành vi sai trái của bị cáo và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án những người này đã có lời khai tại cơ quan điều tra, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về hành vi của các bị cáo Vũ Viết T, Lê Kim V: lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với dấu vết để lại tại hiện trường được mô tả tại biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường và dữ liệu điện tử được thu từ hệ thống camera an ninh; về thời gian, địa điểm, nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông, phù hợp với vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để kết luận: khoảng 16 giờ 10 phút ngày 23/10/2023, tại Km 1342 + 250m, nơi giao nhau giữa hai đường Quốc lộ 1A và đường Q thuộc Khu phố B, phường H, thị xã Đ, bị cáo Vũ Viết T điều khiển xe ô tô tải lưu hành trên đường Q theo hướng Nam – Bắc thiếu quan sát, không giữ khoảng cách an toàn vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ; bị cáo Lê Kim V điều khiển xe mô tô lưu hành trên đường Q theo hướng N - B đến nơi giao nhau với Quốc lộ B chuyển hướng Đông Tây không quan sát, chuyển hướng không đảm bảo an toàn vi phạm khoản 1, 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ là nguyên nhân gây tai nạn giao thông làm Huỳnh Thị C là vợ bị cáo V chết.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn giao thông. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có giấy phép lái xe nhưng vi phạm Luật giao thông đường bộ, là nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông gây thiệt hại cho tính mạng của bà C. Do đó, cáo trạng số 26/CT-VKSĐH ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa truy tố các bị cáo về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra vụ án, cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình và được đại diện hợp pháp của người bị hại viết đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Bị cáo T đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, bị cáo V là người trên 70 tuổi. Do đó, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo V theo quy định tại các điểm s, o khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến đến tính mạng của người khác, thể hiện ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ kém. Tuy nhiên, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ tác dụng răng đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội; bị cáo T có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự, bị cáo V có đủ điều kiện áp dụng Điều 36 của Bộ luật hình sự và là người cao tuổi nên miễn khấu trừ thu nhập; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Vật chứng vụ án, đồ vật, tài liệu tạm giữ: hoàn trả cho bị cáo T 01 giấy phép lái xe số BQ 272982 hạng E, hoàn trả cho bị cáo V 01 giấy phép lái xe số AV 33985 hạng A1 (đang được lưu giữ tại hồ sơ được Tòa án quản lý).

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T đã bồi thường cho gia đình bà C số tiền 50.000.000đ, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu tiếp tục bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo Vũ Viết T phải chịu theo quy định pháp luật. Bị cáo Lê Kim V phải chịu theo quy định pháp luật, nhưng có đơn xin miễn giảm án phí do là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Vũ Viết T, Lê Kim V đều phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Viết T.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Kim V.

Xử phạt bị cáo Vũ Viết T 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Xử phạt bị cáo Lê Kim V 01 (một) năm cải tạo không giam giữ, thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T nhận được quyết định thi hành án đối với bị cáo. Miễn khấu trừ thu nhập trong thời gian chấp hành án vì bị cáo là người cao tuổi.

Giao người bị kết án Vũ Viết T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục đối với người bị kết án. Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Giao người bị kết án Lê Kim V cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trong trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Vật chứng vụ án, đồ vật, tài liệu tạm giữ: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Hoàn trả cho bị cáo T 01 giấy phép lái xe số BQ 272982 hạng E do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp cho Vũ Viết T, hoàn trả cho bị cáo V 01 giấy phép lái xe số AV 33985 hạng A1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh P cấp cho Lê Kim V.

Án phí hình sự sơ thẩm: căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Bị cáo Vũ Viết T phải chịu 200.000 đồng, miễn án phí cho bị cáo Lê Kim V.

Quyền kháng cáo: các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

 

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND thị xã Đông Hòa;
  • - Công an thị xã Đông Hòa;
  • - Chi cục THADS thị xã Đông Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác;

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 25/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger