Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST

Ngày 08-5-2024.

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Nguyễn Minh Hằng

Bà Phạm Thị Yến

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Hải Hà- Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 18/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N; ĐKHKTT: Số C B tổ dân phố A, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Thành C; nơi cư trú: Số C B tổ dân phố A, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 3 năm 2024, bản tự khai nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N trình bày:

Chị và anh Nguyễn Thành C tìm hiểu và đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng ngày 08/02/2006. Sau khi kết hôn, anh chị sinh sống tại địa chỉ số C B, tổ dân phố A, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng. Trong quá trình chung sống, chị và anh C thường xuyên xảy ra mâu

thuẫn, cãi vã vì không cùng quan điểm sống và suy nghĩ. Nguyên nhân do anh C không tu chí làm ăn mà luôn vướng vào tệ nạn lô đề cờ bạc. Khi lấy nhau một thời gian, gia đình có xin cho anh C vào cảng H làm việc nhưng chỉ được ba năm anh lại xin nghỉ rồi nợ nần do vướng tệ nạn. Sau nhiều lần trả nợ và chịu đựng thói cờ bạc của anh C, chị rất chán chường và không muốn tiếp tục cuộc sống vợ chồng nữa nên đã bỏ về nhà mẹ đẻ tại xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng để tập trung đi làm lấy kinh tế để lo cho hai con ăn học. Vợ chồng sống ly thân từ khoảng năm 2014 đến nay, không còn chung sống cùng nhau. Chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, không có khả năng đoàn tụ nên đề nghị Tòa án nhân dân quận Hải An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thành C.

Về con chung: Chị N trình bày chị và anh C có 02 con chung là Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 01/5/2003 và Nguyễn Phương A, sinh ngày 11/01/2006. Hai con đều đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Thành C trong quá trình giải quyết vụ án, tại các buổi làm việc, phiên họp và tại phiên tòa anh đều vắng mặt không có lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn do không cùng quan điểm sống và suy nghĩ. Năm 2014, chị N về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, anh chị sống ly thân từ đó đến nay, không còn chung sống cùng nhau. Như vậy, xác định mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Thành C.

Về con chung: Chị N và anh C có 02 con chung là Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 01/5/2003 và Nguyễn Phương A, sinh ngày 11/01/2006. Hai con đều đã trưởng thành đủ 18 tuổi, chị N không yêu cầu nên không đặt vấn đề giải quyết.

Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là anh Nguyễn Thành C hiện đang cư trú tại quận H, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Thành C quyết định kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, theo quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do không cùng quan điểm sống và suy nghĩ. Hai bên gia đình đã khuyên giải nhiều lần nhưng anh C không thay đổi. Sau nhiều lần chịu đựng, chị N không muốn tiếp tục cuộc sống vợ chồng nữa nên năm 2014 đã bỏ về nhà mẹ đẻ tại huyện V sống. Từ đó vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm ai. Hội đồng xét xử nhận định, thực tế chị N và anh C không còn chung sống cùng nhau, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình, vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, áp dụng Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị N, giải quyết cho chị N được ly hôn với anh Nguyễn Thành C.

[4] Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Thành C có 02 con chung là Nguyễn Minh Đ, sinh năm 2003 và Nguyễn Phương A, sinh ngày 11/01/2006. Hai con chung của anh chị đều đã trưởng thành đủ 18 tuổi, chị N không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

[8] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Thành C được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235 và điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Thành C.
  2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Thành C có 02 con chung là Nguyễn Minh Đ, sinh năm 2003 và Nguyễn Phương A, sinh ngày 11/01/2006 đều đã trưởng thành đủ 18 tuổi, chị N không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005539 ngày 11/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo của các đương sự:

    Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Thành C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - Chi cục THA DS quận Hải An;
  • - UBND xã Nhân Hòa, huyện Vĩnh Bảo,
  • TP. Hải Phòng (GCN số 08 ngày 08/02/2006);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HNGĐ-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn

  • Số bản án: 25/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger