|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2023/DS-ST
Ngày: 07/11/2023
“V/v: Tranh chấp về
thừa kế tài sản.”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hưng Bính.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Như Nhân và ông Phan Xuân Nam
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tường Vy - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa:
Ông Trần Quang Hoà - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 03 và ngày 07 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 13/2023/TLST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 176/2023/QÐST-DS ngày 15 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
- + Ông Phan B, sinh năm 1950. Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- + Ông Phan C, sinh năm 1957. Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Võ Văn H – Văn phòng Luật sư Hồng Trần . Địa chỉ: 3 H, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1966. Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Đình H1 – Công ty L. Địa chỉ: B P, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Phan Thị B2, sinh năm 1954. Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- + Bà Phan Thị N, sinh năm 1963. Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Bà Phan Thị Diễm M. Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- + Ông Phan Thiên B3. Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã có văn bản uỷ quyền cho bà B1.
- + Ông Phan Thiên R. Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- + Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Công K - Phó trưởng phòng tài nguyên môi trường huyện P. Địa chỉ: Thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/4/2023, lời khai ở các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tại phiên tòa, các nguyên đơn và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Nguồn gốc nhà đất tranh chấp tại thửa đất số 302, tờ bản đồ số 6, diện tích 495m² toạ lạc tại địa chỉ thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế do cụ ông Phan Thiên T (tên gọi khác là Phan Thị, đã mất năm 1994), cụ bà Nguyễn Thị D (mất năm 2010) tạo lập từ trước năm 1950. Trên đất có 01 ngôi nhà diện tích khoảng 70m² do các cụ xây dựng. Việc này được ghi nhận trong Bản đồ 299 và Sổ đăng ký ruộng đất. Khi mất, hai cụ không để lại di chúc nhưng hiện nay, thửa đất này thuộc sở hữu và đứng tên bà Nguyễn Thị B1, là vợ của ông Phan S (con trai của hai cụ).
Nay các nguyên đơn khởi kiện đề nghị Toà án phân chia di sản thừa kế và huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giấy CNQSD đất) tại thửa đất số 302, tờ bản đồ số 06, diện tích 495m², do UBND huyện P cấp ngày 31/5/2002, số phát hành R 072426 đã cấp cho ông Phan S, Nguyễn Thị B1. Bởi vì, Uỷ ban nhân dân (Uỷ ban nhân dân) huyện P không xác minh đầy đủ nguồn gốc, đối tượng sử dụng đất nên đã cấp Giấy chứng nhận không đúng. Trong hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có kê khai nguồn gốc đất của ông Phan S là do cha mẹ để lại, tuy nhiên cụ Phan T, Nguyễn Thị D mất đều không để lại di chúc, chính quyền địa phương không làm thủ tục phân chia thừa kế mà đã cấp cho ông S, bà B1 là không đúng quy định của pháp luật.
Cụ ông Phan T, cụ bà Nguyễn Thị D có 06 người con:
- + Bà Phan Thị D1, đã chết năm 1969 khi chưa có gia đình;
- + Ông Phan B sinh năm 1950;
- + Bà Phan Thị B2, sinh năm 1954;
- + Ông Phan C, sinh năm 1957;
- + Bà Phan Thị N, sinh năm 1963;
- + Ông Phan S, đã chết năm 2019. Có vợ là Nguyễn Thị B1, có 03 người con là Phan Thiên B3, Phan Thiên R và Phan Thị Diễm M.
Các nguyên đơn khởi kiện mong muốn được nhận phần di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và góp chung để làm nơi thờ phụng cha mẹ.
Bị đơn bà Nguyễn Thị B1 và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày trình bày tại Bản tự khai ngày 07/6/2023 và tại phiên toà :
Nguồn gốc nhà đất tranh chấp đúng là của cụ Phan T và cụ Nguyễn Thị D, tuy nhiên hai cụ đã cho ông Phan S, việc này đã lập thành văn bản. Cụ thể, tại GIẤY GIAO QUYỀN SỬ DỤNG được lập ngày 15/12/1992 do cụ Phan T, cụ Nguyễn Thị D cùng ông Phan B, Phan C đã ký tặng cho ông Phan S quyền sử dụng hai căn nhà lớn, nhỏ và toàn bộ khu đất. Ngoài ra, trong văn bản có nhân chứng kí xác nhận là ông Phan V, ông Phan V1 (bà con trong gia đình) và 02 người láng giềng là ông Trần C1, ông Trần Bích .1 Nay, ông Phan V, ông Phan V1, ông Trần C1 đã mất, ông Trần B4 vẫn còn sống, nếu cần thiết có thể triệu tập tới để làm chứng.
Năm 2002, vợ chồng bà tiến hành đăng ký và xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 302, tờ bản đồ số 06, diện tích 495m², sau khi ông Phan S qua đời vào năm 2019. Đến năm 2022, các con của ông S, bà B1 là anh Phan Thiên B3, anh Phan Thiên R và chị Phan Thị Diễm M mới lập thủ tục từ chối nhận thừa kế và thống nhất thửa đất đứng tên bà Nguyễn Thị B1, vì vậy bà mới lại thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất của ông Phan Sáu .2 Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế thì bà không đồng ý.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Phan Thị B2, Phan Thị N thống nhất như ý kiến của nguyên đơn.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Phan Thiên R và chị Phan Thị Diễm M thống nhất như ý kiến của bị đơn. Riêng anh Phan Thiên B3 đã có văn bản uỷ quyền cho bà Nguyễn Thị B1.
Đại diện UBND huyện P trình bày ý kiến tại Công văn số 1342/UBND-TNMT ngày 18/9/2023 và tại phiên toà:
Kết quả kiểm tra hồ sơ lưu trữ:
- - Ngày 31/5/2002, UBND huyện P đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 072426 cho ông Phan S, bà Nguyễn Thị B1 tại thửa đất số 302, tờ bản đồ số 06, diện tích 495m² loại đất ở và đất nông nghiệp, toạ lạc tại Thôn A, xã P theo quy định của Luật đất đai 1993 và Thông tư 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng cục địa chính hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có hiệu lực thi hành tại thời điểm thực hiện.
- - Ngày 31/3/2002, Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện P xác nhận: Thừa kế quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị B1.
- - Về nội dung khởi kiện: UBND huyện đề nghị Toà án xét xử theo quy định của pháp luật.
UBND huyện giao nộp cho Toà án bản sao hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị B1, bao gồm:
- + Đơn xin đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phan S;
- + Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất;
- + Sổ đăng ký ruộng đất;
- + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện P cấp ngày 31/5/2002, số phát hành R 072426 đã cấp cho ông Phan S, Nguyễn Thị B1.
- + Thông báo nộp tiền của cá nhân đối với bất động sản;
- + Chỉnh lý chủ sử dụng đất đối với thửa số 302, tờ bản đồ số 6;
- + Thông báo nộp tiền lệ phí trước bạ nhà, đất;
- + Tờ khai nộp thuế;
- + Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất;
- + Văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế;
- + Phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai;
- + Tờ khai những người thừa kế theo pháp luật của ông S;
- + Giấy cam đoan tặng cho tài sản trên đất của bà B1;
Tại biên bản định giá tài sản ngày 11/8/2023, xác định diện tích đất hiện trạng là 488m², giá trị thửa đất số 302, tờ bản đồ số 06, toạ lạc tại Thôn A, xã P, huyện P như sau:
1. Giá trị đất: Căn cứ theo Quyết định 06/2023/QĐ-UBND ngày 03/02/2023 của UBND tỉnh quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định bảng giá đất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế áp dụng trong thời gian 05 năm (2020 – 2024) ban hành kèm theo quyết định số 80/2019.
- - Giá trị đất theo giá Nhà nước: Thửa đất toạ lạc tại vị trí 03, đoạn từ cầu P đến cầu L, tỉnh lộ 10a, giá đất ở nằm ven đường giao thông chính, thuộc xã P, huyện P.
- Đơn giá đất ở là 266.000đồng/m².
- Đơn giá đất nông nghiệp 33.000đồng/m².
- - Giá trị đất khảo sát giá thị trường: Qua khảo sát giá thị trường và tham khảo ý kiến đại diện của UBND xã P, giá thị trường tại khu vực này có giá bình quân là 6.000.000 đồng/m2. Giá trị toàn bộ diện tích đất theo giá khảo sát thị trường là: 488m² × 6.000.000 đồng/m² = 2.928.000.000đồng.
2. Giá trị nhà căn cứ theo Quyết định 65/2020/QĐ-UBND ngày 21/12/2020 của UBND tỉnh ban hành đơn giá nhà, công trình, vật kiến trúc và các loại mồ mả trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
2.1. Nhà số 1. Nhà cấp 4 (01 tầng) không có khu phụ (I – 3.1b) đơn giá 3.224.000đồng/m2. Nhà được xây dựng năm 1972. Chất lượng còn lại 10%.
Thành tiền: 3.224.000đồng x 1,03 x 1,148 x 10% x 84 m² = 32.022.367 đồng.
2.2 Nhà số 2. Nhà cấp 4, 1 tầng, có khu phụ.
– I – 3.1a, đơn giá 3.564.000đồng/m². Nhà được xây dựng năm 2010, chất lượng còn lại 50%.
Thành tiền: 3.564.000đồng x 1,03 x 1,148 x 50% x 39 m² = 82.177.215 đồng
3. Công trình am thờ.
- - Loại lớn (IX – 2.1) đơn giá: 1.358.000đồng/cái. Số lượng 1 cái.
- - Loại nhỏ (IX – 2.3), đơn giá 792.000đồng/cái. Số lượng 1 cái.
- Chất lượng còn lại 50%. Thành tiền: 1.271.123đồng.
4. Giá trị cây trồng trên thửa đất. Giá trị cây trồng căn cứ theo Quyết định số 11/2023/QĐ-UBND ngày 23/02/2023 của UBND tỉnh T ban hành quy định đơn giá cây trồng làm cơ sở xác định giá trị bồi thường hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất năm 2023.
- - 100 cây chuối, đơn giá 26.700đồng/cây. Thành tiền 2.673.000đồng.
- - 01 Cây mai vàng lá xanh đường kính 2-5cm, đơn giá 106.510đồng/cây. Thành tiền 106.510 đồng.
- - 01 Cây mai vàng lá xanh đường kính 5 – 10cm, đơn giá 532.550đồng/cây. Thành tiền 532.550 đồng.
- - 01 cây ổi, đường kính 3 – 5cm, đơn giá 12.780đồng/cây. Thành tiền 532.550 đồng.
- - 01 cây ổi, đường kính 5 – 10cm, đơn giá 38.340 đồng/cây. Thành tiền 38.340 đồng.
Tổng cộng giá trị cây trồng có trên đất là: 3.972.950 đồng.
Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các bên không thoả thuận được về việc phân chia di sản thừa kế. Tại buổi hoà giải ngày 18/9/2023 và tại phiên tòa, các nguyên đơn và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn thống nhất xin nhận ½ tài sản tranh chấp, còn lại giao cho mẹ con bà Nguyễn Thị B1.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử; nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng, không có vi phạm gì cần kiến nghị khắc phục.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 072426 cho ông Phan S, bà Nguyễn Thị B1 tại thửa đất số 302, tờ bản đồ số 06, diện tích 495m² loại đất ở và đất nông nghiệp, toạ lạc tại Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, chia di sản thừa kế của cụ ông Phan T, cụ bà Nguyễn Thị D, đồng thời chấp nhận sự tự nguyện của các nguyên đơn và bà Phan Thị N, Phan Thị B2 trong việc nhận kỷ phần thừa kế.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông Phan B, Phan C có đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ ông Phan T và cụ bà Nguyễn Thị D là thửa đất số 302, tờ bản đồ số 06, diện tích 495m² loại đất ở và đất nông nghiệp, toạ lạc tại Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Hiện nay, thửa đất này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất đứng tên Nguyễn Thị B1, nên nguyên đơn có yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Toà án xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về thừa kế tài sản” được quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc giải quyết vụ án tranh chấp về thừa kế tài sản có liên quan đến yêu cầu huỷ quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế theo quy định tại Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về tư cách tham gia tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án, ngày 03/8/2023, bà Phan Thị N đã có hợp đồng uỷ quyền cho ông Phan B tham gia tố tụng. Ngày 16/8/2023, anh Phan Thiên B3 đã có văn bản uỷ quyền cho bà Nguyễn Thị B1 tham gia tố tụng. Cả hai văn bản được xác nhận tại Văn phòng công chứng.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về thời hiệu khởi kiện: Cụ ông Phan Thiên T có tên gọi khác là Phan T (chết năm 1994); cụ bà Nguyễn Thị D, (chết năm 2010). Ngày 05/4/2023, ông Phan B và ông Phan C khởi kiện chia di sản thừa kế là thửa đất số 302, tờ bản đồ số 06, diện tích 495m² loại đất ở 400 m² và đất nông nghiệp 95 m², hiện nay đo vẽ theo hiện trạng có diện tích là 488m² loại đất ở 400 m² và đất nông nghiệp 88 m², toạ lạc tại Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ Điều 623 của Bộ luật Dân sự 2015, Khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế ngày 30-8-1990, Công văn số 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế đối với bất động sản là quyền sử dụng đất vẫn còn thời hiệu.
[2.1] Về nguồn gốc khối tài sản:
Nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều thống nhất nội dung: Nguồn gốc nhà và đất thuộc thửa đất số 302, tờ bản đồ số 06, diện tích 488m² loại đất ở và đất nông nghiệp, toạ lạc tại Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế là của cụ ông Phan Thiên T và cụ bà Nguyễn Thị D.
Quá trình sử dụng nhà đất, năm 2001, ông Phan S là con trai của hai cụ Phan Thiên T và Nguyễn Thị D đã làm thủ tục xin cấp Giấy CNQSD đất và đã được UBND huyện P cấp Giấy CNQSD đất số R 072426 ngày 31/5/2002 cho ông Phan S, bà Nguyễn Thị B1 tại thửa đất số 302, tờ bản đồ số 6, diện tích 488m² loại đất ở và đất nông nghiệp, toạ lạc tại Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Năm 2019, ông Phan S qua đời. Ngày 31/3/2022, UBND huyện P có chỉnh lý và đã hoàn tất thừa kế quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị B1.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Cụ ông Phan Thiên Thị m năm 1994, cụ bà Nguyễn Thị D mất năm 2010, năm 2001 ông Phan S làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi nguồn gốc đất do cha mẹ để lại. Thời điểm này cụ Phan Thiên T đã mất nhưng trong Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có văn bản xác định thừa kế của cụ Phan Thiên Thị .3 Cụ Nguyễn Thị D vẫn còn sống cũng không có văn bản tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Phan Sáu .2
Khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND huyện P đã không xác minh đầy đủ về nguồn gốc sử dụng đất mà đã cấp cho ông Phan S, bà Nguyễn Thị B1 là đã cấp không đúng đối tượng.
Năm 2019, ông Phan Sáu m1, đến năm 2022 bà Nguyễn Thị B1 làm thủ tục thừa kế đối với quyền sử dụng đất của ông Phan S, thời điểm này có chỉnh lý về chủ sử dụng đất. Ủy ban nhân dân cũng không xác minh bổ sung, như vậy là vi phạm quy định của Luật Đất đai 2013 và Nghị định số 43/2014 của Chính phủ.
Quá trình giải quyết tại Toà, phía bị đơn cung cấp tài liệu để làm căn cứ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chông ông Phan S và bà Nguyễn Thị B1 gồm:
- - 01 Bản viết tay Giấy giao quyền sử dụng được lập ngày 15/12/1992 của cụ Phan Thiên T, cụ Nguyễn Thị D đối với vợ chồng ông S, có chữ ký của ông Phan B, Phan C, Phan Sáu .2 Nhân chứng ông Phan V, Phan V1, Trần C1, Trần Bích .1
- - 01 Bản đánh máy Giấy giao quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị D đối với ông Phan S được lập ngày 30/9/2004.
Xét Bản viết tay giấy giao quyền sử dụng đất được lập ngày 15/12/1992 của cụ Phan Thiên T và cụ Nguyễn Thị D thể hiện: “... quyền sử dụng cho ông Phan S như nhà vách, ngói, chuồng heo xây, bể nước đất vườn với diện tích 500 m². Đồng thời lúc vợ chồng ông T, bà D quá vãng đồ dùng vật dụng trong nhà đất đều cho con út là Phan S đến đời con cháu về sau của Phan S với điều kiện không được bán đất vườn. Phần còn lại là nhà lớn chỉ để dùng làm nơi thờ tự. Khu nhà đất này tọa lạc tại : A, P, P, Thừa Thiên H2. Vậy gia đình chúng tôi viết giấy này nhờ UB chứng nhận để làm vi bằng tránh sự xâm phạm tranh chấp về sau.”
Xét giấy giao quyền sử dụng đề ngày 15/12/1992 chỉ giao cho ông Phan S quyền sử dụng chứ chưa giao quyền sở hữu nhà đất. Quyền sử dụng chưa nêu thời điểm phát sinh quyền là thời điểm nào. Đồng thời, giấy giao quyền sử dụng này phải có Uỷ ban nhân dân chứng nhận để làm vi bằng nhưng giấy này chưa được chứng thực của Ủy ban theo ý chí của cụ Phan Thiên T và cụ Nguyên Thị D2. Do đó, giấy này không có giá trị về mặt pháp lý để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét giấy giao quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị D lập ngày 20/9/2004, được UBND xã P chứng thực vào ngày 30/9/2004. Về tài sản này thuộc sở hữu chung của vợ chồng cụ Phan Thiên T và cụ Nguyễn Thị D. Do cụ Phan Thiên T chết vào ngày 10/11/1994 nên phần di sản của cụ Phan Thiên T chưa được xem xét nên cụ Nguyễn Thị D tự định đoạt toàn bộ khối tài sản của vợ chồng hai cụ là không đúng theo quy định của pháp luật về tài sản chung vợ chồng. Mặt khác, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được Ủy ban huyện P cấp cho ông S, bà B1 vào năm 2002, như vậy tại thời điểm cấp giấy cho ông S, bà B1 thì không có văn bản chứng cứ xác nhận việc thừa kế quyền sử dụng đất của cụ Phan Thiên T và cụ Nguyễn Thị D.
Xét về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phan S và bà Nguyễn Thị B1 trên cơ sở do đương sự kê khai có nguồn gốc do cha mẹ để lại nhưng không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh cụ Phan Thiên T và cụ Nguyễn Thị D đã giao lại quyền sở hữu, sử dụng cho vợ chồng ông S bà B1 nên việc Ủy ban nhân dân huyện P đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phan S, bà Nguyễn Thị B1 vào ngày 31/5/2002 là không đúng quy định của pháp luật. Do đó, việc xác định thừa kế quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị B1 vào ngày 31/3/2022 của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện P là không có căn cứ.
Hội đồng xét xử xét cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn để huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 072426 ngày 31/5/2002 đã cấp cho ông Phan S, bà Nguyễn Thị B1 và không chấp nhận việc xác định thừa kế quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị B1 vào ngày 31/3/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện P .
Hội đồng xét xử xét có đủ căn cứ để xác định nhà đất tại thửa số 302, tờ bản đồ số 6, diện tích 488m² loại đất ở và đất nông nghiệp, toạ lạc tại Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế là di sản chưa chia của cụ Phan T và cụ Nguyễn Thị D.
b/ Về người quản lý tài sản: Hiện nay, con dâu của cụ Phan Thiên T, Nguyễn Thị D là bà Nguyễn Thị B1 cùng các cháu nội là Phan Thiên B3; Phan Thiên R và Phan Thị Diễm M ở tại ngôi nhà này có công trong việc quản lý, giữ gìn, tôn tạo thửa đất tranh chấp vì vậy cần được trích 5% tổng giá trị di sản chi phí bảo quản di sản, và được hưởng thù lao quản lý di sản theo quy định của luật.
c/ Về giá trị di sản:
Tại biên bản định giá tài sản ngày 11/8/2023, xác định giá trị thửa đất số 302, tờ bản đồ số 06, toạ lạc tại Thôn A, xã P, huyện P như sau:
1. Giá trị đất khảo sát giá thị trường: Qua khảo sát giá thị trường và tham khảo ý kiến đại diện của UBND xã P, giá thị trường tại khu vực này có giá bình quân là 6.000.000 đồng/m2. Giá trị toàn bộ diện tích đất theo giá khảo sát thị trường là: 488m² × 6.000.000 đồng/m² = 2.928.000.000đồng.
2. Giá trị nhà:
2.1. Nhà số 1. Nhà cấp 4 (01 tầng) không có khu phụ (I – 3.1b) đơn giá 3.224.000đồng/m2. Nhà được xây dựng năm 1972. Chất lượng còn lại 10%.
Thành tiền: 3.224.000đồng x 1,03 x 1,148 x 10% x 84m² = 32.022.367 đồng.
2.2 Nhà số 2. Nhà cấp 4, 1 tầng, có khu phụ.
– I – 3.1a, đơn giá 3.564.000đồng/m². Nhà được xây dựng năm 2010, chất lượng còn lại 50%.
Thành tiền: 3.564.000đồng x 1,03 x 1,148 x 50% x 39m² = 82.177.215 đồng.
3. Công trình am thờ, giá trị còn lại là 1.271.123đồng.
4. Giá trị cây trồng trên thửa đất. Trên thửa đất có các cây trồng như cây chuối, cây mai, cây ổi tổng giá trị: 3.363.180đồng.
d/ Về nghĩa vụ tài sản do người chết để lại: Sau khi chết, cụ Phan T, Nguyễn Thị D không để lại nghĩa vụ, trách nhiệm dân sự nên không xem xét.
[2.3] Về hàng thừa kế theo pháp luật của cụ Phan T và cụ Nguyễn Thị D.
Năm 1994 cụ Phan Thiên Thị c không để lại di chúc. Năm 2010, cụ Nguyễn Thị D chết không để lại di chúc. Bố mẹ của cụ T, cụ D đều qua đời trước thời điểm mở thừa kế của hai cụ. Các cụ có 06 người con chung, không có con riêng hay con nuôi, vì vậy Toà án xác định những người thừa kế theo pháp luật của cụ T, cụ D bao gồm:
- + Bà Phan Thị D1, đã chết năm 1969 khi chưa có gia đình;
- + Ông Phan B sinh năm 1950;
- + Bà Phan Thị B2, sinh năm 1954;
- + Ông Phan C, sinh năm 1957;
- + Bà Phan Thị N, sinh năm 1963;
- + Ông Phan S, đã chết năm 2019, những người thừa kế của ông Phan S gồm: Bà Nguyễn Thị B1 và 03 người con là Phan Thiên B3, Phan Thiên R và Phan Thị Diễm M.
[2.4] Về phân chia di sản thừa kế của cụ Phan Thiên T, Nguyễn Thị D theo pháp luật:
+ Chia bằng giá trị: Về ngôi nhà giá trị không đáng kể nên các đương sự không yêu cầu chia. Tuy nhiên đây là di sản để lại của bố mẹ ông S nên cần buộc ông B, ông C, bà B2, bà N thanh toán lại cho những người thừa kế của ông Phan S số tiền 32.022.367 đồng : 5 kỷ phần = 6.404.473 đồng
Về giá trị quyền sử dụng đất:
Di sản thừa kế là thửa đất số 302, tờ bản đồ số 6, toạ lạc tại Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, diện tích đất 488m². Đất theo giá thị trường vào thời điểm định giá là 6.000.000đồng/m². Tổng giá trị tài sản tranh chấp là 2.928.000.000đồng. (Hai tỷ chín trăm hai mươi tám triệu đồng).
Nhận thấy, bị đơn bà Nguyễn Thị B1 là người ở trên đất, bà B1 cùng chồng là ông Phan S và các con đã có công sức duy trì, bảo quản thửa đất và tài sản trên đất nên cần trích công sức cho bà B1 5% giá trị di sản là 2.928.000.000đồng x 5%. = 146.400.000 đồng.
Giá trị còn lại là: (2.928.000.000đồng - 146.400.000 đồng) = 2.781.600.000, đồng;
Kỷ phần được chia theo giá trị là: 2.781.600.000 đồng : 5 = 556.320.000 đồng;
Phần của những người thừa kế của ông S là: 556.320.000 đồng + 146.400.000 đồng + 6.404.473 đồng = 709.124.473 đồng.
Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét ý kiến của nguyên đơn ông Phan B, Phan C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị B2, Phan Thị N có nguyện vọng chỉ nhận ½ quyền sử dụng đất và gộp lại để làm nhà thờ tự, giao cho ông Phan B đại diện đứng tên, phần còn lại giao cho những người thừa kế của ông Phan Sáu sở h, sử dụng. Xét yêu cầu này của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, cần chấp nhận để giải quyết vụ án.
Di sản của cụ T, cụ D chia cho 02 phần, giá trị mỗi kỷ phần thừa kế là: 488m² : 02 = 244 m² (tương đương 1.464.000.000đồng).
Căn cứ vào Bản vẽ hiện trạng nhà đất được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P thực hiện ngày 29 tháng 8 năm 2023, hiện nay trên đất có xây dựng 02 nhà ở kiên cố, việc tháo dỡ là ảnh hưởng đến toàn bộ kết cấu của 02 ngôi nhà, trong đó vị trí số 1 là nhà do cụ Phan Thiên T, cụ Nguyễn Thị D xây dựng từ năm 1972, giá trị còn lại chỉ còn 10% ông B, ông C, bà B2, bà N không yêu cầu chia vì ngôi nhà đã xuống cấp trầm trọng, tuy nhiên cần buộc nguyên đơn phải thanh toán cho những người thừa kế của ông Phan S với số tiền 6.404.473 đồng; nhà vị trí số 2 do bà Nguyễn Thị B1 xây dựng năm 2010, giá trị còn lại là 50% bà B1 và các con tiếp tục quản lý sử dụng.
Trên cơ sở ý kiến của các đương sự Hội đồng xét xử xét trong quá trình ở trên đất của bố mẹ, ông S và bà B1 có công sức duy trì bảo quản và nâng giá trị quyền sử dụng đất nên cần chấp nhận theo yêu cầu của ông B, ông C, bà B2, bà N để chia thửa đất thành hai phần:
- + Phần I có diện tích 222,7 m² (trong đó đất ở 170 m², đất nông nghiệp 52,7 m²) có giá trị là: 1.336.200.000 đồng, giao cho những người thừa kế của ông Phan S do bà Nguyễn Thị B1 đại diện nhận;
- + Phần II là phần còn lại có diện tích 265,3 m² (trong đó đất ở 230 m², đất nông nghiệp 35,3 m²) có giá trị là: 1.591.800.000 đồng, giao cho ông B, ông C, bà B2, bà N do ông B đại diện nhận. Các ông B, ông C, bà B2, bà N có tự nguyện tháo dở phần kết cấu vật liệu thành ngôi nhà và các tài sản có liên quan đến ngôi nhà của cụ Phan Thiên T, cụ Nguyễn Thị D trên đất đã giao cho những người thừa kế của ông S. (Có bản vẽ kèm theo)
Đối với cây cối trên đất do bà Nguyễn Thị B1 trồng, các cây di dời được thì giao trả cho bà B1, còn các cây trồng gắn liền với đất thì ông B, ông C, bà B2, bà N đều tự nguyện thanh toán lại cho bà Nguyễn Thị B1 số tiền: 3.363.180 đồng.
Các ông B, ông C, bà B2, bà N có trách nhiệm thanh toán cho những người thừa kế của ông Phan S với tổng số tiền là: 3.363.180đồng + 6.404.473 đồng = 9.767.653 đồng.
[3] Về chi phí tố tụng: Ông Phan B đã tự nguyện chịu toàn bộ chi phí định giá tài sản, đã nộp đủ và chi phí hết cho việc định giá đo đạc.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Những người thừa kế của ông Phan S phải chịu án phí tương ứng với kỷ phần được nhận là 36.000.000 đồng + (536.200.000 đồng x 3 %) = 52.086.000 đồng, do bà Nguyễn Thị B1 đại diện chịu.
Ông Phan B, Phan C, bà Phan Thị N, bà Phan Thị B2 chịu án phí tương ứng với kỷ phần được nhận 36.000.000 đồng + (791.800.000 đồng x 3 %) = 59.754.000 đồng, mỗi người phải chịu: 14.938.500 đồng; Các Ông Phan B, Phan C, bà Phan Thị N, bà Phan Thị B2 có đơn xin miễn giảm tiền án phí nên căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về thu nộp án phí, lệ phí Toà án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội để miễn án phí cho các đương sự;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 147, Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 623 của Bộ luật Dân sự 2015, Khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế ngày 30-8-1990, Công văn số 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế đối với bất động sản là quyền sử dụng đất.
Áp dụng Điều 611, 613, khoản 2 Điều 616, Điều 618, 650, 651, 652 của Bộ luật dân sự 2015; điểm d khoản 1 Điều 12, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về thu nộp án phí, lệ phí Toà án của Ủy ban thường vụ Q;
Tuyên xử:
- Huỷ Giấy CNQSD đất số R 072426 ngày 31/5/2002 mà UBND huyện P đã cấp cho ông Phan S, bà Nguyễn Thị B1 tại thửa đất số 302, tờ bản đồ số 6, có ghi diện tích 495m² loại đất ở 400 m² và đất nông nghiệp 95 m², toạ lạc tại Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị B1 về việc xác định: Bản viết tay Giấy giao quyền sử dụng được lập ngày 15/12/1992 của cụ Phan Thiên T, cụ Nguyễn Thị D đối với vợ chồng ông S và Bản đánh máy Giấy giao quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị D đối với ông Phan S được lập ngày 30/9/2004 để thụ hưởng di sản thừa kế của cụ Phan Thiên T, cụ Nguyễn Thị D.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông Phan B, ông Phan C.
- + Về di sản thừa kế: Cụ Phan Thiên T, cụ Nguyễn Thị D trước khi chết có tạo lập khối tài sản gồm: Nhà đất tại thửa đất số 302, tờ bản đồ số 6, diện tích 495m² loại đất ở và đất nông nghiệp (Diện tích đất theo hiện trạng là 488 m² loại đất ở 400 m² và đất nông nghiệp 88 m²) toạ lạc tại Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Do giá trị ngôi nhà không đáng kể nên các đương sự không yêu cầu chia. Về giá trị quyền sử dụng đất là: 2.928.000.000đồng. (Hai tỷ chín trăm hai mươi tám triệu đồng). Và giá trị ngôi nhà là 32.022.367 đồng.
- Tổng giá trị di sản của cụ Phan Thiên T, cụ Nguyễn Thị D là: 2.960.022.367 đồng.
- + Về hàng thừa kế: Gồm có ông Phan B sinh năm 1950; Bà Phan Thị B2, sinh năm 1954; Ông Phan C, sinh năm 1957; Bà Phan Thị N, sinh năm 1963;
- Và ông Phan S, do ông S đã chết năm 2019 nên những người thừa kế của ông Phan S gồm: Bà Nguyễn Thị B1 và 03 người con là Phan Thiên B3, Phan Thiên R và Phan Thị Diễm M.
- + Về phương thức phân chia:
- Chấp nhận sự tự nguyện của ông Phan B, ông Phan C, bà Phan Thị B2, bà Phan Thị N:
- Giao thửa đất phần I tại thửa đất số 302, tờ bản đồ số 6, diện tích 222,7m² ( Trong đó diện tích đất ở là 170 m² và đất nông nghiệp có diện tích là 52,7m²), có căn nhà hiện đang do bà Nguyễn Thị B1 đang ở, toạ lạc tại Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cho những người thừa kế của ông Phan S do bà Nguyễn Thị B1 đại diện nhận.
- Giao thửa đất phần II tại thửa đất số 302, tờ bản đồ số 6, diện tích 265,3m² ( Trong đó diện tích đất ở là 230 m² và đất nông nghiệp có diện tích là 35,3m², toạ lạc tại Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cho ông Phan B, ông Phan C, bà Phan Thị B2, bà Phan Thị N do ông Phan B đại diện nhận.
- Sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, những người được nhận kỷ phần thừa kế có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất được nhận theo quy định của pháp luật (có bản vẽ kèm theo).
- Các ông Phan B, ông Phan C, bà Phan Thị B2, bà Phan Thị N tự nguyện tháo dở ngôi nhà của cụ Phan Thiên T và cụ Nguyễn Thị D và các tài sản có liên quan đến nhà cụ Phan Thiên T, cụ Nguyễn Thị D để trả lại đất cho những người thừa kế của ông Phan Sáu .2
- Những người thừa kế của ông Phan S có nghĩa vụ tháo dỡ các tài sản và di chuyển các loại cây trồng có trên đất ở phần II để giao đất cho ông Phan B, ông Phan C, bà Phan Thị B2, bà Phan Thị N.
- Các ông Phan B, ông Phan C, bà Phan Thị B2, bà Phan Thị N có nghĩa vụ thanh toán tiền giá trị cây trồng và giá trị kỷ phần ông S được hưởng về ngôi nhà cho những người thừa kế của ông Phan S là 9.767.653 đồng. Do bà Nguyễn Thị B1 đại diện nhận.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Những người thừa kế của ông Phan S phải chịu án phí với số tiền là: 52.086.000 đồng, do bà Nguyễn Thị B1 đại diện chịu.
- Ông Phan B, Phan C, bà Phan Thị N, bà Phan Thị B2 được miễn án phí án phí dân sự sơ thẩm.
- Lệ phí định giá, đo đạc:
- Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí định giá tài sản, đã nộp đủ.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu thêm một khoản lãi, theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo:
- Nguyên đơn, Bị đơn, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- - VKSND tỉnh TT Huế;
- - Cục THADS tỉnh TT Huế;
- - Chi Cục THADS TP Huế
- - Các đương sự;
- - Lưu Tòa DS; Lưu Hồ sơ.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hưng Bính |
Bản án số 25/2023/DS-ST ngày 07/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 25/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan B + Nguyễn Thị B1 Tranh chấp thừa kế tài sản
