Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 25/2024/KDTM-ST
Ngày 07-6-2024
V/v tranh chấp hợp đồng mua
bán hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tống Văn Tâm.

Ông Nguyễn Thanh Cần.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh, thương mại thụ lý số 48/2024/TLST-KDTM, ngày 12 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-KDTM ngày 10 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm số 12/QĐST-KDTM ngày 17 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH Một thành viên D; địa chỉ trụ sở: số D, đường T, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn T; chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: bà Huỳnh Thị Ái P, sinh năm 1992; địa chỉ: số A, đường N, Phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 29/01/2024); có mặt.

- Bị đơn: Công ty TNHH Đ; địa chỉ trụ sở: thửa đất số 1334, tờ bản đồ số 12, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật: bà Đỗ Thị N – chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: ông Cao Văn C, sinh năm 1989; địa chỉ: tổ C, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 16/4/2024); vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ái P thống nhất trình bày:

Ngày 25/8/2022, Công ty TNHH Đ (sau đây gọi là Công ty Đ Thịnh) ký Hợp đồng mua bán hàng hóa số 1132082022/QD-TPT với Công ty TNHH Một thành viên D (sau đây gọi là Công ty D) để mua Máy ép Cao tần với giá 621.000.000 đồng; hợp đồng quy định lãi suất chậm trả là 0,1% cho 01 ngày chậm trễ, bên nào vi phạm cam kết trong hợp đồng thì bị phạt 08% giá trị của hợp đồng. Do Công ty Đ Thịnh giữ bản chính hợp đồng nên Công ty D không có hợp đồng để giao nộp cho Tòa án.

Ngày 30/8/2022, Công ty D đã giao hàng cho Công ty Đ. Ngày 31/8/2022, Công ty D và Công ty Đ tiến hành nghiệm thu máy. Ngày 15/9/2022, Công ty D xuất Hóa đơn giá trị gia tăng số 309 cho Công ty Đ và Công ty Đ đã thanh toán được số tiền 490.400.000 đồng; còn nợ số tiền 130.600.000 đồng.

Vì vậy, Công ty D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty Đ Thịnh thanh toán số tiền nợ gốc là 130.600.000 đồng và tiền phạt vi phạm hợp đồng 8% trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán là 10.400.000 đồng. Tổng số tiền phải thanh toán là 141.000.000 đồng.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 17/4/2024, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Cao Văn C trình bày:

Ngày 25/8/2022, Công ty Đ Thịnh ký Hợp đồng mua bán hàng hóa số 1132082022/QD-TPT với Công ty D để mua Máy ép Cao tần với giá 621.000.000 đồng. Các bên thỏa thuận trong hợp đồng: lãi suất chậm trả là 0,1% cho 01 ngày chậm trễ, bên nào vi phạm cam kết trong hợp đồng thì bị phạt 08% giá trị của hợp đồng. Công ty Đ T1 đã nhận hàng và đã thanh toán một phần tiền hàng cho Công ty D. Tính đến ngày 23/10/2023, Công ty Đ còn nợ Công ty D số tiền hàng là 222.600.000 đồng theo như T2 xác nhận công nợ do Công ty D lập ngày 23/10/2023. Sau đó, Công ty Đ T1 tiếp tục thanh toán tiền cho Công ty D 03 lần với tổng số tiền 92.000.000 đồng (cụ thể: ngày 11/11/2023: 42.000.000 đồng, ngày 06/01/2024: 30.000.000 đồng, ngày 22/01/2024: 20.000.000 đồng). Hiện Công ty Đ còn nợ Công ty D số tiền hàng là 130.600.000 đồng. Do Công ty Đ T1 làm ăn kinh doanh thua lỗ nên không có khả năng thanh toán số tiền còn lại cho Công ty D.

Trước yêu cầu khởi kiện của Công ty D, Công ty Đ T1 đồng ý thanh toán số tiền nợ gốc còn lại là 130.600.000 đồng và thanh toán số tiền phạt vi phạm hợp đồng trên số tiền nợ gốc là 10.400.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên toà sơ thẩm như sau:

Về tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của bị đơn thừa nhận còn nợ nguyên đơn số tiền 130.600.000 đồng và bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp:

Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn Công ty D yêu cầu bị đơn Công ty Đ Thịnh trả tiền mua hàng còn nợ và tiền phạt vi phạm hợp đồng nên đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo quy định tại Điều 27 của Luật Thương mại và Điều 385 của Bộ luật Dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn Công ty Đ có trụ sở tại thửa đất số 1334, tờ bản đồ số 12, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

[3] Về nội dung vụ án:

Công ty D ký kết Hợp đồng mua bán hàng hóa số 1132082022/QD-TPT ngày 25 tháng 8 năm 2022 để bán Máy ép Cao tần cho Công ty Đ với giá 621.000.000 đồng và đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng đầy đủ. Công ty Đ đã thanh toán số tiền 490.400.000 đồng; còn nợ số tiền 130.600.000 đồng. Do đó, Công ty D khởi kiện yêu cầu Công ty Đ Thịnh thanh toán số tiền nợ gốc là 130.600.000 đồng và tiền phạt vi phạm hợp đồng 8% trên số tiền nợ gốc là 10.400.000 đồng. Tổng số tiền phải thanh toán là 141.000.000 đồng.

[4] Đối với yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc:

Xét thấy, tại Biên bản lấy lời khai ngày 17/4/2024, người đại diện theo ủy quyền của Công ty Đ T1 thừa nhận Công ty Đ có ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa với Công ty D và xác nhận còn nợ Công ty D tiền hàng là 130.600.000 đồng nên đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bên bán đã thực hiện nghĩa vụ giao hàng, bên mua đã nhận hàng nhưng không thanh toán đầy đủ tiền mua hàng là vi phạm nghĩa vụ thanh toán quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Thương mại. Do vậy yêu cầu của Công ty D buộc Công ty Đ Thịnh thanh toán tiền mua hàng còn nợ 130.600.000 đồng là có căn cứ.

[5] Đối với yêu cầu thanh toán tiền phạt vi phạm hợp đồng do chậm thực hiện nghĩa vụ:

Xét thấy, tại Biên bản lấy lời khai ngày 17/4/2024, người đại diện theo ủy quyền của Công ty Đ T1 thừa nhận các bên thỏa thuận tiền phạt vi phạm hợp đồng là 8% và đồng ý thanh toán tiền phạt vi phạm trên số tiền chưa thanh toán là 10.400.000 đồng, phù hợp quy định tại các Điều 300, 301 của Luật Thương mại và Điều 418 của Bộ luật Dân sự.

[6] Từ những phân tích và căn cứ nêu tại mục [4] và [5], có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty D, buộc Công ty Đ thanh toán cho Công ty D:

  • - Số tiền nợ gốc: 130.600.000 đồng.
  • - Số tiền phạt vi phạm hợp đồng: 10.400.000 đồng
  • Tổng số tiền phải thanh toán là 141.000.000 đồng.

[7] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp.

[8] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: bị đơn Công ty Đ Thịnh phải chịu án phí đối với phần yêu cầu của nguyên đơn Công ty D được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92; các Điều 147, 227, 235, 244, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 50, 55, 300, 301 của Luật Thương mại;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên D về việc “tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” với bị đơn Công ty TNHH Đ.

Buộc bị đơn Công ty TNHH Đ có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên D tổng số tiền 141.000.000 đồng (một trăm bốn mươi mốt triệu đồng); trong đó: tiền nợ gốc là 130.600.000 đồng, tiền phạt vi phạm hợp đồng là 10.400.000 đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền trên thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí:

Buộc bị đơn Công ty TNHH Đ phải chịu 7.050.000 đồng (bảy triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm.

Trả lại cho nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên D số tiền 4.507.000 đồng (bốn triệu năm trăm linh bảy nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002000 ngày 08/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại các Điều 1 và 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - CCTHADS thành phố Tân Uyên;
  • - Các đương sự (2);
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, Văn thư, 7.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lê Thị Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/KDTM-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 25/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: MUa bán hàng hóa
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger