|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST Ngày: 07-5-2024 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Thanh Thảo
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Quang Thanh
- Ông Trần Văn Hải
- - Thư ký phiên toà: Ông Bùi Phan Minh Trí - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình – ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 122/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 104/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Nguyễn Thị Ánh L, sinh năm 1972;
- Địa chỉ: Số A, Tổ A, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- - Bị đơn: Võ Văn S, sinh năm 1970;
- Địa chỉ: Số A, Tổ A, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp
- (Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 30/01/2024, nguyên đơn Nguyễn Thị Ánh L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Võ Văn S kết hôn năm 1993, nhưng không có đăng ký kết hôn.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2021, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm về cuộc sống, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn dẫn đến không còn quan tâm chăm sóc gia đình, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Chị nhận thấy tình cảm không thể hàn gắn, mục đích xây dựng gia đình không đạt được. Nay, chị L yêu cầu được ly hôn với anh Võ Văn S.
Về con chung: Chị và anh Võ Văn S có 01 con chung, tên Võ Thị Kim T, sinh ngày 09/7/1994. Hiện nay con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không có yêu cầu nào khác, không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.
Anh Võ Văn S vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên toà, không có văn bản trình bày ý kiến và không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh L yêu cầu được ly hôn với anh Võ Văn S, như vậy quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Võ Văn S có địa chỉ tại xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ánh L và anh Võ Văn S chung sống với nhau từ năm 1993 trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện nhưng không đăng ký kết hôn là không tuân thủ đúng quy định tại khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.
Khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”
Như vậy, theo quy định pháp luật thì hôn nhân giữa chị L và anh S không có giá trị pháp lý, không được pháp luật công nhận.
Tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và 16 của Luật này”. Do đó, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ giữa chị Nguyễn Thị Ánh L và anh Võ Văn S là vợ chồng theo quy định của pháp luật.
[4] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ánh L và anh Võ Văn S có 01 con chung, tên Võ Thị Kim T, sinh ngày 09/7/1994. Hiện nay, con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị L phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình ly hôn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị Ánh L và anh Võ Văn S là vợ chồng.
Về con chung: Hội đồng xét không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Ánh L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000399 ngày 06/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Chị Nguyễn Thị Ánh L đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con
Anh Võ Văn S không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình ly hôn.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Đặng Thị Thanh Thảo |
Bản án số 25/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 25/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: V quan h hôn nh n: Không công nhận chị Nguyễn Thị Ánh L và anh Võ là vợ chồng.
