|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2024/DS-ST
Ngày 07 tháng 5 năm 2024
V/V: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Trịnh Văn Nhất.
- Bà Hoàng Thị Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Chu Ngọc Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 159/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 32/2024/QĐST-DS ngày 19/04/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q1 (V2)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V1, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Tầng A (tầng trệt) và tầng 2, tòa nhà S P, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V-Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Công H, ông Vũ Anh Q, ông Nguyễn Văn T - Chức vụ: Cán bộ Ngân hàng TMCP Q1 theo Giấy ủy quyền số 128365.23 ngày 22/8/2023 của Giám đốc Thu hồi nợ trực tiếp và xử lý nợ - Trung tâm quản lý nợ Ngân hàng B - Khối Ngân hàng bán lẻ V2.
(Ông T có mặt)
HKTT: Khu C, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam X, Cục C, Bộ C1; Địa chỉ: Thôn P, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
(Có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Ngân hàng TMCP Q1 (V2) – V2 ký với anh Nguyễn Văn V1 Hợp đồng tín dụng số 1944654.22 ngày 03/08/2022 với nội dung: Số tiền giải ngân: 800.000.000 đồng (T1 trăm triệu đồng); Mục đích giải ngân: Thanh toán mua 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia, số loại: K5 2,5AT GTLINE; Thời hạn vay: 48 tháng từ ngày 04/08/2022 đến 08/08/2026; Lãi suất tại thời điểm giải ngân là 9.7%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất thông thường là Lãi suất cơ sở trong kỳ + biên độ 3.7 %/năm) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân Khoản vay. Hết thời hạn nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng Lãi suất cơ sở theo sản phẩm theo quy định của V2 tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3.9 %/năm. Hoàn trả khoản vay gốc: Vào ngày 25 hàng tháng, kỳ trả đầu tiên 25/08/2022; mỗi kỳ trả 16.666.667 đồng, số còn lại trả vào cuối kỳ. Hoàn trả lãi: Vào ngày 25 hàng tháng; Trả phí: theo quy định của V2 từng thời kỳ; Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. V2 đã giải ngân cho anh V1 theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 1944654(1).22 ngày 03/08/2022 với số tiền 800.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.
Ngày 03/08/2022, anh V1 đăng ký phát hành thẻ tín dụng quốc tế tại V2, hạn mức là 80.000.000 đồng, mục đích sử dụng: tiêu dùng. Căn cứ đơn đề nghị của anh V1, ngày 03/08/2022 Ngân hàng TMCP Q1 (V2) – V2 đã chấp thuận và phát hành cho anh V1 được sử dụng thẻ tín dụng tại VIB với hạn mức phê duyệt là: 80.000.000 đồng.
Để đảm bảo cho các khoản vay của anh V1 tại Ngân hàng TMCP Q1, anh V1 có ký 01 Hợp đồng thế chấp với Ngân hàng TMCP Q1. Tài sản thế chấp là 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia, số loại: K5 2,5AT GTLINE. Tuy nhiên, Ngân hàng không đề nghị Toà án xem xét đến Hợp đồng thế chấp trong vụ án, không đề nghị Toà án buộc anh V1 nếu không trả được nợ thì Ngân hàng TMCP Q1 có quyền đề nghị Cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu anh Nguyễn Văn V1 phải trả cho Ngân hàng TMCP Q1 tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 05/01/2024 là 1.012.286.502 đồng, trong đó: Dư nợ theo hợp đồng tín dụng số 1944645.22 ngày 03/8/2022 là 885.840.818 đồng (nợ gốc là 749.166.199 đồng, nợ lãi là 54.159.086 đồng, nợ lãi quá hạn là 82.515.533 đồng); Dư nợ khoản vay thẻ tín dụng theo đơn phát hành thẻ tín dụng đã ký ngày 03/8/2022 là 126.445.684 đồng (nợ gốc là 71.998.363 đồng, nợ lãi là 54.447.321 đồng) và toàn bộ tiền lãi, lãi quá hạn từ ngày 06/01/2024 đến khi anh V1 thanh toán xong toàn bộ khoản vay theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ đã ký.
*Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn anh Nguyễn Văn V1 trình bày:
Ngày 03/8/2022, anh có ký Hợp đồng tín dụng số 1944654.22 với Ngân hàng TMCP Q1 để vay số tiền 800.000.000 đồng. Mục đích vay tiền là để mua xe sử dụng cá nhân. Lãi suất, phương thức thanh toán cho Ngân hàng, anh không nhớ. Cùng ngày, anh có ký đơn đề nghị phát hành thẻ và được Ngân hàng chấp nhận phát hành thẻ tín dụng cho anh với hạn mức 80.000.000 đồng. Chữ ký V1 – Nguyễn Văn V1” tại Hợp đồng tín dụng số 1944654.22 và Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng đều đề ngày 03/8/2022 đúng là của anh. Anh không có ý kiến gì về trình tự, thủ tục ký kết Hợp đồng tín dụng số 1944654.22 ngày 03/8/2022 và Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 03/8/2021. Từ khi vay đến nay anh đã thanh toán cho Ngân hàng một khoản tiền nhưng không nhớ số tiền cụ thể vì Ngân hàng trừ tự động hàng tháng qua số tài khoản của anh. Anh chỉ nhớ số tiền nợ còn lại vào thời điểm tháng 10/2022 là hơn 700.000.000 đồng.
Anh đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Tuy nhiên do hiện nay anh đang phải đi chấp hành án tại trại giam X nên đề nghị Ngân hàng chỉ tính lãi suất đối với anh đến ngày 22/6/2023 như trong đơn khởi kiện vì nếu cứ tiếp tục tính lãi thì anh không đủ khả năng trả nợ. Anh phải chấp hành hình phạt tù 21 năm 06 tháng mà hiện nay mới chấp hành được 17 tháng nên không có thu nhập và tài sản để trả nợ.
* Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không hòa giải được vì bị đơn xin vắng mặt.
* Tại phiên toà ngày 19/4/2024, nguyên đơn đề nghị hoãn phiên toà nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên toà.
* Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị đơn anh Nguyễn Văn V1 xin vắng mặt.
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngân hàng TMCP Q1 yêu cầu anh Nguyễn Văn V1 phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 07/05/2024 là 1.089.851.528 đồng, trong đó: Dư nợ theo hợp đồng tín dụng số 1944645.22 ngày 03/8/2022 là 947.498.628 đồng (nợ gốc là 749.166.199 đồng, nợ lãi là 54.159.086 đồng, nợ lãi quá hạn là 144.173.343 đồng); Dư nợ khoản vay thẻ tín dụng theo đơn phát hành thẻ tín dụng đã ký ngày 03/8/2022 là 142.352.900 đồng (nợ gốc là 71.998.363 đồng, nợ lãi là 70.354.537 đồng) và toàn bộ tiền lãi, lãi quá hạn từ ngày 08/05/2024 đến khi anh V1 thanh toán xong toàn bộ khoản vay theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ đã ký. Anh V1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán với Ngân hàng từ ngày 25/11/2022. Đối với lãi suất của khoản vay thẻ tín dụng theo đơn phát hành thẻ tín dụng đã ký ngày 03/8/2022 đã được anh V1 cam kết đồng ý tính theo Biểu phí và Điều khoản điều kiện VIB Cash Back của Ngân hàng tại Đơn đề nghị phát hành thẻ ngày 03/8/2022.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Luật các tổ chức tín dụng, Nghị quyết số 01/2019/NQQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Bộ Luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
+ Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Q1 về việc buộc anh Nguyễn Văn V1 thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 07/05/2024 là 1.089.851.528 đồng, trong đó: Dư nợ theo hợp đồng tín dụng số 1944645.22 ngày 03/8/2022 là 947.498.628 đồng (nợ gốc là 749.166.199 đồng, nợ lãi là 54.159.086 đồng, nợ lãi quá hạn là 144.173.343 đồng); Dư nợ khoản vay thẻ tín dụng theo đơn phát hành thẻ tín dụng đã ký ngày 03/8/2022 là 142.352.900 đồng (nợ gốc là 71.998.363 đồng, nợ lãi là 70.354.537 đồng) và toàn bộ tiền lãi, lãi quá hạn từ ngày 08/05/2024 đến khi anh V1 thanh toán xong toàn bộ khoản vay theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ đã ký.
+ Về án phí: Anh Nguyễn Văn V1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng TMCP Q1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn có đơn xin vắng mặt. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đảm bảo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Văn V1 là cá nhân không có giấy phép đăng ký kinh doanh, ký kết các hợp đồng tín dụng để vay tiền Ngân hàng TMCP Q1 nhằm mục đích tiêu dùng. Từ ngày 25/11/2022, anh V1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với các khoản vay, toàn bộ khoản vay của anh V1 chuyển sang nợ quá hạn. Các bên không tự giải quyết được tranh chấp nên Ngân hàng TMCP Q1 khởi kiện ra Tòa án, yêu cầu anh V1 thanh toán nợ. Đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng. Bị đơn anh V1 có hộ khẩu thường trú tại thành phố B. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý, giải quyết vụ án này là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Ngày 03/8/2022, anh Nguyễn Văn V1 có ký Hợp đồng tín dụng số 1944654.22 với Ngân hàng TMCP Q1 để vay số tiền 800.000.000 đồng. Mục đích vay: Thanh toán tiền mua xe ô tô. Cùng ngày 03/8/2022, anh V1 có ký Đơn đề nghị phát hành thẻ với hạn mức tín dụng là 80.000.000 đồng.
Theo Hợp đồng tín dụng số 1944654.22, lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là: 9,7%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất thông thường là Lãi suất cơ sở trong kỳ + biên độ 3.7 %/năm) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân Khoản vay. Hết thời hạn nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng Lãi suất cơ sở theo sản phẩm theo quy định của V2 tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3.9 %/năm. Đối với lãi suất của Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 03/8/2022 áp dụng Biểu phí và Điều khoản điều kiện V2 của Ngân hàng.
Tính đến hết ngày 07/5/2024, anh V1 chưa thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q1 tổng số tiền là 1.089.851.528 đồng, trong đó: Dư nợ theo hợp đồng tín dụng số 1944645.22 ngày 03/8/2022 là 947.498.628 đồng (nợ gốc là 749.166.199 đồng, nợ lãi là 54.159.086 đồng, nợ lãi quá hạn là 144.173.343 đồng); Dư nợ khoản vay thẻ tín dụng theo đơn phát hành thẻ tín dụng đã ký ngày 03/8/2022 là 142.352.900 đồng (nợ gốc là 71.998.363 đồng, nợ lãi là 70.354.537 đồng).
Tại Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm quy định: “1. Lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất. 2.Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định lãi, lãi suất".
Tại khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
Anh V1 đã được Ngân hàng thông báo về lãi suất cho vay, không có ý kiến gì, đã thực hiện trả gốc, trả lãi đối với các hợp đồng tín dụng nêu trên tính đến ngày 22/6/2023 là: 68.081.198 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, anh V1 cũng nhất trí với toàn bộ số nợ gốc, nợ lãi mà Ngân hàng khởi kiện. Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc anh V1 phải trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi, lãi quá hạn theo các Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký với Ngân hàng thương mại cổ phần Q1. Số tiền tạm tính đến hết ngày 07/5/2024 là 1.089.851.528 đồng, trong đó: Dư nợ theo hợp đồng tín dụng số 1944645.22 ngày 03/8/2022 là 947.498.628 đồng (nợ gốc là 749.166.199 đồng, nợ lãi là 54.159.086 đồng, nợ lãi quá hạn là 144.173.343 đồng); Dư nợ khoản vay thẻ tín dụng theo đơn phát hành thẻ tín dụng đã ký ngày 03/8/2022 là 142.352.900 đồng (nợ gốc là 71.998.363 đồng, nợ lãi là 70.354.537 đồng) và toàn bộ tiền lãi, lãi quá hạn từ ngày 08/05/2024 đến khi anh V1 thanh toán xong toàn bộ khoản vay theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ đã ký.
[4] Về án phí: Yêu cầu của Ngân hàng TMCP Q1 đối với số tiền 1.089.851.528 đồng được chấp nhận, do vậy anh V1 phải chịu án phí dân sự là 44.695.000 đồng theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ngân hàng TMCP Q1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95, Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Q1 về việc buộc anh Nguyễn Văn V1 thanh toán toàn bộ nợ gốc, nợ lãi, lãi quá hạn theo các Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng thương mại cổ phần Q1. Số tiền tạm tính đến hết ngày ngày 07/5/2024 là 1.089.851.528 đồng, trong đó: Dư nợ theo hợp đồng tín dụng số 1944645.22 ngày 03/8/2022 là 947.498.628 đồng (nợ gốc là 749.166.199 đồng, nợ lãi là 54.159.086 đồng, nợ lãi quá hạn là 144.173.343 đồng); Dư nợ khoản vay thẻ tín dụng theo Đơn đề nghị phát hành thẻ ngày 03/8/2022 là 142.352.900 đồng (nợ gốc là 71.998.363 đồng, nợ lãi là 70.354.537 đồng).
- Kể từ ngày 08/5/2024, anh V1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà anh V1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về án phí: Anh V1 phải chịu 44.695.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng TMCP Q1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 19.410.000 đồng theo biên lai số 0000139 ngày 16/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Phương Thảo |
Bản án số 25/2024/DS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 25/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: VIB- Nguyễn Văn V Tranh chấp hợp đồng tín dụng
