|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2024/HS-ST
Ngày 06 tháng 12 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tráng A Tếnh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Cầm Văn Tổ, ông Hà Văn Sơ
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huế – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2024/HSST ngày 19 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lò Văn Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 20 tháng 10 năm 1986 tại huyện T, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Bản M, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Lò Văn T (đã chết) và bà Lường Thị É, sinh năm 1946. Bị cáo có vợ là Lường Thị T1, sinh năm 1991. Bị cáo có 02 con sinh năm 2009 và 2018.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Lường Thị T1, sinh năm 1991. Địa chỉ: Bản M, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ ngày 15/8/2024, Lò Văn Q điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha-Exciter, màu xám đen, biển kiểm soát 26M1-167.16 đi từ nhà tại bản M, xã P,
huyện T đến xã C, huyện S để bán ghế mây. Khoảng 09 giờ cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô về nhà, đến khu vực đường Q thuộc xã C, huyện S thì Q gặp và mua được của một người đàn ông (không biết tên địa chỉ) đứng ở ven đường phía bên phải hướng Sông Mã đi thành phố S 02 gói nilon màu hồng gói thứ nhất chứa 02 viên hồng phiến, gói thứ hai chứa heroine với giá 200.000đồng. Q cất hai gói ma túy vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Đến 12 giờ 05 phút, Q đi đến khu vực đường Q thuộc bản Có Tình, xã C, huyện M thì bị công an xã C phối hợp với Đội cảnh sát giao thông – trật tự, Công an huyện M làm nhiệm vụ, phát hiện, thu giữ của Q 02 gói nilon màu hồng, gói thứ nhất chứa 02 viên nén màu hồng nghi là methamphetamine, gói thứ hai chứa chất bột nén màu trắng nghi là heroine; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu trắng đen; 01 xe mô tô hiệu hiệu Yamaha-Exciter, màu xám đen, biển kiểm soát 26M1-167.16.
Ngày 15/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M phối hợp với Phòng K Công an tỉnh S thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh gói vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Lò Văn Q. Kết quả: Khối lượng 02 viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine là 0,21gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu M1; Khối lượng chất bột nén màu trắng nghi là heroine là 0,41 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu M2 trưng cầu giám định.
Tại bản kết luận giám định số 1616/KL-KTHS ngày 20/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận:
“Mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,21 gam.
Mẫu ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy; Loại Heroine (H) có tên khoa học là D, quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,41 gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,21 gam, loại Methamphetamine và 0,41 gam, loại Heroine, có tên khoa học là D, quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.”
Tại phiên toà, bị cáo Lò Văn Q đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Bản cáo trạng số: 125/CT-VKS ngày 19/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Lò Văn Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Sau khi kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội đối với bị cáo và đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015; Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ.
Xử phạt Lò Văn Q từ 14 (mười bốn) tháng đến 17 (mười bảy) tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1, Khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư do Công an huyện M phát hành bên trong chứa vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon màu hồng gói ma túy ban đầu.
Trả lại cho Lò Văn Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A20, vỏ màu đen trắng, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, kèm 02 sim.
Trả lại cho gia đình Lò Văn Q (đại diện là chị Lường Thị T1) 01 xe mô tô hiệu hiệu Yamaha-Exciter, màu xám đen, biển kiểm soát 26M1-167.16, số khung 1010KY243801, số máy G3D451014838, xe đã qua sử dụng.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn. Do đó áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về xử lý vật chứng. Đề nghị Tòa án trả lại tài sản là 01 xe mô tô hiệu hiệu Yamaha-Exciter, biển kiểm soát 26M1-167.16 cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Cơ quan điều tra Công an huyện M, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiến nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi của bị cáo thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 10 phút ngày 15/8/2024; biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; phù hợp với kết luận giám định số 1616/KL-KTHS ngày 20/8/2024 của Phòng K công an tỉnh S; phù hợp với biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị can và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận không có gì mâu thuẫn, tại phiên tòa không phát sinh tình tiết, chứng cứ mới.
Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 15/8/2024 tại bản Có Tình, xã C, huyện M bị cáo Q bị công an xã C phối hợp với Đ, Công an huyện M bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 0,21 gam Methamphetamine và 0,41 gam Heroine (tổng khối lượng ma túy là 0,62 gam), mục đích để sử dụng. Đầy đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Viện kiểm sát truy tố và Tòa án xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo.
[3] Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, nhận thức được việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo không có tiền án tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố bị cáo là ông Lò Văn T được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng ba, chú bị cáo là ông Lò Văn C là liệt sỹ trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự sẽ được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với bị cáo.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh xác định bị cáo không có tài sản riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng của vụ án: Đối với toàn bộ vật chứng đã thu giữ của bị cáo, áp dụng điểm a khoản 1, Khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015.
Đối với 0,21 gam Methamphetamine và 0,41 gam Heroine đã trích rút hết làm mẫu giám định, không hoàn lại mẫu.
Đối với vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon màu hồng gói ma túy ban đầu là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A20, vỏ màu đen trắng, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, kèm 02 sim là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 xe mô tô hiệu hiệu Yamaha-Exciter, màu xám đen, biển kiểm soát 26M1-167.16, số khung 1010KY243801, số máy G3D451014838, xe đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo, qua xác minh là tài sản chung của gia đình bị cáo và cũng là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình. Việc bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy chị L Thị T không biết, tại phiên tòa chị T1 có ý kiến xin lại chiếc xe làm phương tiện đi lại, do vậy cần trả lại cho gia đình bị cáo (đại diện là chị Lường Thị T1, vợ bị cáo) để quản lý sử dụng.
[7] Về nguồn gốc chất ma tuý: Bị cáo khai mua của một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) tại khu vực xã C, huyện S, tỉnh Sơn La. Việc trao đổi mua bán không có ai biết, chứng kiến. Ngoài lời khai của Q, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M không có tài liệu, chứng cứ khác để điều tra mở rộng vụ án. Buộc Lò Văn Q phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng 0,21 gam Methamphetamine và 0,41 gam Heroine thu giữ trong vụ án.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Lò Văn Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn Q 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam, tạm giữ (ngày 15/8/2024).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
-
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1, Khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư do Công an huyện M phát hành bên trong chứa vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon màu hồng gói ma túy ban đầu.
- Trả lại cho Lò Văn Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A20, vỏ màu đen trắng, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, kèm 02 sim.
- Trả lại cho gia đình Lò Văn Q (đại diện là chị Lường Thị T1) 01 xe mô tô hiệu hiệu Yamaha-Exciter, màu xám đen, biển kiểm soát 26M1-167.16, số khung 1010KY243801, số máy G3D451014838, xe đã qua sử dụng.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tráng A Tếnh |
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi giờ ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại phòng nghị án.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tráng A T2
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cầm Văn T3, ông Hà Văn S
Tiến hành nghị án vụ án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2024/HSST ngày 19 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lò Văn Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 20 tháng 10 năm 1986 tại huyện T, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Bản M, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La. .
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
-
Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.
-
Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do luật sư, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều hợp pháp.
Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.
-
Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.
-
Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.
Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.
-
Tội danh, Điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Lò Văn Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn Q 16 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 15/8/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.
-
Về vật chứng, tài sản: Áp dụng điểm a khoản 1, Khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư do Công an huyện M phát hành bên trong chứa vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon màu hồng gói ma túy ban đầu.
Trả lại cho Lò Văn Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A20, vỏ màu đen trắng, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, kèm 02 sim.
Trả lại cho gia đình Lò Văn Q (đại diện là chị Lường Thị T1) 01 xe mô tô hiệu hiệu Yamaha-Exciter, màu xám đen, biển kiểm soát 26M1-167.16, số khung 1010KY243801, số máy G3D451014838, xe đã qua sử dụng.
Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.
-
Về án phí: Áp dụng Khoản 2, Điều 135, Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.
Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.
-
Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày để bảo đảm công tác thi hành án.
Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút ngày 06 tháng 12 năm 2024.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 25/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn Q - ma túy
