Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/DS-ST

Ngày: 06-5-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Thiện.
  2. Bà Trần Ngọc Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Năm – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 39/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lương Văn T, sinh năm 1980; nơi thường trú: Tổ E, khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Văn S, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ B, thôn H, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam – là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 24/11/2023), vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Đậu Hồng Đ, sinh năm 1992; nơi thường trú: Thôn E, xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ liên lạc: Số A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Lương Văn T trình bày:

Giữa ông Lương Văn T và ông Đậu Hồng Đ có mối quan hệ quen biết và ông Đậu Hồng Đ cần vốn để làm ăn nên vào khoảng tháng 01/2021 ông Đậu Hồng Đ hỏi mượn số tiền 600.000.000 đồng của ông Lương Văn T và ông T đồng ý cho mượn. Khi cho vay tiền thì không có lập giấy tờ, thời hạn vay và lãi suất. Đến đầu năm 2023, ông Lương Văn T cần tiền để làm ăn nên đã gặp ông Đậu Hồng Đ yêu cầu ông Đ trả số tiền 600.000.000 đồng đã vay thì ông Đ hẹn đến tháng 6 năm 2023 sẽ trả và ông Đ có lập giấy vay tiền xác nhận có vay số tiền 600.000.000 đồng của ông Lương Văn T. Tuy nhiên, đến hạn trả số tiền vay và ông Lương Văn T đã nhiều lần liên hệ với ông Đậu Hồng Đ để yêu cầu trả số tiền vay nhưng ông Đ không thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

Số tiền 600.000.000 đồng ông T cho ông Đ vay là tài sản riêng của ông T.

Do đó, ông Lương Văn T yêu cầu Tòa án buộc ông Đậu Hồng Đ có trách nhiệm trả cho ông Lương Văn T số tiền nợ vay gốc là 600.000.000 đồng. Ông T không yêu cầu ông Đ trả tiền lãi.

Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp chứng minh yêu cầu khởi kiện: Giấy vay tiền.

- Bị đơn ông Đậu Hồng Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập ông Đậu Hồng Đ đến Tòa án tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 208; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên ông Đ đều vắng mặt không rõ lý do.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng; bị đơn không chấp hành đúng pháp luật tố tụng.

-Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cụ thể: Buộc ông Đậu Hồng Đ có trách nhiệm trả số tiền vay nợ gốc 600.000.000 đồng cho ông Lương Văn T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông Lương Văn T khởi kiện tranh chấp đối với ông Đậu Hồng Đ liên quan đến Hợp đồng vay tiền được ký kết giữa ông T và ông Đ. Theo Biên bản xác minh ngày 31/01/2024 và Phiếu trả lời xác minh của Công an xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk thể hiện ông Đậu Hồng Đ có đăng ký tạm trú tại địa chỉ 1 khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương và đến năm 2021 ông Đ đã bỏ đi; mặt khác hiện nay ông Đậu H Đắk cư trú tại đâu không rõ. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463 Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[1.2] Bị đơn ông Đậu Hồng Đ được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng và tham gia phiên tòa xét xử lần thứ 2 theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng đều vắng mặt không rõ lý do. Việc vắng mặt của bị đơn ông Đậu Hồng Đ trong quá trình tố tụng được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn; nguyên đơn ông Lương Văn T có đơn đề

nghị Tòa án giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông T và ông Đ.

[2] Về nội dung:

[2.1] Theo Giấy vay tiền ông Lương Văn T cung cấp thể hiện ông Đậu Hồng Đ, sinh năm 1992, số định danh cá nhân là 066.092.010.790 có mượn số tiền 600.000.000 đồng của Lương Văn T; thời hạn trả là tháng 6/2023. Theo Kết quả phiếu trả lời của Công an xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk; Biên bản xác minh của Tòa án nhân dân huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk thể hiện ông Đậu Hồng Đ có nơi thường trú tại Thôn E, xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk và có đăng ký tạm trú tại địa chỉ 1 khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Nội dung này phù hợp với kết quả tra cứu theo số định danh của ông Đậu Hồng Đ ghi trong giấy vay tiền giữa ông Lương Văn T và ông Đậu Hồng Đ. Theo giấy vay tiền thì ông Đậu Hồng Đ xác nhận có vay số tiền 600.000.000 đồng của ông Lương Văn T.

[2.3]. Theo Điều 463 của Bộ luật Dân sự quy định: Khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

[2.4]. Mặt khác, theo Điều 466 của Bộ luật Dân sự quy định: Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

[2.5]. Từ phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Văn T về việc yêu cầu bị đơn ông Đậu Hồng Đ có trách nhiệm trả số tiền vay gốc 600.000.000 đồng cho ông Lương Văn T.

[2.6]. Theo Hợp đồng vay tiền giữa ông Lương Văn T và ông Đậu Hồng Đ không có có thỏa về tiền lãi; đồng thời theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, ông Lương Văn T không yêu cầu ông Đậu Hồng Đ trả tiền lãi nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.7]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là phù hợp quy định của pháp luật.

[ 2.8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Đậu Hồng Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 36; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Các Điều 463 và 466 của Bộ luật Dân sự.
  • Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Văn T với bị đơn ông Đậu Hồng Đ về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

- Buộc ông Đậu Hồng Đ có trách nhiệm trả cho ông Lương Văn T số tiền 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

2. Về án phí sơ thẩm: Ông Đậu Hồng Đ phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 28.000.000 đồng.

Hoàn trả lại cho ông Đậu Hồng Đ số tiền 14.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu tiền số 0001148 ngày 12/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Huỳnh Ngọc K

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/DS-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 25/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương văn T- Đậu Hồng Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger