Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/DS-ST

Ngày: 06-5-2024

V/v tranh chấp dân sự

về hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hoàng Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Đẹp.
  2. Bà Cao Thị Diệu Hiền.

- Thư ký phiên toà: Ông Trương Minh Đăng - Thư ký TAND Tp. Sa Đéc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:

Ông Lê Tiến Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 01 năm 2024, về việc “tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/QÐST-DS ngày 25/4/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Thạch Lệ H, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Số G, khóm T, phường A, Tp ., tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp: Chị Đặng Thị Thúy V, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Số D, Khóm B, Phường D, Tp ., tỉnh Đồng Tháp. Là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 21/12/2023).

2. Bị đơn: Chị Huỳnh Thị Kim L, sinh năm 1980.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Thanh T, sinh năm 1982.

Cùng địa chỉ: Số C, đường H, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

2

Tại phiên tòa: Chị V và chị L có mặt. Anh T có văn bản đề nghị vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn - chị Thạch Lệ H; quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, chị Đặng Thị Thúy V, là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Xuất phát từ mối quan hệ bạn bè, chị Thạch Lệ H có cho chị Huỳnh Thị Kim L vay 02 lần tiền, cụ thể:

  • Ngày 14/10/2022, chị H cho chị L vay số tiền 260.000.000đ; khi vay, chị L có viết “Biên nhận mượn tiền”; mục đích vay: làm vốn kinh doanh; thời hạn vay từ ngày 14/10/2022 đến ngày 31/12/2022; hai bên thỏa thuận bằng lời nói lãi suất là 2,5%/tháng.
  • Sau khi vay, chị L có trả lãi được 06 tháng (từ ngày 14/10/2022 đến 14/4/2023) tổng số tiền lãi là 39.000.000đ; vốn chưa trả.
  • Ngày 01/5/2023, chị L vay thêm số tiền 43.000.000đ; khi vay, chị L có viết “Biên nhận mượn tiền”; không xác định thời hạn vay nhưng hai bên có thỏa thuận bằng lời nói lãi suất là 2,5%/tháng.
  • Đến ngày 01/6/2023, chị L có trả cho chị H số 4.000.000đ, là trả lãi chung của hai khoản vay nêu trên.

Mặt khác, các lần chị L vay tiền và trả lãi, anh Lê Thanh T (chồng chị L) có biết sự việc nên khi chị L ngưng trả nợ, chị H có gặp anh T để yêu cầu trả nợ thì anh đưa ra lý do là đang gặp khó khăn, chưa bán được tài sản nên chưa trả được nợ cho chị H.

Nay, chị H yêu cầu chị L và anh T liên đới trả nợ vay, cụ thể:

  • Vốn vay 260.000.000₫ và tiền lãi tính từ ngày 14/5/2023 đến ngày 06/5/2024 (11 tháng 22 ngày) với mức lãi suất là 0,83%/tháng, thành tiền:
  • 260.000.000₫ x 0,83%/tháng x 11 tháng 22 ngày = 25.320.000₫;

  • Vốn vay 43.000.000₫ và tiền lãi tính từ ngày 01/7/2023 đến ngày 01/5/2024 (10 tháng) với mức lãi suất là 0,83%/tháng, thành tiền:
  • 43.000.000₫ x 0,83%/tháng x 10 tháng = 3.569.000đ.

Tổng vốn: 303.000.000đ và tổng lãi: 28.889.000đ.

Tổng cộng vốn, lãi là 331.889.000đ.

Ngoài ra, chị H không có yêu cầu gì khác.

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn - chị Huỳnh Thị Kim L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Lê Thanh T trình bày:

Chị L thừa nhận qua mối quan hệ bạn bè quen biết nên chị có vay tiền của chị Thạch Lệ H, cụ thể:

3

Vào tháng 9/2022, chị L vay của chị H số tiền 500.000.000đ; mục đích vay để đáo hạn Ngân hàng; hai bên có thỏa thuận bằng lời nói lãi suất là 5.000đ/1.000.000đ/ngày (15%/tháng).

Sau khi vay, tính đến ngày 14/10/2022, chị đã trả cho chị H 240.000.000₫ tiền vốn và 100.000.000đ tiền lãi; khi trả tiền, chị không có làm giấy tờ. Tuy nhiên, chị L có viết “Biên nhận mượn tiền ngày 14/10/2022” để xác nhận còn nợ chị H số tiền 260.000.000đ.

Sau đó, từ ngày 14/10/2022 đến ngày 30/11/2022, chị L có trả lãi cho chị H được 46 ngày, theo mức lãi suất 15%/tháng với tổng số tiền lãi 59.800.000đ. Tiếp đó, từ ngày 01/12/2022 đến ngày 15/01/2023, chị L có trả lãi cho chị H tổng số tiền 39.000.000đ; đồng thời, ngày 15/01/2023, chị L có trả cho chị H 200.000.000đ tiền vốn; khoảng 20 ngày sau, chị L trả cho chị H số tiền 60.000.000đ còn lại. Tuy nhiên, các lần chị L trả vốn, lãi cho chị H đều không có làm giấy tờ gì. Như vậy, chị L đã trả xong khoản nợ 260.000.000đ theo biên nhận ngày 14/10/2022 cho chị H.

Sau thời điểm đó, chị L tiếp tục vay của chị H nhiều lần với tổng số tiền là 35.000.000đ, có làm biên nhận do chị H giữ; hai bên thỏa thuận bằng lời nói lãi suất là 10%/tháng.

Trong khoảng thời gian, từ tháng 01/2023 đến tháng 4/2023, chị L có trả lãi nhiều lần cho chị H tổng cộng là 7.000.000đ nhưng không nhớ cụ thể số tiền của từng lần trả vì khi trả lãi chỉ ghi chú và ký tên trên biên nhận 35.000.000₫.

Đến ngày 01/5/2023, chị L viết “Biên nhận nợ” để tổng cộng lại số tiền còn nợ chị H là 43.000.000đ bao gồm 35.000.000đ vốn + 02 tháng tiền lãi chưa trả (Tháng 3 + 4/2023) là 7.000.000đ + vay thêm 1.000.000đ. Ngày 01/6/2023, chị H có trả cho chị L 4.000.000đ tiền lãi rồi ngưng cho đến nay.

Mặt khác, anh Lê Thanh T là chồng của chị L; sự việc chị L vay tiền và trả vốn, lãi cho chị H thì anh T đều biết và anh cũng có vài lần chuyển tiền trả nợ cho chị H. Vì vậy, anh thống nhất toàn bộ lời trình bày và ý kiến của chị L.

Nay, chị L và anh T chỉ đồng ý trả cho chị H số tiền vốn vay 43.000.000₫ theo biên nhận ngày 01/5/2023 và tiền lãi theo mức lãi suất Nhà nước quy định.

Tại phiên tòa: Chị L yêu cầu xem xét, điều chỉnh lại đối với số tiền lãi 4.000.000₫ đã trả của khoản vay 43.000.000đ.

Đối với khoản vay 260.000.000đ theo biên nhận ngày 01/5/2022, chị L và anh T đã trả xong cho chị H nên không đồng ý trả; đối với số tiền lãi đã trả của khoản vay này, chị L và anh T không có yêu cầu gì.

Ngoài ra, chị L và anh T không có yêu cầu gì khác.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc phát biểu ý kiến:

4

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị, Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu của chị Thạch Lệ H.

Buộc chị Huỳnh Thị Kim L và anh Lê Thanh T liên đới trả số tiền vốn vay 303.000.000đ, tiền lãi phát sinh với mức lãi suất 0,83%/tháng theo quy định của pháp luật cho chị Thạch Lệ H.

Về án phí giải quyết theo quy định của pháp luật.

(có văn bản phát biểu kèm theo).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trả nợ vay; xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2]. Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Lê Thanh T vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xét vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự.

[2]. Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Thạch Lệ H về việc yêu cầu bị đơn - chị Huỳnh Thị Kim L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Lê Thanh T liên đới trả số tiền vốn vay 303.000.000₫ và 28.889.000đ tiền lãi; tổng cộng vốn, lãi là 331.889.000đ, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1]. Về giao dịch được xác lập giữa chị H và chị L:

Chị H trình bày có cho chị L vay số tiền 260.000.000đ theo “Biên nhận mượn tiền ngày 14/10/2022” và số tiền 43.000.000đ theo “Biên nhận mượn tiền ngày 01/5/2023”. Chị L thừa nhận có viết “Biên nhận mượn tiền ngày 14/10/2022” để xác nhận còn nợ chị H số tiền 260.000.000đ và viết “Biên nhận mượn tiền ngày 01/5/2023" để xác nhận còn nợ chị H số tiền 43.000.000đ.

Như vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tình tiết phía nguyên đơn không phải chứng minh. Từ đó, xác định: Chị H có cho chị L vay 260.000.000đ ngày 14/10/2022 và 43.000.000đ ngày 01/5/2023.

5

[2.2]. Quá trình trả vốn vay:

[2.2.1]. Đối với số tiền vốn vay 260.000.000đ:

Chị L thừa nhận còn nợ chị H số tiền 260.000.000đ theo biên nhận ngày 14/10/2022. Nhưng chị L cho rằng, số tiền 260.000.000đ là dư nợ của khoản vay 500.000.000₫ trước đó; kể từ ngày 14/10/2022, chị đã trả xong số tiền 260.000.000đ cho chị H. Tuy nhiên, phía chị H không thừa nhận chị L đã trả số tiền này nhưng chị L không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận lời trình bày của chị L là đã trả xong vốn vay 260.000.000đ cho chị H.

Từ đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị H, buộc chị L trả cho chị H vốn vay 260.000.000đ.

[2.2.2]. Đối với số tiền vốn vay 43.000.000đ:

Chị L thừa nhận còn nợ chị H số tiền 43.000.000đ theo biên nhận ngày 01/5/2023 và đồng ý trả số tiền này cho chị H. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị H về việc yêu cầu chị L trả vốn vay 43.000.000đ.

[2.3]. Về tiền lãi:

[2.3.1]. Nguyên đơn xác định: Khi cho vay, hai bên có thỏa thuận bằng lời nói lãi suất là 2,5%. Bị đơn không thống nhất và xác định lãi suất hai bên thỏa thuận bằng lời nói là 15%/tháng, sau đó giảm còn 10%/tháng. Như vậy, thực tế các bên có thỏa thuận lãi suất vay, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất nên căn cứ Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định mức lãi suất được áp dụng để giải quyết tranh chấp bằng 10%/năm, tương đương 0,83%/tháng.

[2.3.2]. Do xác định, chị L vẫn còn nợ chị H vốn vay 260.000.000đ như đã nhận định tại mục [2.2.1] nên số tiền lãi sẽ được điều chỉnh theo quy định của pháp luật. Theo đó, đối với khoản vay 260.000.000đ ngày 14/10/2022, nguyên đơn thừa nhận bị đơn có trả lãi được 06 tháng (từ ngày 14/10/2022 đến ngày 14/4/2023) tổng số tiền 39.000.000đ. Ngược lại, bị đơn xác định từ ngày 14/10/2022 đến ngày 15/01/2023 đã trả lãi cho nguyên đơn nhiều lần với tổng số tiền 98.800.000₫ nhưng không có chứng cứ gì để chứng minh. Do đó, Hội đồng xét xử xác định số tiền lãi bị đơn đã trả theo sự thừa nhận của nguyên đơn là 39.000.000đ.

Như vậy, tính từ ngày 14/10/2022 đến ngày 06/5/2024 (18 tháng 22 ngày), chị L có nghĩa vụ trả cho chị H số tiền lãi là:

260.000.000₫ x 0,83%/tháng x 18 tháng 22 ngày = 40.427.000đ.

Vì chị L đã trả cho chị H 39.000.000đ tiền lãi nên chị L có nghĩa vụ còn phải trả cho chị H số tiền lãi là: 40.427.000₫ - 39.000.000đ = 1.427.000đ.

[2.3.3]. Đối với khoản vay 43.000.000đ ngày 01/5/2023:

Cả nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận: Khoản vay này, hai bên không xác định thời hạn vay; đồng thời, nội dung biên nhận ngày 01/5/2023 cũng không ghi

6

thời hạn bị đơn trả vốn cho nguyên đơn; do đó, có căn cứ xác định đây là hợp đồng vay không có thời hạn theo Điều 469 của Bộ luật dân sự năm 2015. Theo khoản 2 Điều 469 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản...”. Đối chiếu quy định này thì nguyên đơn không chứng minh được có thông báo yêu cầu bị đơn trả nợ là ngày nào và đến ngày nào bị đơn không trả nợ cho nguyên đơn; do đó không xác định được bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ là ngày nào nên không có căn cứ buộc bị đơn phải trả lãi cho nguyên đơn từ ngày cho vay là ngày 01/5/2023. Do không xác định được ngày bị đơn vi phạm nghĩa vụ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào ngày bị đơn nhận được thông báo thụ lý vụ án là ngày bị đơn nhận thông báo yêu cầu trả nợ của nguyên đơn - là ngày 08/01/2024, để tính lãi là phù hợp.

Như vậy, tính từ ngày 08/01/2024 đến ngày 06/5/2024 (03 tháng 28 ngày), chị L có nghĩa vụ trả cho chị H số tiền lãi là:

43.000.000₫ x 0,83%/tháng x 03 tháng 28 ngày = 1.404.000₫.

[2.3.4]. Về yêu cầu điều chỉnh số tiền lãi 4.000.000đ của bị đơn, xét thấy:

Các bên thừa nhận: Ngày 01/6/2023, chị L có trả cho chị H số tiền 4.000.000đ. Tuy nhiên, bị đơn xác định, số tiền 4.000.000₫ là trả lãi một tháng của khoản vay 43.000.000đ nhưng không có chứng cứ gì để chứng minh. Trong khi đó, nguyên đơn thừa nhận số tiền 4.000.000₫ là trả tiền lãi của chung hai khoản vay, tổng vốn là 303.000.000đ. Tại thời điểm trả lãi, nguyên đơn thừa nhận mức lãi suất thỏa thuận là 2,5%/tháng. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự thì mức lãi suất thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực là 1,66%/tháng nên số tiền lãi thỏa thuận mà chị L có nghĩa vụ phải trả cho chị H đối với số tiền tổng số tiền vốn vay 303.000.000₫ là 5.030.000đ/tháng. Như vậy, việc chị L yêu cầu điều chỉnh số tiền lãi 4.000.000₫ đã trả cho chị H của khoản vay 43.000.000₫ là chưa đủ cơ sở để xem xét.

[2.4]. Về nghĩa vụ liên đới:

Chị L và anh T là vợ chồng hợp pháp. Mặc dù, chị L là người trực tiếp vay tiền và viết biên nhận nhưng anh T có biết và đồng ý. Quá trình giải quyết vụ án, anh có văn bản ghi ý kiến thống nhất theo lời trình bày của chị L. Anh T xác định: Số tiền 260.000.000đ theo biên nhận ngày 14/10/2022 đã trả xong, nên chỉ còn nợ chị H số tiền 43.000.000đ theo biên nhận ngày 01/5/2023. Do đó, anh T chỉ đồng ý trả cho chị H số tiền 43.000.000đ và tiền lãi theo mức lãi suất Nhà nước quy định. Như vậy đủ cơ sở xác định: Về mặt chí chí, anh T có cùng xác lập giao dịch vay giữa các bên.

Tại khoản 1 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

7

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây: 1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm...”.

Theo đó, việc chị H yêu cầu anh T liên đới cùng chị L trả nợ là có căn cứ chấp nhận.

[2.5]. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc chị L và anh T liên đới trả cho chị H số tiền vốn vay tổng cộng là: 303.000.000đ và 2.831.000đ tiền lãi; tổng cộng vốn, lãi là 305.831.000đ.

[3]. Qua ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Về nội dung vụ án, đề nghị HĐXX chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

[4.1]. Chị H chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được chấp nhận (331.889.000₫ - 303.831.000đ = 26.058.000₫).

[4.2]. Chị L và anh T liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của chị H được chấp nhận (305.831.000₫).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; các điều 91, 92 và 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 357, 463, 466, 468, 469 và 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan liên đới trả nợ vay.

Buộc chị Huỳnh Thị Kim L và anh Lê Thanh T liên đới trả cho chị Thạch Lệ H số tiền vốn vay tổng cộng là: 303.000.000đ và 2.831.000đ tiền lãi; tổng cộng vốn, lãi là 305.831.000đ (Bằng chữ: Ba trăm lẻ năm triệu tám trăm ba mươi mốt nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

8

Chị Huỳnh Thị Kim L và anh Lê Thanh T liên đới chịu 15.292.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Thạch Lệ H chịu 1.303.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 2.750.000đ theo biên lai số 0003923 ngày 04/01/2024 và 5.705.000đ theo biên lai số 0004000 ngày 21/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc được khấu trừ vào án phí phải nộp. Sau khi khấu trừ, chị H được nhận lại số tiền 7.152.000đ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

- Đương sự;

- Viện kiểm sát nhân dân Tp. Sa Đéc;

- Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;

- Chi cục THA dân sự Tp. Sa Đéc;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hoàng Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/DS-ST ngày 06/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 25/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị H yêu cầu chị L trả nợ vay
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger