Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HS-ST

Ngày: 06 - 5 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu

Thẩm phán: Ông Võ Ngọc Giàu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Khải

Bà Lý Ngọc Lan

Bà Dương Thị Lệ

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn – Thư ký.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông

Mai Hùng Nhân – Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Đỗ Văn N, sinh ngày 18 tháng 10 năm 1984 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang; Số CMND/Thẻ CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Cha là Đỗ Văn Ú và mẹ là Trần Thị T; Vợ: Danh Thị K và có 04 người con; Tiền án, tiền sự: không;

Đặc điểm nhân thân của bị cáo:

Từ nhỏ sống chung gia đình tại ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang, học đến lớp 9 thì nghỉ học. Đến năm 2000, có vợ sống tại ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang bằng nghề làm thuê cho đến ngày phạm tội.

- Bị cáo Đỗ Văn N bị bắt tạm giam từ ngày 22/9/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo có mặt tại tòa.

Người bào chữa cho bị cáo N: Luật sư Bùi Đức L – Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (có mặt)

Địa chỉ: 6 Ấp B, Khu phố D, Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Bị hại: Danh Thị K, sinh năm 1991; (có mặt)

Địa chỉ: ấp Đ, xã L, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

Nơi cư trú và ĐKTT: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

Trợ giúp viên pháp lý cho bị hại: Bùi Thị Khánh T1, sinh năm 1992; (có mặt)

Địa chỉ: Số C đường H, xã Đ, thành phố M, Tiền Giang.

Người làm chứng:

  1. Lê Văn T2, sinh năm 1979, (vắng mặt)

    Địa chỉ: Khu dân cư T, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

  2. Nguyễn Sa R, sinh năm 1985, (vắng mặt)

    Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

  3. Trần Thị Thu T3, sinh năm 1973, (vắng mặt)

    Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

  4. Đỗ Văn T4, sinh năm 1980, (vắng mặt)

    Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào giữa tháng 8/2023, chị Danh Thị K, sinh năm 1981 (là vợ Đỗ Văn N) và ông Đỗ Văn Ú, sinh năm 1952 (là cha ruột Đỗ Văn N), cùng cư trú ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang, xảy ra mâu thuẫn nên chị K đi ở trọ, không sống chung nhà với N.

Khoảng 06 giờ ngày 14/9/2023, N chở con gái là Đỗ Ngọc T5, sinh năm 2012, cư trú ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang đến khu vực Khu công nghiệp L, thuộc Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang để tìm gặp chị K, nên N chặn xe, năn nỉ chị K về sống chung, nhưng chị K không đồng ý, mà chạy xe đến nhà ông Lê Văn T2, sinh năm 1979, cư trú tại Khu dân cư X, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Nghiêm cũng chở chở N1 chạy theo.

Tại nhà anh T2, trong lúc đi vệ sinh, N thấy cạnh thùng rác ven đường có 01 hộp nhựa bên trong có 02 (hai) lưỡi dao rọc giấy (01 lưỡi dao rọc giấy bằng kim loại, sắc bén 01 bề, chiều dài lưỡi dao 11 cm, chiều rộng lưỡi dao 1,8 cm;

01 (một) lưỡi dao rọc giấy bằng kim loại màu trắng hai đầu có mũi nhọn, dài 10,8 cm, rộng 1,08 cm, có lỗ tròn nhỏ ở 01 một đầu đoạn dao) nên nhặt, cất vào trong túi quần, với ý định nếu chị K không đồng ý quay lại sống chung với N thì N sẽ dùng dao cắt cổ chị K và N, để cả hai người cùng chết chung.

Khoảng 14 giờ 30 cùng ngày, anh Đỗ Văn T4, sinh năm 1980, cư trú ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang, rủ N, chị K, ông T2, chị Nguyễn Sa R, sinh năm 1985, cư trú Khu dân cư xã T, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang về nhà Trường nhậu.

Tại nhà anh T4, vào khoảng 16 giờ cùng ngày, thấy chị K đi vệ sinh nên N đi theo sau, khi chị K vừa từ nhà vệ sinh đi ra, N dùng tay bịt miệng, thuyết phục chị K về sống chung, nhưng chị K không đồng ý nên N tự cầm lưỡi dao rọc giấy cắt vào người N chảy máu, thấy chị K khóc, N không cắt vào người nữa, mà cùng chị K đi vào nhà.

Trong lúc nhậu, mọi người hỏi lý do sao trên người N có máu, thì chị K khóc, bỏ đi qua nhà ông Đỗ Văn M, sinh năm 1952, cư trú ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang,ở cạnh nhà anh T4, N cũng đi theo, để tiếp tục thuyết phục chị K về sống chung nhưng chị K không đồng ý. Nghiêm quật chị K ngã xuống đất, cầm lưỡi dao rọc giấy ra hâm dọa, thì được anh T2 can ngăn, giật lấy lưỡi dao rọc giấy trên tay N. Chị K cùng N quay lại nhà anh T4 nhậu. N tiếp tục hỏi chị K có đồng ý cho N và N1 về sống chung không, thì chị K trả lời không đồng ý. Liền ngay lúc này, N lấy lưỡi dao rọc giấy từ trong người ra, cắt vào cổ chị K 01 (một) cái, rồi tự cắt vào cổ mình 01 (một) cái, nhằm mục đích tự vẫn để cả hai cùng chết. Ông T2 can ngăn, nên chị K bỏ chạy.

Trong lúc anh T2 chở N, còn chị T3 chở chị K đi cấp cứu đến Cây xăng gần cầu vượt số I, N thấy xe xe chở chị K dừng lại đổ xăng, nên N cũng xuống xe đi đến nơi chị K ngồi, chị K bỏ đi nên N dùng tay nắm tóc của chị K giật lại, thì được mọi người can ngăn, đưa N và chị K đi cấp cứu.

Giấy chứng nhận thương tích số 253/CN/2023 ngày 18/9/2023 của Bệnh viện Đ, xác định thương tích của Danh Thị K như sau: Vào viện lúc 17 giờ 46 phút ngày 14/9/2023, ra viện lúc 19 giờ 10 phút ngày 14/9/2023; Lý do: Vết thương cổ # 4cm.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 337- 2023/KLTTCT-TTPY ngày 19/9/2022 của Trung tâm P của bà Danh Thị K, kết luận:

1.Các kết quả chính:

Kết quả khám giám định.

Sẹo vết thương nằm ngang vùng trước cổ.

2. Kết luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định tâm thần, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Danh Thị Keo là: 02% (Hai phần trăm) theo phương pháp cộng tại Thông tư.

- Kết luận khác:

+ Xác định vật gây thương tích:

Thương tích Danh Thị K do vật sắc gây nên.

Kết luận giám định số 05/KL-KTHS ngày 16/01/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

Không phát hiện dấu vết máu người trên lưỡi dao rọc giấy ký hiệu M1.

Trên lưỡi dao rọc giấy ký hiệu M2 có dính máu người. Phân tích gen (ADN) từ dấu vết máu này được kiểu gen trùng với kiểu gen của Đỗ Văn N.

Lưu các kiểu gen trong hồ sơ giám định của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh.

* Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Đỗ Văn N có thái độ thành khẩn khai báo, ăn hối cải, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, thực nghiệm điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án;bị hại K có đơn xin bãi nại cho bị cáo; đây là các tình tiết giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

* Vật chứng thu giữ trong vụ án này là:

  • 01 (một) lưỡi dao rọc giấy bằng kim loại, sắc bén 01 bề, chiều dài lưỡi dao 11 cm, chiều rộng lưỡi dao là 1,8 cm.
  • 01 (một) áo sơ mi trắng sọc, dài tay đã qua sử dụng, trên áo có dính vết màu nâu đã khô (nghi máu).
  • 01 (một) đoạn lưỡi dao rọc giấy bằng kim loại màu trắng, hai đầu có mũi nhọn, dài 10,8 cm, rộng 1,8 cm, có lỗ tròn nhỏ ở 01 một đầu đoạn dao, trên lưỡi dao có dính nhiều vết màu xám nghi máu.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Danh Thị K không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSTG-P2 ngày 26 tháng 02 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Đỗ Văn N, về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm: bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung và kết luận tại bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang nêu nguyên nhân, mục đích phạm tội của bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, thiệt hại thực tế xảy ra trong vụ án. Qua đó cho thấy bị cáo bức xúc vì chị K bỏ nhà đi, qua nhiều lần năn nỉ không thành công nên đã bộc phát, nảy sinh ý định nhất thời, hậu quả không lớn. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo tỏ rõ thái độ ăn năn hối cãi, được bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Mặt khác, qua hồ sơ, tranh tụng tại phiên tòa cho thấy hoàn cảnh của bị cáo thật sự khó khăn, làm thuê kiếm sống nuôi 04 con còn nhỏ. Với ý thức, hành vi và hậu quả của vụ án đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên việc truy tố bị cáo theo bản cáo trạng số 12. Về hình phạt, đề nghị Xử phạt bị cáo từ 07 đến 08 năm tù về tội giết người.

Về xử lý vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 lưỡi dao rọc giấy là phương tiện gây án, 01 áo sơ mi đã cũ.

Về bồi thường dân sự: Do bị hại không yêu cầu nên không đặt vấn đề giả quyết.

Luật sư bào chữa cho bị cáo, ông Bùi Thế L1 trình bày: Qua xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua tranh tụng tại phiên tòa có cơ sở xác định hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng đã kết luận. Hành vi phạm tội của bị cáo là bộc phát nhất thời, sau khi phạm tội bị cáo tỏ rõ thái độ hối hận, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là thuê kiếm sống, có 04 con còn nhỏ; Được bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Luật sư đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự giảm nhẹ cho bị cáo dưới mức hình phạt thấp nhất.

Trợ giúp viên pháp lý bà Bùi Thị Khánh T1, người bảo vệ quyền lợi cho bị hại Danh Thị K trình bày: Thống nhất với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố. Xác định lưởi dao bị cáo sử dụng là hung khí nguy hiểm, vùng cổ của bị hại là nơi trọng yếu trên cơ thể, hành vi của bị cáo có thể làm bị hại tử vong và mục đích của bị cáo là giết chết bị hại sau đó tự vẫn để cùng chết chung. Bị hại không chết là do được can ngăn cứu chữa kịp thời. Tuy nhiên do hậu quả không lớn, bị hại xin bãi nại và không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự. Chị T1 đề nghị xem xét theo quy định của pháp luật.

Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang, Kiểm sát viên

trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Khoảng 16 giờ 00 ngày 14/9/2023, tại nhà bà Trần Thị Thu T3, sinh năm 1973, tọa lạc ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang, do không thuyết phục được vợ là chị Danh Thị K về sống chung, Đỗ Văn N đã trực tiếp dùng01 (một) lưỡi dao rọc giấy (bằng kim loại, sắc bén 01 bề, chiều dài lưỡi dao 11 cm, chiều rộng lưỡi dao là 1,8 cm), là hung khí nguy hiểm, cắt 01 (một) cái vào cổ chị Danh Thị K, là nơi trọng yếu trên cơ thể, có thể dẫn đến nguy hiểm tính mạng người khác, nhằm mục đích giết chết chị Danh Thị K. Hậu quả làm chị K bị thương tích là 02 (hai)%.Việc chị K không chết là ngoài ý muốn của bị can N. Hành động của bị cáo mang tính chất côn đồ, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh chỉ nhỏ nhặt có thể giải quyết bằng nhiều biện pháp tích cực hơn. Ở đây bị cáo lại dùng dao là hung khí nguy hiểm, cắt vào cổ là vùng trọng yêu trên cơ thể có thể dẫn đến chết người. Bị hại không chết là do được can ngăn và cứu chữa kịp thời. Do đó, có căn cứ để quy kết bị cáo về tội Giết người theo quy định tại khoản điểm n, khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Xét hành vi của bị cáo phạm tội mang tính chất côn đồ, người bị tấn công là vợ của bị cáo, đã từng chung sống và có với bị cáo 04 người con, mâu thuẩn phát sinh chỉ nhỏ nhặt. Khi thực hiện hành vi, bị cáo đủ khả năng nhận thức được lưỡi dao hung khí nguy hiểm, khi cắt vào cổ chị K hậu quả chết người có thể xãy ra, bị cáo bắt buộc phải thấy trước và đương nhiên hiểu được. Qua sự việc diễn ra cũng như hậu quả cho thấy hành vi của các bị cáo rất manh động, thể hiện ý chí và quyết tâm cao. Vết thương để lại trên người của bị hại cho thấy là những vùng trọng yếu trên cơ thể. Bị hại không chết là do khách quan, được ngăn chặn, cứu chữa kịp thời. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng sức khỏe của người khác. Với ý thức và hành vi như trên, bị cáo phải được xử lý bằng một mức án nghiêm khắc để giao dụ răn đe và phòng ngừa chung

Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt được quy định tại Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015, cùng các tình tiết giảm nhẹ như đã nêu, áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo nên được xem xét áp dụng Điều 54 khi quyết định hình.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Danh Thị K không yêu cầu nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

[4] Về xử lý vật chứng

  • 01 (một) lưỡi dao rọc giấy bằng kim loại, sắc bén 01 bề, chiều dài lưỡi dao 11 cm, chiều rộng lưỡi dao là 1,8 cm.
  • 01 (một) áo sơ mi trắng sọc, dài tay đã qua sử dụng, trên áo có dính vết màu nâu đã khô (nghi máu).
  • 01 (một) đoạn lưỡi dao rọc giấy bằng kim loại màu trắng, hai đầu có mũi nhọn, dài 10,8 cm, rộng 1,8 cm, có lỗ tròn nhỏ ở 01 một đầu đoạn dao, trên lưỡi dao có dính nhiều vết màu xám nghi máu.

Các loại vật chứng trên là phương tiện công cụ gây án, là tài sản không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

[5] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Luật sư và Tư vấn viên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận

[6]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn N phạm tội “Giết người”

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50, 54, 57 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn N 07 (B) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 22/9/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (một) lưỡi dao rọc giấy bằng kim loại, sắc bén 01 bề, chiều dài lưỡi dao 11 cm, chiều rộng lưỡi dao là 1,8 cm.
  • 01 (một) áo sơ mi trắng sọc, dài tay đã qua sử dụng, trên áo có dính vết màu nâu đã khô (nghi máu).
  • 01 (một) đoạn lưỡi dao rọc giấy bằng kim loại màu trắng, hai đầu có mũi nhọn, dài 10,8 cm, rộng 1,8 cm, có lỗ tròn nhỏ ở 01 một đầu đoạn dao, trên lưỡi dao có dính nhiều vết màu xám nghi máu.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình Sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Đỗ Văn N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại được quyền làm đơn kháng cáo án sơ thẩm để yêu cầu Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh TG;
  • - Phòng hồ sơ CA tỉnh TG;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh TG;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh TG;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh TG;
  • - Sở tư pháp tỉnh TG;
  • - Phòng KTNV và THA (TAT);
  • - Bị cáo, đại diện hợp pháp bị hại;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Trung Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về vụ án hình sự sơ thẩm (tội giết người)

  • Số bản án: 25/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm (Tội Giết người)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 16 giờ 00 ngày 14/9/2023, tại nhà bà Trần Thị Thu T3, sinh năm 1973, tọa lạc ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang, do không thuyết phục được vợ là chị Danh Thị K về sống chung, Đỗ Văn N đã trực tiếp dùng01 (một) lưỡi dao rọc giấy (bằng kim loại, sắc bén 01 bề, chiều dài lưỡi dao 11 cm, chiều rộng lưỡi dao là 1,8 cm), là hung khí nguy hiểm, cắt 01 (một) cái vào cổ chị Danh Thị K, là nơi trọng yếu trên cơ thể, có thể dẫn đến nguy hiểm tính mạng người khác, nhằm mục đích giết chết chị Danh Thị K. Hậu quả làm chị K bị thương tích là 02 (hai)%.Việc chị K không chết là ngoài ý muốn của bị can N. Hành động của bị cáo mang tính chất côn đồ, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh chỉ nhỏ nhặt có thể giải quyết bằng nhiều biện pháp tích cực hơn. Ở đây bị cáo lại dùng dao là hung khí nguy hiểm, cắt vào cổ là vùng trọng yêu trên cơ thể có thể dẫn đến chết người. Bị hại không chết là do được can ngăn và cứu chữa kịp thờ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger