|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2024/HS-ST Ngày: 04-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Tuyển
Ông Trương Trọng Lam
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam – Thẩm tra viên.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Hà Trọng Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị S, sinh ngày 01/01/1960 tại huyện T, tỉnh Phú Yên. Địa chỉ cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Không theo tôn giáo; Nghề nghiệp: Nông; Trình độ văn hoá: 02/12; con ông Nguyễn Hữu S1 (Chết) và bà Phạm Thị C (Chết); có chồng là Hà Tấn L, sinh năm 1947; có 04 con, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1991; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa: Ông Đoàn Cửu V – Luật sư Công ty Luật TNHH MTV Khôi Việt - Đoàn Luật sư tỉnh P. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị Kim D – Sinh năm: 1988; Địa chỉ: thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Bà Lê Thị M – Sinh năm: 1984; Địa chỉ: khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Bà Hồ Thị T – Sinh năm: 1970; Địa chỉ: thôn X, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
- Bà Huỳnh Thị H – Sinh năm: 1983; Địa chỉ: thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
- Bà Đoàn Vũ Thị T1 – Sinh năm: 1987; Địa chỉ: thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
- Bà Trương Thị Thu T2 – Sinh năm: 1965; Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị T3 – Sinh năm: 1987; Địa chỉ: thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
- Bà Đặng Thị Thu T4 – Sinh năm: 1985; Địa chỉ: thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
- Bà Trần Thị Bích T5 – Sinh năm: 1980; Địa chỉ: thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
- Bà Vị Bích H1 – Sinh năm: 1984; Địa chỉ: khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
- Bà Mai Thị T6 – Sinh năm: 1969; Địa chỉ: thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
- Bà Nguyễn Thị Phương L1 – Sinh năm: 1987; Địa chỉ: khu phố D, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
- Bà Đào Thị Thu T7 – Sinh năm: 1968; Địa chỉ: thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
- Bà Nguyễn Thị H2 – Sinh năm: 1991; Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
- Ông Võ Văn H3 – Sinh năm: 1975; Địa chỉ: thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
- Bà Trần Thị N – Sinh năm: 1990; Địa chỉ: khu phố E, thị trấn V, huyện N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt không có lý do.
- Bà Trần Thị H4 – Sinh năm: 1970; Địa chỉ: Dân phố số E, thị trấn V, huyện N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt không có lý do.
- Ông Hà Tấn L – Sinh năm: 1947; Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
- Ông Trần Công A – Sinh năm: 1966; Địa chỉ: thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
- Ông Nguyễn Thái P – Sinh năm: 1986; Địa chỉ: thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
- Ông Võ Thành D1 – Sinh năm: 1966; Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
- Bà Hồ Thị T8 – Sinh năm: 1945; Địa chỉ: thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
- Bà Nguyễn Thị T9 – Sinh năm: 1944; Địa chỉ: thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
- Ông Hà Tấn B – Sinh năm: 1995; Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Đ – Sinh năm 1989; Địa chỉ: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 13/4/2023, bà Lê Thị Kim D có đơn tố cáo đến cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đối với bà Nguyễn Thị S hành vi cho vay lãi nặng. Kết quả giải quyết tin báo, điều tra xác định được: Để thu lợi bất chính từ hoạt động cho vay, trong khoảng thời gian từ tháng 6/2021 đến tháng 4/2023, tại nhà riêng ở thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên, Nguyễn Thị S đã trực tiếp cho cho nhiều người vay tiền, trong đó có 11 người vay với lãi suất cao hơn gấp 5 lần mức lãi suất cao nhất mà Bộ luật Dân sự quy định (tiền sử dụng cho vay lãi nặng), cụ thể như sau:
- Cho Lê Thị Kim D vay nhiều lần tổng số tiền gốc là 580.000.000 đồng (đã trả 70.000.000 đồng) trong đó có 460.000.000 đồng sử dụng cho vay lãi nặng vào các ngày 11/01/2022 (cho vay 50.000.000 đồng nhưng chỉ có 30.000.000 đồng tính lãi suất cao hơn 100%/năm), 29/01/2022, 22/02/2022, 05/3/2022 và 22/3/2022, thu lợi bất chính tổng số tiền là 64.298.630 đồng; lần cho vay ngày 23/12/2021 số tiền 60.000.000 đồng và ngày 28/02/2022 số tiền 40.000.000 đồng nhưng lãi suất chưa vượt quá 100%/năm. Ngoài những lần cho vay trực tiếp trên, D nhận nghĩa vụ trả nợ khoản nợ của Lê Thị M đang nợ bị cáo với số tiền 210.000.000 đồng; sau đó, D và bị cáo S thống nhất D còn nợ gốc 720.000.000 đồng tiếp tục tính lãi từ 12/4/2022 đến 11/6/2022 với số tiền lãi là 460.000.000 đồng (lãi suất 388,66%/năm). Nhưng do D không có tiền để trả nên hai bên tiếp tục thỏa thuận bà D bán cho bị cáo S 01 lô đất (có giấy CNQSD đất đứng tên hộ Hồ Thị T8) tại thôn N, xã H với số tiền 950.000.000 đồng, hai bên viết giấy đặt cọc số tiền 900.000.000 đồng trừ vào tiền bà D còn nợ. Tuy nhiên, đến nay bị cáo S chưa thực hiện các thủ tục chuyển nhượng và đăng ký chuyển quyền sử dụng đất theo quy định nên chưa có quyền sử dụng đất. Ngoài ra, sau khi trừ nợ hai bên chốt tiền bà D còn nợ là 380.000.000 đồng, sau đó bà D có mang trả 50.000.000 đồng tiền lãi thông qua M, bị cáo có viết giấy nhận tiền của bà D 50.000.000 đồng nhưng bà M chưa giao tiền. Đến nay bà D chưa trả tiền vay cho bị cáo.
- Cho Huỳnh Thị H vay 03 lần với tổng số tiền sử dụng cho vay lãi nặng là 150.000.000 đồng, lãi suất từ 109,50% đến 230,53%/năm, số tiền bị cáo thu lợi bất chính tổng số tiền là 21.041.096 đồng. Bà H chưa trả tiền vay cho bị cáo S.
- Cho Trương Thị Thu T2 vay 08 lần với tổng số tiền sử dụng cho vay lãi nặng là 270.000.000 đồng, lãi suất từ 111,36% đến 296,95%/năm thu lợi bất chính tổng số tiền 84.978.082 đồng.
- Cho bà Nguyễn Thị T3 vay nhiều lần trong đó có 02 lần cho vay lãi nặng vào các ngày 30/3/2022 và 03/5/2022 với tổng số tiền sử dụng cho vay lãi nặng là 140.000.000 đồng (đã trả), lãi suất từ 117,74% đến 143,14%/năm, thu lợi bất chính tổng số tiền 23.032.877 đồng.
- Cho bà Lê Thị M vay nhiều lần trong đó có 9 lần cho vay lãi nặng với tổng số tiền sử dụng cho vay lãi nặng là 630.000.000 đồng (đã trả được 610.000.000 đồng), lãi suất từ 109,50% đến 238,71%/năm, thu lợi bất chính tổng số tiền 121.702.740 đồng, riêng lần cho vay ngày 29/01/2022 thu lợi 37.767.123 đồng. Bà M chưa trả 20.000.000 đồng tiền gốc cho bị cáo S.
- Cho bà Hồ Thị T vay 02 lần với tổng số tiền sử dụng cho vay lãi nặng là 15.000.000 đồng (đã trả), lãi suất từ 123,03% đến 123,31%/năm, thu lợi bất chính tổng số tiền là 7.119.178 đồng.
- Cho bà Đặng Thị Thu T4 vay 03 lần với tổng số tiền sử dụng cho vay lãi nặng là 110.000.000 đồng (đã trả được 61.000.000 đồng), lãi suất từ 121,67% đến 438,00%/năm, thu lợi bất chính tổng số tiền là 27.191.781 đồng.
- Ngày 04/01/2022, cho bà Đ1 Vũ Thị T1 vay 01 lần với số tiền sử dụng cho vay lãi nặng là 100.000.000 đồng (đã trả), lãi suất 111,99%/năm, thu lợi bất chính 22.178.082 đồng.
- Ngày 05/01/2022, cho bà Trần Thị Bích T5 vay 01 lần với số tiền sử dụng cho vay lãi nặng là 50.000.000 đồng (đã trả được 25.000.000 đồng), mức lãi suất 287,11%/năm, thu lợi bất chính 26.178.082 đồng.
- Cho bà Vị Bích H1 (thông qua Lê Thị M) vay 02 lần với tổng số tiền sử dụng cho vay lãi nặng là 80.000.000 đồng (đã trả), lãi suất từ 125,86% đến 377,59%/năm, đã thu lợi bất chính tổng số tiền là 26.508.219 đồng.
- Ngày 07/01/2022, cho bà Võ Thị Kim T10 (thông qua Lê Thị M) vay 01 lần với số tiền sử dụng cho vay lãi nặng là 30.000.000 đồng (đã trả), mức lãi suất từ 125,86%/năm đến 377.59%/năm, đã thu lợi bất chính là 8.035.616 đồng.
- Vật chứng vụ án, các đồ vật tạm giữ: Khám xét nơi ở của bị cáo S, cơ quan điều tra đã tạm giữ nhiều tài liệu liên quan đến việc giao dịch cho vay của bị cáo với nhiều người, trong đó có 3 quyển vở học sinh và 01 quyển sổ màu đen có ghi lại việc cho vay và thu tiền lãi vay đối với 11 người nêu trên.
- Về dân sự: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị Kim D, Lê Thị M, Trương Thị Thu T2, Đặng Thị Thu T4, Trần Thị Bích T5, Hồ Thị T, Nguyễn Thị Tình yêu C1 giải quyết theo quy định pháp luật. Riêng đối với Huỳnh Thị H, Đoàn Vũ Thị T1, Võ Thị Kim T10, Vi Bích H1 không có yêu cầu về dân sự trong vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKSTH ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa đã truy tố bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo khai nhận đã có hành vi phạm tội cho 11 người vay lãi nặng với mức lãi suất hơn 100%/năm như cáo trạng truy tố. Tuy nhiên, lần cho Lê Thị Kim D, bị cáo đồng ý mua lô đất để trừ nợ nhưng mới đặt cọc, đến nay chưa làm thủ tục sang tên trên sổ đỏ; lần cho D vay với số tiền 380.000.000 đồng hai bên thống nhất vào ngày 23/02/2023 thực tế có 280.000.000 đồng là tiền nợ lãi của nợ gốc trước đó mang sang và 100.000.000 đồng cho mượn không tính lãi, bị cáo thừa nhận có viết nhận tiền lãi một tháng 50.000.000 đồng từ bà D nhưng thực tế không nhận được, vì bà D chuyển khoản cho Lê Thị M nhưng đến nay bà M không giao trả cho bị cáo. Về số tiền đã sử dụng cho vay lãi nặng xin HĐXX xem xét theo quy định pháp luật; đối với các giấy tờ liên quan việc cho nhiều người khác vay thì xin được nhận lại vì đây là chứng cứ việc bị cáo cho người khác vay nhưng chưa trả nợ. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai trái, nguyên nhân do hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có công việc ổn định, chồng bị bệnh nặng không tự sinh hoạt được, phải thường xuyên chạy thận, hiểu biết pháp luật còn ít; bị cáo ăn năn hối cải và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
- - Bà D trình bày thừa nhận việc chuyển nhượng lô đất của bà T8 là do nợ nhiều nên mới xin mẹ (bà Hồ Thị T8) bán cho bị cáo để trừ nợ chứ không phải ý muốn của bà T8, cũng chưa bàn bạc thống nhất trong gia đình, hiện vẫn chưa giao đất cho bà S sử dụng. Đối với việc trả 50.000.000 đồng tiền lãi thì đã chuyển khoản cho Lê Thị M để nhờ M rút trả cho bà S, bà S có viết giấy nhận của tôi số tiền này.
- - Bà M trình bày thừa nhận bà D có chuyển khoản 50.000.000 đồng và đã rút trả cho bà S, nhưng không có chứng cứ việc đã giao số tiền này cho bà S.
- - Đại diện Viện kiểm sát luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Áp dụng khoản 2, 3 Điều 201 BLHS, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS, xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; phạt bổ sung số tiền từ 30.000.000₫ đến 40.000.000đ; buộc bị cáo S nộp vào ngân sách nhà nước số tiền gốc đã cho 11 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vay và số tiền lãi mà bị cáo được hưởng của những người này không quá 20% lãi xuất cho vay; buộc những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vay của bị cáo S nhưng đến nay chưa trả cho bị cáo thì những người này phải có trách nhiệm nộp lại để sung quỹ nhà nước. Về xử lý vật chứng đề nghị: Đối với 04 quyển sổ (có đặc điểm như trong biên bản tạm giữ khám xét), các giấy tờ có liên quan đến việc vay mượn tiền và các giấy tờ khác có liên quan như: Hợp đồng vay mượn tiền...thu giữ được tại nhà bị cáo mà bị cáo S sử dụng các quyển sổ này để ghi chép, theo dõi việc cho vay tiếp tục lưu vào hồ sơ. Đối với sổ hộ khẩu đứng tên Huỳnh Quốc N1, 02 CMND mang tên Trương Thị Thuy T11, Huỳnh Thị T12 đang tạm giữ sổ gốc thì trả lại cho chủ sở hữu. Đối với 06 giấy chứng nhận quyền sử đất đứng tên Mai Tứ, V, Trần Thị H4, Trần Công A, Hồ Thị T8 (02 giấy) thì trả lại cho chủ sở hữu. Về trách nhiệm dân sự đề nghị buộc bị cáo S phải trả lại số tiền lãi từ trên 20% trở lên mà bị cáo đã hưởng của 11 người này, vì số tiền này bị cáo thu lợi bất chính.
- - Người bào chữa tranh luận, thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Tuy nhiên, đề nghị áp dụng hình phạt tù là quá nghiêm khắc. Sau khi phạm tội bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả, tự nguyện nộp 50.000.000 đồng để khắc phục; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng. Bị cáo phạm tội do sự hiểu biết pháp luật còn hạn chế, không có công việc ổn định, hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện rất khó khăn, chồng bị bệnh nặng phải thường xuyên chạy thận, bị cáo là phụ nữ đã trên 60 tuổi phải gánh vác mọi trọng trách trong gia đình; hành vi phạm tội không chuyên nghiệp, không phải hình thức tổ chức băng nhóm đòi nợ hoặc có hành vi đe dọa cưỡng bức đòi nợ. Do đó, đề nghị HĐXX xem xét áp dụng Điều 35 BLHS; khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ răn đe và giáo dục bị cáo. Ngoài ra đề nghị HĐXX xem xét lại một số lần cho vay như sau: Lần tính cho bà D vay 380.000.000 đồng thì bị cáo tuy có viết giấy nhận tiền của bà D 50.000.000 đồng nhưng thực tế bà D không giao tiền mà lại chuyển cho bà M giao, đến nay bà M chưa giao cho bị cáo S; lần cho vay đối với bà H1 và bà T12 thông qua bà M thì không xác định được nhân thân hai người này, không có lời khai xác thực được hai người này có giao dịch vay mượn với bị cáo hay không mà chỉ căn cứ lời khai của bà M để từ đó cho rằng bị cáo phạm tội với hai người này là chưa đủ cơ sở; đối với việc giao dịch cấn trừ nợ thông qua việc mua bán đất giữa bị cáo và bà D thì đến nay bị cáo chưa nhận quyền sử dụng đất hợp pháp nên cũng không thể xem lần này là cho vay lãi nặng. Đối với các giấy tờ là vật chứng bị thu giữ nhưng không liên quan hành vi phạm tội thì đề nghị trả lại cho bị cáo vì đây là chứng cứ việc bị cáo cho người khác vay tiền.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa vắng mặt một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng việc vắng mặt này không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận nhiều lần cho Lê Thị Kim D vay lãi nặng, trong đó có hai lần Viện kiểm sát kết luận bị cáo cho vay lãi nặng nhưng chưa đủ cơ sở xác định. Tòa án đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng Viện kiểm sát không thực hiện, do đó HĐXX căn cứ lời khai và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án để xét xử theo thẩm quyền.
[3] Đối với lần chốt nợ và thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để trừ nợ, xét thấy: Theo hồ sơ thể hiện tính đến ngày 12/4/2022, bà D và bị cáo chốt bà dung còn nợ bị cáo số tiền gốc là 720.000.000 đồng (gồm 510.000.000 đồng nợ gốc và 210.000.000 đồng chuyển nghĩa vụ trả nợ từ Lê Thị M sang) nhưng không trả được. Đến tháng 6/2022, bị cáo tính lãi bà D phải trả là 460.000.000 đồng. Do bà D không có tiền trả nên hai bên thỏa thuận bà D chuyển nhượng cho bị cáo thửa đất (do bà Hồ Thị T8 chủ hộ đứng tên sử dụng đất) tại N, H4 Mỹ Tây để trừ nợ, sau khi trừ đặt cọc 900.000.000 đồng thì D còn nợ bị cáo 280.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bà Lê Thị Kim D thừa nhận việc đặt cọc chuyển nhượng cho bị cáo S quyền sử dụng đất của bà Hồ Thị T8 là do bà D nợ nhiều chứ bà T8 không tự ý chuyển nhượng đất cho bị cáo S; trong khi đó, bà D là người không có quyền sử dụng đất và không được quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất; các bên cũng không có thỏa thuận cụ thể về việc bà T8 tặng cho bà D giá trị quyền sử dụng đất để cấn trừ nợ. Do đó, việc đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T8, bà D và bị cáo là trái pháp luật. Đến thời điểm xét xử, bị cáo S chưa nhận được tài sản, chưa có quyền sở hữu, sử dụng tài sản nói trên nên chưa đủ cơ sở xác định số tiền 460.000.000 đồng là tiền bà D đã trả lãi cho bị cáo. Đồng thời, đối với số tiền 210.000.000 đồng nghĩa vụ trả nợ của bà M chuyển cho bà D để tính là khoản tiền dùng cho vay lãi nặng là không đủ cơ sở, vì chưa phát sinh việc trả lãi.
[4] Đối với lần thỏa thuận vay mượn 380.000.000 đồng ngày 23/02/2023: Bà D trình bày đã trả cho bị cáo 50.000.000 đồng tiền lãi đối với số tiền nợ gốc 380.000.000 đồng, bị cáo có viết xác nhận nhận tiền. Tuy bị cáo S thừa nhận có viết nhận tiền với bà D nhưng bà D không trả tiền trực tiếp cho bị cáo mà chỉ nói miệng là chuyển khoản nhờ bà Lê Thị M trả hộ. Đến nay bị cáo S không nhận được số tiền này từ bà M. Tại phiên tòa, bà D và bà M đều thừa nhận bà D có chuyển tiền vào tài khoản của bà M để bà M rút tiền trả nhưng bà M không cung cấp được chứng cứ chứng minh đã giao số tiền này cho bị cáo S; bị cáo cũng khẳng định chưa nhận số tiền này bà M. Xét giấy ghi nhận tiền là chứng cứ giao dịch giữa bị cáo và bà D nhưng nghĩa vụ giao trả tiền là giữa bà M và bị cáo nhưng không có chứng cứ chứng minh bị cáo đã nhận số tiền này. Do đó, không đủ cơ sở xác định số tiền 50.000.000 đồng là tiền bà D đã trả lãi cho bị cáo; số tiền 380.000.000 đồng cũng không được xác định là tiền bị cáo sử dụng cho vay lãi nặng.
[5] Đối với những lần cho vay lãi nặng khác giữa bị cáo với bà D và với những người khác bị cáo đều thừa nhận và đều phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp nhau, phù hợp với vật chứng, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nên đủ căn cứ xác định: Để thu lợi bất chính từ hoạt động cho vay tiền, trong khoảng thời gian từ tháng 06/2021 đến tháng 4/2023, tại nhà riêng ở thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên, Nguyễn Thị S đã trực tiếp cho 11 người vay tiền với lãi suất cao hơn gấp 5 lần mức lãi suất cao nhất mà Bộ luật Dân sự quy định thu lợi bất chính tổng số tiền 432.264.383 đồng, cụ thể như sau:
| Stt | Họ và tên người vay | Tiền đã sử dụng cho vay lãi nặng (đồng) | Tiền lãi đã thu lợi bất chính (đồng) | Tiền lãi đã thu tương ứng lãi suất 20%/năm (đồng) |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Lê Thị Kim Dung | 460.000.000 | 64.298.630 | 8.832.877 |
| 2 | Huỳnh Thị Hảo | 150.000.000 | 21.041.096 | 2.986.301 |
| 3 | Trương Thị Thu Thủy | 270.000.000 | 84.978.082 | 9.221.917 |
| 4 | Lê Thị Miền | 630.000.000 | 121.702.740 | 17.797.260 |
| 5 | Hồ Thị Thiên | 15.000.000 | 7.119.178 | 1.380.821 |
| 6 | Đặng Thị Thu Thơ | 110.000.000 | 27.191.781 | 4.608.219 |
| 7 | Đoàn Vũ Thị Trâm | 100.000.000 | 22.178.082 | 4.821.918 |
| 8 | Trần Thị Bích Thủy | 50.000.000 | 26.178.082 | 2.021.918 |
| 9 | Vi Bích Huyền | 80.000.000 | 26.508.219 | 4.964.383 |
| 10 | Võ Thị Kim Thảo | 30.000.000 | 8.035.616 | 1.380.821 |
| 11 | Nguyễn Thị Tình | 140.000.000 | 23.032.877 | 3.967.124 |
| Tổng cộng: | 2.035.000.000 | 432.264.383 | 61.983.559 | |
[6] Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị S đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa là có căn cứ và đúng pháp luật.
[7] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để răn đe, giáo dục và phòng ngừa cho xã hội.
[8] Về áp dụng hình phạt: Xét bị cáo phạm tội không có tính chuyên nghiệp; không tổ chức hình thức băng, ổ nhóm; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là phụ nữ trên 60 tuổi, gia đình khó khăn, bị cáo là trụ cột phải thường xuyên chăm lo cho chồng bị bệnh nặng thường xuyên phải chạy thận. Do đó, HĐXX áp dụng nguyên tắt xét xử quy định Điều 3 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe. Xét quá trình điều tra, truy tố xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tự nguyện nộp 50.000.000 đồng sữa chữa, khắc phục một phần hậu quả là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo thực hiện nhiều lần hành vi cho vay lãi nặng trong đó có chỉ có 01 lần thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên nên không áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần.
[9] Đối với số tiền sử dụng cho vay lãi nặng sử dụng vào việc phạm tội nên cần buộc bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa trả nợ gốc cho bị cáo giao nộp để tịch thu sung quỹ Nhà nước. Trong đó, buộc những người chưa trả tiền vay cho bị cáo giao nộp để sung vào ngân sách Nhà nước gồm: bà D 460.000.000 đồng; bà H 150.000.000 đồng; bà Trương Thị Thu T2 270.000.000 đồng; bà M 20.000.000 đồng; bà T3 20.000.000 đồng; bà T4 49.000.000 đồng; bà Bích T5 25.000.000 đồng và buộc bị cáo phải giao nộp số tiền gốc còn thiếu 1.041.000.000 đồng tiền sử dụng cho vay lãi nặng và 61.983.559 đồng tiền lãi đã thu tương ứng mức lãi suất cao nhất BLDS quy định, được trừ vào 50.000.000 đồng bị cáo đã nộp khắc phục.
[10] Đối với số tiền lãi trên 20%/năm là khoản tiền bị cáo thu lợi bất chính từ những người vay nên cần buộc bị cáo phải trả lại. Cụ thể trả lại từng người số tiền như sau: Bà D 64.298.630 đồng; bà H 21.041.096 đồng; bà Trương Thị Thu T2 84.978.082 đồng; bà T3 23.032.877 đồng; bà M 121.702.740 đồng; bà T 7.119.178 đồng; bà T4 27.191.781 đồng; bà T1 22.178.082 đồng; bà Trần Thị Bích T5 26.178.082 đồng; bà H1 26.508.219 đồng; bà T12 8.035.616 đồng.
[11] Về xử lý vật chứng, đồ vật thu giữ:
[12] Đối với 3 quyền vở và 01 quyển sổ màu đen sử dụng ghi lại việc cho vay; các giấy mượn tiền và giấy tờ liên quan việc vay mượn giữa bị cáo với 11 người cho vay lãi nặng thì tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án
[13] Đối với các vật chứng là giấy tờ vay mượn và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thu giữ của bị cáo không liên quan đến tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì trả lại cho bị cáo, cụ thể trả lại: 02 giấy mượn tiền của Mai Thị T6 (bút lục 25,26); 04 giấy mượn tiền và giấy “văn bản thỏa thuận” của Lê Thị M (bút lục 27-31); 03 giấy mượn tiền của Huỳnh Thị H (bút lục 32-34); 04 giấy mượn tiền của Trương Thị Thu T2 (bút lục 41, 43, 44, 46); 01 giấy mượn tiền của Nguyễn Thị T3 (bút lục 49); 01 giấy mượn tiền của Đặng Thị Thu T4 (bút lục 51); 03 giấy mượn tiền của Hà Tấn B (bút lục 53-55); 01 giấy mượn tiền của Trần Thị N (bút lục 56); 03 giấy mượn tiền của Trần Thị Bích T5 (bút lục 65-67); 01 giấy mượn tiền của Võ Văn H3 (bút lục 68); giấy CNQSD đất của Võ N2, Trần Công A, M, Trần Thị H4. Riêng giấy CMND của Trương Thị Thu T2 số [...] là giấy tờ nhân thân nên trả lại; 02 giấy CNQSDĐ của bà Hồ Thị T8 sử dụng chuyển nhượng trừ nợ cho bà D không hợp pháp nên trả lại cho bà Hồ Thị T8.
[14] Về án phí: Bị cáo có đơn xin miễn án phí nhưng không thuộc trường hợp được miễn, giảm nên phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 BLHS; Điều 3 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị S phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt:
Buộc bị cáo Nguyễn Thị S phải nộp phạt số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng.
- Áp dụng Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tịch thu sung vào nhân sách Nhà nước đối với số tiền 2.035.000.000 đã sử dụng cho vay lãi nặng và 61.983.559 đồng tiền lãi bị cáo đã thu tương đương mức lãi suất cao nhất BLDS quy định. Trong đó:
- - Buộc bị cáo Nguyễn Thị S phải giao nộp số tiền 1.041.000.000 đồng tiền sử dụng cho vay và 61.983.559 đồng tiền lãi đã thu, được trừ vào 50.000.000 đồng đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000357 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa. Tổng số tiền bị cáo phải nộp là 1.052.983.559 đồng.
- - Buộc bà Lê Thị Kim D phải giao nộp số tiền 460.000.000 đồng;
- - Buộc bà Huỳnh Thị H phải giao nộp số tiền 150.000.000 đồng;
- - Buộc bà Trương Thị Thu T2 phải giao nộp số tiền 270.000.000 đồng;
- - Buộc bà Lê Thị M phải giao nộp số tiền 20.000.000 đồng;
- - Buộc bà Nguyễn Thị T3 phải giao nộp số tiền 20.000.000 đồng;
- - Buộc bà Đặng Thị Thu T4 phải giao nộp số tiền 49.000.000 đồng;
- - Buộc bà Trần Thị Bích T5 phải giao nộp số tiền 25.000.000 đồng
- Để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Buộc bị cáo Nguyễn Thị S phải trả lại cho từng người số tiền bị cáo đã thu lợi bất chính, cụ thể như sau:
- Trả lại cho bà Lê Thị Kim D 64.298.630 đồng;
- Trả lại cho bà Huỳnh Thị H 21.041.096 đồng;
- Trả lại cho bà Trương Thị Thu T2 84.978.082 đồng;
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị T3 23.032.877 đồng;
- Trả lại cho bà Lê Thị M 121.702.740 đồng;
- Trả lại cho bà Hồ Thị T 7.119.178 đồng;
- Trả lại cho bà Đặng Thị Thu T4 27.191.781 đồng;
- Trả lại cho bà Đ1 Vũ Thị T1 22.178.082 đồng;
- Trả lại cho bà Trần Thị Bích T5 26.178.082 đồng;
- Trả lại cho bà Vi Bích H1 26.508.219 đồng;
- T13 lại cho bà Võ Thị Kim T10 8.035.616 đồng
- Về xử lý vật chứng, đồ vật: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trả lại cho bị cáo: 02 giấy mượn tiền của Mai Thị T6 (bút lục 25,26); 04 giấy mượn tiền và giấy “văn bản thỏa thuận” của Lê Thị M (bút lục 27-31); 03 giấy mượn tiền của Huỳnh Thị H (bút lục 32-34); 04 giấy mượn tiền của Trương Thị Thu T2 (bút lục 41, 43, 44, 46); 01 giấy mượn tiền của Nguyễn Thị T3 (bút lục 49); 01 giấy mượn tiền của Đặng Thị Thu T4 (bút lục 51); 03 giấy mượn tiền của Hà Tấn B (bút lục 53-55); 01 giấy mượn tiền của Trần Thị N (bút lục 56); 03 giấy mượn tiền của Trần Thị Bích T5 (bút lục 65-67); 01 giấy mượn tiền của Võ Văn H3 (bút lục 68); 04 giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho Võ N2, Trần Công A, Mai T14, Trần Thị H4.
- Trả lại cho bà Trương Thị Thu T2 giấy CMND số [...].
- Trả lại cho bà Hồ Thị T8 02 giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất số 146820 và số 783458.
- Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 3 quyền vở và 01 quyển sổ màu đen sử dụng ghi lại việc cho vay; các giấy mượn tiền và giấy tờ khác liên quan trực tiếp việc vay mượn giữa bị cáo với 11 người cho vay lãi nặng.
- (Các vật chứng, tài liệu trên đều có kèm trong hồ sơ vụ án).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật TTHS; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Thị S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Nguyễn Thành Vinh |
Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 04/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về hình sự (cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Số bản án: 25/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị S phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
