|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 25/2024/DS-PT Ngày 04 - 5 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tháo dỡ công trình trên đất. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Tú
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Hữu Tăng
Ông Phạm Trung Thực
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên: Ông Nguyễn Thanh Hà, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 06 tháng 3, ngày 05 và 23 tháng 4, và ngày 04 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 75/2023/TLPT-DS ngày 23 tháng 11 năm 2023 về “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tháo dỡ công trình trên đất”
Do bản án Dân sự sơ thẩm số 12/2023/DS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXPT-DS ngày 02 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1971; “có mặt”
- Bà Trần Thị L, sinh năm 1970; “có mặt”
Đều địa chỉ: thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn C: Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1994; Địa chỉ: thị trấn K, huyện K, tỉnh Hưng Yên (Văn bản ủy quyền ngày 16/03/2022); “có mặt”
- Bị đơn:
- Ông Lưu Đình L1, sinh năm 1954; “có mặt”
- Bà Nguyễn Thị C2, sinh năm 1962; “có mặt”
Đều địa chỉ: thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lưu Đình L1: Ông Nguyễn Khắc A, Luật sư của Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh H; “có mặt”
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Đăng C3, Chủ tịch; “vắng mặt”
- Người làm chứng:
- Ông Lưu Đình P, sinh năm 1961; “vắng mặt”
- Ông Lưu Đình P1, sinh năm 1961; “vắng mặt”
- Ông Nguyễn Văn C4, sinh năm 1968; “vắng mặt”
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965; “vắng mặt”
- Ông Trần Quang D, sinh năm 1976; “vắng mặt”
- Ông Lê Minh Đ, sinh năm 1952; “vắng mặt”
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1970; “vắng mặt”
Đều trú tại: thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Lưu Đình L1 và bà Nguyễn Thị C2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 17 tháng 11 năm 2020 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị L Trình bày: Ngày 03/8/2007 ông bà ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng (QSD) đất với vợ chồng ông Lưu Đình L1 bà Nguyễn Thị C2, theo đó ông L1 bà C2 chuyển nhượng cho ông bà 135m² đất ở thửa số 06 tờ bản đồ số 20 thôn H, xã T với số tiền 240.000.000 đồng. Vị trí đất có tứ cận, phía Đông giáp nhà ông Lê Hữu T1 dài 30m, phía Tây giáp đất còn lại nhà ông L1 kích thước 30m, phía Nam giáp đường 200 kích thước 4,5m, phía Bắc giáp nhà ông M kích thước 4,5m. Ngay sau khi ký hợp đồng ông bà đã trả đủ 240.000.000 đồng cho ông L1, bà C2. Ngày 05/8/2007 ông bà đề nghị chính quyền địa phương xác định mốc giới, ông T2 cán bộ địa chính xã có đến đo đạc để hai bên bàn giao đất cho nhau. Sau khi đo đạc ông T2 thông báo cho biết diện tích hai bên được chuyển nhượng là 117m² (rộng 4,5m, dài 26m), còn 18m² (04m x 4,5m) phía trước giáp đường 200 là đất lề đường không được chuyển nhượng. Do vị trí 18m² đất lề đường ở phía trước 117m², nên hai bên vẫn cam kết chuyển nhượng 135m², trong ngày 05/8/2007 hai bên lập cam kết viết tay, kích thước thửa đất chuyển nhượng rộng 4,5m, dài 30m. Ngày 08/8/2007 Chủ tịch UBND xã T chứng thực hợp đồng chuyển nhượng cho hai bên với diện tích 117m², trong hợp đồng hai bên thỏa thuận ghi số tiền 65.000.000 đồng, mục đích không phải nộp thuế cao.
Tại vị trí 18m² đất lề đường 200, nhà ông L1 có xây cổng để đi vào nhà, do ông bà chưa sử dụng đất, nên ông L1 bà C2 nói để cho đi nhờ, để cổng và hàng rào cho kín đáo, tránh mọi người vứt rác vào, khi nào nhà ông bà về sử dụng thì ông L1 bà C2 sẽ tự phá bỏ cổng và hàng rào trả đất cho ông bà sử dụng.
Năm 2009 ông bà về quê sinh sống và yêu cầu vợ chồng ông L1 phá cổng, hàng rào trả đất nhưng nhà ông L1 không trả và cho rằng phần đất có hai trụ cổng (18m²) không nằm trong hợp đồng chuyển nhượng, do vậy diện tích đất vợ chồng ông bà mua không có lối đi. Anh em họ hàng hai bên đã khuyên giải nhưng nhà ông L1 không đập trụ cổng trả đất. Tháng 9 năm 2020 thấy nhà ông L1 làm lán tôn ở phần đất 18m² phía trước đất, ông bà đã yêu cầu vợ chồng ông L1 không được làm nhưng ông L1 không nghe, chính quyền cũng đã yêu cầu nhà ông L1 phải dừng lại không được làm nhưng sau đó vài ngày nhà ông L1 cho thợ làm ban đêm.
Nay ông bà đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông L1 bà C2 phải thực hiện theo hợp đồng và bản cam kết, tự tháo dỡ lán tôn, trụ cổng, hàng rào, trả vợ chồng ông bà 18m² đất ở phía trước, để ông bà làm lối đi.
Theo bản trích đo hiện trạng thì phía Bắc thửa đất nhà ông bà là 4,01m, thiếu 0,40m, do nhà ông T1 xây tường lấn sang 0,35m, nhà ông L1 bà C2 xây nhà vệ sinh lấn 0,05m. Ông bà và nhà ông T1 đã thỏa thuận với nhau, hai nhà tự đo trả cho nhau nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn nhà ông L1 bà C2 bàn giao đất thiếu 0,05m ông bà không yêu cầu, nhất trí lấy đất ở phía Bắc có kích thước 4,45m.
Bị đơn vợ chồng ông Lưu Đình L1 bà Nguyễn Thị C2 trình bày: Ngày 03/8/2007 ông L1 có lập hợp đồng chuyển nhượng QSD đất cho vợ chồng ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị L. Trước khi lập hợp đồng chuyển nhượng thì ông và cụ Trần Quốc T3 (là bố đẻ của bà L) thỏa thuận mua bán với nhau. Giá chuyển nhượng 340.000.000 đồng kích thước đất dài 30m, rộng 4,5m. Ngày 03 tháng 8 năm 2007 khi hai bên lập hợp đồng thì cụ T3 nói mua hộ con gái và con rể là vợ chồng ông C, bà Lý do v trong hợp đồng có ghi bên nhận chuyển nhượng là ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị L, hợp đồng ghi giá chuyển nhượng là 65.000.000 đồng để giảm số tiền nộp phí, thuế. Thửa đất chuyển nhượng là loại đất thổ cư, giáp mặt đường 200, ranh giới thửa đất chuyển nhượng cụ thể: Phía Đông giáp nhà ông Lê Hữu T1 kích thước 30m, phía Tây giáp nhà tôi (ông Lưu Đình L1) kích thước 30m, Phía Nam giáp đường 200 kích thước 4,5m, Phía Bắc giáp nhà ông Lưu Đình M1 kích thước 4,5m. Ngày 06/8/2007 cán bộ địa chính xã T là ông Đỗ Đình T4 đến đo đạc và lập biên bản xác định mốc giới thửa đất. Ngày 08/8/2007 ông cầm hợp đồng đến UBND xã làm thủ tục chứng thực, ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị L chưa ký vào hợp đồng, trong hợp đồng chỉ có chữ ký của ông và vợ ông ở mục bên chuyển nhượng, địa chính xã là ông Đỗ Đình T4 và Chủ tịch UBND xã là ông Đỗ Xuân S ký chứng thực hợp đồng cho ông. Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất được lập làm ba bản, sau khi chứng thực, UBND xã giữ một bản, giao lại cho ông 02 bản, cụ T3 đến mượn hai bản hợp đồng gửi vào miền N cho vợ chồng ông C bà L ký. Sau khi ông C bà L ký xong và gửi ra, cụ T3 giữ một bản, giao cho vợ chồng ông một bản, đồng thời cụ T3 giao trả vợ chồng ông 187.000.000 đồng. Xuyên suốt quá trình thỏa thuận mua bán, lập hợp đồng, ông chỉ làm việc với cụ T3, nhận tiền từ cụ T3, chưa có lần nào thỏa thuận hoặc nhận tiền từ bà L, ông C. Ông khẳng định vợ chồng ông chỉ nhận tiền chuyển nhượng QSD đối với 117m² kích thước chiều dài 26m, chiều rộng 4,5m. Vợ chồng ông cũng muốn bán 135m² như hợp đồng, nhưng cụ T3 chỉ mua và trả tiền đối với 117m². Nay ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Có lời khai ông L1 trình bày ông và cụ T3 thỏa thuận giá chuyển nhượng 117m² là 240.000.000 đồng, ông đã nhận 187.000.000 đồng, ông không nhớ cụ T3 hay vợ chồng ông C bà L trả, số tiền 53.000.000 đồng còn lại ông đòi nhiều lần cụ T3 không trả. Ông chưa đo đất, chưa bàn giao đất cho vợ chồng ông C bà L, cũng như cụ T3, ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đối với bản cam kết đề ngày 05/8/2007 ông xác nhận chữ ký và chữ viết Lưu Đình L1 đúng là chữ ký và chữ viết của ông, còn nội dung bản cam kết này không phải chữ viết của ông, ông D là em trai bà L cầm bản cam kết đến đưa ông ký, khi ký ông đang ngồi uống rượu tại nhà ông Đỗ Văn Đ1 ở thôn H, cùng uống rượu với ông còn có ông Lưu Đình P1, Lưu Đình P, ông Đỗ Quang T5 chứng kiến. Sau khi chuyển nhượng đất nhà ông nộp thuế 185m², còn nhà ông C bà L nộp thuế đối với diện tích 117m².
Ngày 03/11/2021 vợ chồng ông L1 bà C2 nộp đơn phản tố đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 03/8/2007 là vô hiệu, vì vợ chồng ông không thỏa thuận gì với ông C bà L, chữ ký trong hợp đồng không phải chữ ký của ông C bà L.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã T trình bày: Nguồn gốc đất của hộ ông L1 là lấn chiếm đất ao, vượt lập đất của tập thể, được địa phương xử lý đất dôi dư cho nộp tiền. Theo tờ bản đồ số 05, lập năm 2000, thửa 281 ông Lưu Đình L1 đứng tên QSD 582m² đây là diện tích hiện trạng sử dụng.
Theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hộ ông L1, bà C2 với vợ chồng ông C bà L, còn lưu tại UBND xã T, thì diện tích hai hộ được địa phương chứng thực cho chuyển nhượng là 117m² (4,5 x 26)m, còn 18m² (4 x 4,5)m là đất lề đường, đất công, ông L1 đã lấn chiếm, sử dụng, không phải chính quyền địa phương cắt ra 18m² đất hợp lý, hợp pháp của hộ ông L1 để làm lề đường, do vậy khi chuyển nhượng phải trừ 18m² đất lề đường.
Diện tích 117m² ông L1, bà C2 chuyển nhượng cho ông C bà L được xã chứng thực cho chuyển nhượng có kích thước (4,5 x 26)m, tính từ nhà ông M1 ở hướng Bắc kéo về hướng N, tiếp đến là 18m² đất lề đường của tập thể và đường 200, do vậy mặc nhiên hộ ông C bà L nhận chuyển nhượng của ông L1, bà C2 được sử dụng 18m² đất lề đường này để ra đường 200, nhưng không được xây dựng bất cứ công trình gì trên 18m² đất lề đường, khi địa phương có nhu cầu sử dụng thì hộ ông C bà L phải bàn giao, không được bồi thường.
Theo tờ bản đồ số 20, lập năm 2014, thửa 264 ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị L đứng tên sử dụng với diện tích 134,7m². Năm 2017 Hội đồng tư vấn xét duyệt cấp giấy chứng nhận QSD đất, đã xét duyệt cho ông Nguyễn Văn C đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận QSD đất với diện tích 117m2. Diện tích còn lại là đất lề đường, đất công của địa phương.
Bà Nguyễn Thị B trình bày: Vợ chồng bà mua lại thửa đất của vợ chồng ông bà T6 - Đ2, trước đó nhà Tuyết Đ3 mua của nhà ông L1, bà C2, khi mua có thỏa thuận rộng 05m dài hết khổ đất từ hướng Nam giáp đường B đến hướng Bắc giáp nhà ông M1, hiện thửa đất nhà bà là thửa 08 do chồng bà là ông Lương Đình N đứng tên, liền kề là thửa 07 của nhà cụ Lê Hữu T1 (bố ông Lê Minh Đ). Khi gia đình bà xây nhà, hai gia đình đã xác định ranh giới, mốc giới, hai gia đình sử dụng ổn định, không có tranh chấp gì, nhà bà đã xây hết mốc giới đất với nhà cụ T1, tường nhà bà là mốc giới cố định để xác định mốc giới với nhà cụ T1 (ông Đ).
Ông Lê Minh Đ, con cụ Lê Hữu T1 trình bày: Bố ông mua đất nhà ông L1, Chiều rộng hướng Bắc và N1 đều 05m, phía Đông giáp nhà bà B, phía Tây giáp đất nhà ông L1 bán cho ông C. Mốc giới nhà ông và nhà bà B sử dụng ổn định không có tranh chấp, tường rào giữa đất nhà ông và nhà ông C nếu có chồng lấn thì hai nhà tự đo đạc phân chia với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án.
Người làm chứng ông Lưu Đình P, em ông Lưu Đình L1 cung cấp: Ông L1 khai năm 2007 ông cùng một số người là Lưu Đình P1, Đỗ Văn T7, Lưu Đình L1 uống rượu tại nhà ông Đỗ Văn Đ1, thì ông D là em trai bà L cầm bản cam kết vào cho ông L1 ký, do thời gian đã lâu nên ông không nhớ có chứng kiến sự kiện này hay không.
Ông Lưu Đình P1, anh họ ông Lưu Đình L1 cung cấp: Ông L1 khai năm 2007 tại nhà ông Đỗ Văn Đ1 có ông cùng một số người là Lưu Đình P, Đỗ Văn T7, Lưu Đình L1 đang uống rượu, thì ông D là em trai bà L cầm bản cam kết vào cho ông L1 ký, thời gian đã lâu, ông không nhớ có chứng kiến sự kiện này hay không.
Ông Trần Quang D, em bà Trần Thị L cung cấp: Năm 2007 ông đi làm ăn ở đảo P, đến khoảng năm 2011 mới về quê sinh sống nên không biết việc ông C bà L mua đất của nhà ông L1 bà C2 như thế nào. Việc ông L1 cho rằng ông là người cầm Bản cam kết đề ngày 05/8/2007 vào nhà ông Đỗ Văn Đ1 để lấy chữ ký của ông L1 là hoàn toàn không đúng.
Ông Nguyễn Văn T, anh ông Nguyễn Văn C cung cấp: Tại buổi bà L giao tiền trả ông L1, bà L có nhờ ông và ông C4 cùng đến nhà ông L1 bà C2 trả tiền. Trước khi giao tiền thì hai bên có ký kết hợp đồng tại nhà ông L1 bà C2, ông thấy trong hợp đồng thỏa thuận kích thước thửa đất, chiều ngang 4,5m, chiều dài 30m, tính từ mép đường 200 (cũ) vào bên trong giáp nhà ông M1. Hợp đồng do chính ông L1 viết tại nhà ông L1, ngay khi vợ chồng ông L1 bà C2 ký vào hợp đồng thì bà L đã giao đủ 240.000.000 đồng cho vợ chồng ông L1 - Chiều, ông không biết ai mang hợp đồng ra UBND xã Tân Lập ký chứng thực. Khi ông T4 cán bộ địa chính xã đến đo đạc mốc giới ông có chứng kiến, sau khi đo, ông T4 thông báo thửa đất nhà ông L1 dài 30m, nhưng chỉ được chuyển nhượng 26m, còn 04m giáp mặt đường 200 là đất lề đường, không được chuyển nhượng, chỉ được sử dụng để đi ra đường B, các bên nhất trí với ý kiến của ông T4. Vị trí đất lề đường có hai trụ cổng nhà ông L1 đã xây trước đó, trong hợp đồng hai bên đã thỏa thuận mua bán với chiều dài 30m, đã giao nhận tiền 240.000.000 đồng nên ông L1 viết tiếp cam kết chuyển nhượng chiều dài 30m, nhà ông L1 bà C2 không trả lại bà L và bà L không đòi lại tiền đối với 18m² phần đất lề đường có kích thước (4 x 4,5)m.
Ông Nguyễn Văn C4, anh ông Nguyễn Văn C cung cấp: Trước khi bà L vợ ông C thỏa thuận mua suất đất nhà ông L1 bà C2 thì bố bà L là cụ T3 cũng đã dạm hỏi mua. Khi vợ chồng ông L1 bà C2 đồng ý bán thì cụ T3 đã gọi điện thông báo cho vợ chồng ông C bà L biết, nên bà L từ miền N về đã trực tiếp thỏa thuận với vợ chồng ông bà L1 - Chiều, bà L nhờ ông đi cùng, hai bên thỏa thuận giá 240.000.000 đồng, kích thước rộng 4,5m, dài 30m. Hợp đồng do chính ông L1 viết tại nhà ông L1, hai bên ký kết tại nhà ông L1, ngay khi vợ chồng ông L1 bà C2 ký vào hợp đồng thì bà L đã giao đủ 240.000.000 đồng.
Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ thể hiện: Nguồn gốc đất ông L1 sử dụng là lấn chiếm đất ao, bồi lấp đất của tập thể, khoảng năm 1997 được địa phương xử lý thu tiền, nên theo bản đồ lập năm 2000, tờ bản đồ số 05, thửa 281 ông Lưu Đình L1 đứng tên quyền sử dụng 582m². Quá trình sử dụng ông L1 đã chuyển nhượng cho cụ Lê Hữu T1, Đỗ Văn Đ4 và Nguyễn Văn C. Khi chuyển nhượng cho cụ T1 và ông Đ4 các bên chỉ làm đơn xin chuyển nhượng, thôn và xã chứng thực, không đề nghị xác định ranh giới, mốc giới, khi chuyển nhượng cho ông C bà L thì hai bên có lập hợp đồng theo mẫu quy định và đề nghị xác định ranh giới, mốc giới, nên địa phương đã xác định phần đất các bên được chuyển nhượng và phần đất lề đường không được chuyển nhượng.
Theo bản đồ năm 2005, chỉnh lý năm 2014. Thửa 06 diện tích 166,9m² do ông Lưu Đình L1 đứng tên QSD, thửa 07 diện tích 154m² do ông Lê Minh Đ đứng tên QSD, thửa 38 diện tích 157m² do ông Lưu Đình N2 đứng tên QSD và thửa 264 diện tích 134,7m² do ông Nguyễn Văn C đứng tên QSD. Toàn bộ diện tích trên là diện tích hiện trạng sử dụng, bao gồm cả đất lề đường.
Năm 2017 Hội đồng xét duyệt cấp giấy chứng nhận QSD đất đã xét duyệt đối với hộ ông Nguyễn Văn C, diện tích được xét duyệt cấp giấy là 117m², bằng với diện tích xã đã chứng thực cho ông L1 bà C2 chuyển nhượng cho ông C bà L năm 2007.
Kết quả thẩm định, trích đo hiện trạng: Thửa 38 diện tích 157m² do ông Lương Đình N đứng tên, vợ chồng ông Nguyễn bà B1 đã xây nhà kiên cố hết mốc giới với thửa đất số 07 liền kề của cụ Lê Minh Đ. Hiện thửa đất của cụ Đ bỏ trống, mới đổ cát tôn nền, thửa đất được kéo dài từ hướng Bắc giáp nhà ông M1, ra hướng Nam giáp đường B, ông Đ con cụ T1 đã xây tường gạch đỏ 110 làm ranh giới với thửa 264 do ông C đứng tên, tường rào phía Bắc thửa đất xây sang thửa 264 0,35m với tổng diện tích 5,6m². Thửa đất 264 của ông C bà L, từ hướng Bắc giáp ông M1 kéo về hướng Nam 26m, tiếp đến lán tôn do ông L1 dựng và xây tường bao chân lán, nên từ hướng Nam nhìn vào thì thửa đất của ông C không có lối đi, bị chắn bởi lán tôn, trụ cổng hàng rào hoa sắt do ông L1, bà C2 làm.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 12/2023/DS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:
Áp dụng khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 116, 117; 118; 119; 385; 398; 500; 501; 502; 503 Bộ luật Dân sự. Điều 167 Luật đất đai. Nghị định 43/2014/NĐ - CP ngày 15/05/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai. Nghị quyết 326/2009/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng và quản lý án phí, lệ phí Tòa án.
- Bác toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Lưu Đình L1 và bà Nguyễn Thị C2.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị L.
- Xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 03/08/2007, được chính quyền địa phương chứng thực ngày 08/8/2007 có hiệu lực pháp luật.
- Buộc vợ chồng ông Lưu Đình L1 bà Nguyễn Thị C2, phải tự tháo dỡ toàn bộ hai trụ cổng, hàng rào hoa sắt, lán tôn, tường xây, đất, cát tôn nền và bàn giao 17,3m² đất nề đường 200, nằm trong thửa 264, tờ bản đồ số 20 lập năm 2014, tại thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, cho vợ chồng ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị L. Vợ chồng ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị L được sử dụng 17,3m² đất nề đường 200 làm lối đi vào thửa 264, không ai được ngăn cấm, cản trở. Ông C bà L không được xây dựng công trình gì trên 17,3m² đất nề đường, khi nào địa phương sử dụng, ông C bà L phải có trách nhiệm bàn giao không được yêu cầu đền bù. (có sơ đồ kèm theo).
Bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 24 tháng 7 năm 2023, bị đơn ông Lưu Đình L1 và bà Nguyễn Thị C2 kháng cáo đề nghị hủy bản án dân sự sơ thẩm vì không khách quan toàn diện, vi phạm nghiêm trọng Bộ luật Tố tụng dân sự. Trường hợp khắc phục được vi phạm thì đề nghị sửa bản án sơ thẩm buộc ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị L phải thanh toán toàn bộ tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất 135m².
Tại phiên tòa: Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: các bên phải thực hiện theo hợp đồng nên không chấp nhận giao đất và tháo dỡ công trình trên đất không chuyển nhượng cho ông C, bà Lý d không nhận tiền diện tích đất không được chuyển nhượng của ông C, bà L. Diện tích đất 18m² chưa xác định được loại đất, và gia đình đang quản lý sử dụng nên phải được tạm giao theo quy định của pháp luật nên đề nghị chấp nhận yêu cầu phản tố tuyên hợp đồng chuyển nhượng đất vô hiệu và nhất trí bồi thường thiệt hại theo mức lãi suất ngân hàng. Trường hợp công nhận hợp đồng thì ông C, bà L phải thanh toán 18m² đất số tiền 700.000.000 đồng.
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và trình bày đất chuyển nhượng đã được địa phương xử lý, hợp đồng chuyển nhượng do các bên đầy đủ năng lực hành vi dân sự giao kết bằng văn bản do ông L1 trực tiếp viết theo mẫu. Ông L1 đã nhận đủ tiền, và đã giao đất có lập biên bản ngày 06/8/2007 nên theo Điều 174, 175 BLDS đất lề đường thuộc quyền sử dụng của ông C bà L. Ông L1 chưa được Nhà nước công nhận quyền sử dụng diện tích đất lề đường nên không có quyền, việc ông L1 xây lán tôn năm 2020 làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của ông C, bà Lý do đ đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm và tự nguyện hỗ trợ ông L1, bà C2 chi phí tháo dỡ công trình trên đất số tiền 40.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
Về việc giải quyết vụ án: Hợp đồng đã được các bên thực hiện xong theo Điều 129 BLDS nên cần buộc ông L1 tháo dỡ các công trình trên đất tuy nhiên cấp phúc thẩm chưa xác minh làm rõ được đất lề đường là loại đất gì nên đề nghị tạm ngừng phiên tòa để làm rõ loại đất.
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nên Tòa án xét xử vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Quan hệ pháp luật: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn C bà Trần Thị L đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Lưu Đình L1 bà Nguyễn Thị C2 phải tháo dỡ lán tôn, tường xây, hàng rào, trụ cổng bàn giao trả vợ chồng ông 18m² đất theo như hợp đồng chuyển nhượng và bản cam kết hai bên đã ký, ông Lưu Đình L1 và bà Nguyễn Thị C2 không nhất trí và cho rằng ông bà không bán 18m² đất cho vợ chồng ông C bà L, nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ kiện là “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tháo dỡ công trình trên đất” theo khoản 2 và 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Bị đơn ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị L xác định giá chuyển nhượng theo thoả thuận là 340.000.000 đồng nhưng sau khi giao kết hợp đồng, do UBND xã xác định diện tích đất tranh chấp là lề đường không được chuyển nhượng nên ông Lưu Đình L1, bà Nguyễn Thị C2 không nhất trí nhận chuyển nhượng diện tích đất lề đường, chỉ nhận chuyển nhượng diện tích đất kích thước (4,5m x 26m) với giá tiền 240.000.000 đồng và đã trả 187.000.000 đồng nhưng không xuất trình được chứng cứ chứng minh nên theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.
[4] Xét nội dung bản cam kết ghi ngày 05/8/2007: “gia đình tôi chuyển cho bà L ông C là nằm theo hình chữ nhật chiều ngang tức bề rộng là 4m50 đo đúng và đo đủ và chiều dài chạy sâu thẳng tuột tận cùng thửa đất là 30m ba mươi mét bằng chữ. gia đình tôi lấy số tiền hiện thực của nhà bà L ông C trả tiền giá mua thực tại là 240.000.000 đồng bằng chữ hai trăm bốn mươi triệu đồng chẵn, số tiền ghi giấy cơ quan xác nhận bằng 65.000.000 đồng sáu mươi lăm triệu đồng bằng chữ... diện tích đất chuyển quyền sở hữu gia đình tôi đã giao đủ gia đình bà L ông C đã nhận đủ... phần đề nghị của gia đình tôi phần cuối mảnh đất có một giãnh thoát nước để sử dụng chung vì gia đình chuyển đất đã xây trước” phù hợp với nội dung hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và chính ông L1 trong quá trình giải quyết tranh chấp cũng không yêu cầu ông C bà L phải trả số tiền chưa thanh toán 57.000.000 đồng đã có căn cứ xác định mục đích của các bên là thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất kích thước (4m50 x 30m), giá chuyển nhượng 240.000.000 đồng, bên chuyển nhượng đã nhận đủ tiền và đã giao nhận đất theo thỏa thuận.
[5] Xét yêu cầu phản tố đề nghị hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 03/8/2007 của ông Lưu Đình L1 và bà Nguyễn Thị C2 vì chỉ thỏa thuận chuyển nhượng đất với cụ Trần Văn T8, không thỏa thuận chuyển nhượng với bà L, ông C, chữ ký trong hợp đồng không phải chữ ký của ông C bà L, thấy: Hợp đồng do ông L1 viết và lấy xác nhận của UBND xã, mặt khác nội dung bản cam kết phù hợp với sự thừa nhận của chính ông L1: cụ T8 trao đổi mua đất cho ông C bà L nên yêu cầu ông viết bên nhận chuyển nhượng trong hợp đồng và bà C2 thừa nhận biết và nhất trí với việc chuyển nhượng đất của ông L1 đã có căn cứ xác định ông L1 bà C2 đều biết bên nhận chuyển nhượng là ông C bà L. Xét hợp đồng được các bên tự nguyện giao kết bằng văn bản, đã được UBND xã T chứng thực, bên chuyển nhượng đã nhận đủ tiền chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng đã được kê khai đăng ký theo quy định của pháp luật, được hội đồng tư vấn xét cấp giấy chứng nhận QSD đất xã T xét đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận QSD đất đối với diện tích đất nhận chuyển nhượng theo hợp đồng nên theo khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai. Điều 500, Điều 501, Điều 502 và Điều 503 Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông L1, bà C2 và chấp nhận yêu cầu khởi kiện công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông C, bà L là đúng pháp luật.
[6] Theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, biên bản xác định mốc giới thửa đất và theo Bản cam kết có căn cứ xác định diện tích đất chuyển nhượng theo thỏa thuận có 18m² đất lề đường thuộc quy hoạch hành lang đường 200 nên ông L1 bà C2 không có quyền sử dụng đất diện tích đo thực tế 17.3m² trong lưu không đường vị trí phía Bắc giáp thửa đất của ông C bà L kích thước 4.50m, phía Tây là đường kéo dài ranh giới với thửa đất nhà ông L1 bà C2 kích thước 3.86m, phía Nam giáp lưu không đường kích thước 4.50m và phía Đông là đường kéo dài ranh giới với thửa đất nhà ông T1 kích thước 4.06m, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông L1, bà C2 buộc ông C, bà L thanh toán giá trị quyền sử dụng đất lề đường là có căn cứ.
[7] Xét mục đích của các bên khi giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đều thống nhất chuyển quyền sử dụng đất lề đường vì là lối đi vào thửa đất ông C bà L nhận chuyển nhượng nên các công trình trên đất khi chuyển nhượng và phần mái tôn ông L1 tạo lập trên đất sau khi chuyển quyền sử dụng đất đã được UBND xã T lập biên bản ngày 26 tháng 9 năm 2020 làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền sử dụng đất của ông C, bà Lý do đ cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu buộc ông L1, bà C2 tháo dỡ công trình trên đất hành lang đường phía trước thửa đất ông C, bà L nhận chuyển nhượng của ông L1, bà C2 là phù hợp khoản 5 Điều 166 Luật Đất đai và khoản 2 Điều 164, Điều 166 và Điều 174 Bộ luật Dân sự. Do các chủ sử dụng đất đều sử dụng đất lề đường theo ranh giới thửa đất có quyền sử dụng làm lối đi nên ông C bà L có quyền sử dụng diện tích đất lề đường có ranh giới xác định theo ranh giới thửa đất số 264, tờ bản đồ số 17 nhận chuyển nhượng của ông L1, bà C2 để làm lối đi.
[8] Quan điểm trả ông L1, bà C2 chi phí tháo dỡ công trình trên đất số tiền 40.000.000 đồng của ông C, bà L tại phiên tòa là tự nguyện không trái đạo đức xã hội và phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
[9] Khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất, các bên đều công nhận vị trí đất không được Ủy ban nhân dân xã T cho phép chuyển nhượng là đất lề đường do đó quan điểm tạm ngừng phiên tòa để xác minh mục đích sử dụng đất diện tích đất tranh chấp của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa không phù hợp pháp luật nên không được chấp nhận.
[10] Án phí: Kháng cáo không được chấp nhận nên ông Lưu Đình L1, bà Nguyễn Thị C2 đều phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 308 và khoản 1 Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Lưu Đình L1 và bà Nguyễn Thị C2, chấp nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị L, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2023/DS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị L. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lưu Đình L1 và bà Nguyễn Thị C2.
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ghi ngày 03 tháng 8 năm 2007 được Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên chứng thực ngày 08 tháng 8 năm 2008 giữa bên chuyển nhượng ông Lưu Đình L1, bà Nguyễn Thị C2 và bên nhận chuyển nhượng ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị L có hiệu lực pháp luật.
- Xác nhận ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị L được sử dụng đất lưu không đường làm lối đi diện tích đo thực tế 17.3m² vị trí phía Nam giáp lưu không đường kích thước 4.50m, phía Tây là đường kéo dài ranh giới thửa đất số 264 và thửa đất số 6 kích thước 3.86m, phía Bắc giáp đất ông C bà L kích thước 4.50m, và phía Đông là đường kéo dài ranh giới thửa đất số 264 với thửa đất số 07 kích thước 4.06m; địa chỉ đất: thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
- Buộc ông Lưu Đình L1 và bà Nguyễn Thị C2 tháo dỡ hai trụ cổng, hàng rào hoa sắt, lán tôn, tường xây, cửa xếp, đất, cát tôn nền trên diện tích đất hành lang đường ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị L được sử dụng làm lối đi. (hình ABCD trong sơ đồ kèm theo bản án).
(Vị trí, ranh giới đất ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị L được sử dụng làm lối đi và ông Lưu Đình L1, bà Nguyễn Thị C2 phải tháo dỡ công trình trên đất xác định theo sơ đồ kèm theo bản án và là phần không tách rời của bản án)
- Công nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị L trả ông Lưu Đình L1 và bà Nguyễn Thị C2 chi phí tháo dỡ công trình trên đất số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
- Án phí: Ông Lưu Đình L1 và bà Nguyễn Thị C2 mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 600.000 đồng đã nộp theo Biên lai số 0009541 và 0009542 cùng ngày 02 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Mỹ; ông L1 và bà C2 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trương Quang Tú |
Bản án số 25/2024/DS-PT ngày 04/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tháo dỡ công trình trên đất
- Số bản án: 25/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tháo dỡ công trình trên đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: quyền sử dụng đất
