|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 25/2024/IHS-ST Ngày 03/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Lê Đức Cơ - Hiệu phó trường PTTH Mỹ Đức C;
Ông Phan Mạnh Tưởng - Cán bộ Nghỉ hưu
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Duy Luân - Kiểm sát viên.
Trong các ngày từ ngày 29/5/2024 đến ngày 03/6/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội; đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử và thông báo hoãn phiên tòa đối với các bị cáo:
- Họ tên: Nguyễn Đức M; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không sinh ngày: 26/4/2007; HKTT: thôn T, xã T, huyện M, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; họ tên bố: Nguyễn Văn S, đã chết; họ tên mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1983; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/11/2023, chuyển tạm giam từ ngày 27/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an T21. Có mặt.
- Họ tên: Bạch Văn M1; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không sinh ngày: 07/01/2006; HKTT: thôn Đ, xã A, huyện M, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; Họ tên bố: Bạch Văn T, sinh năm 1983; họ tên mẹ: Nguyễn Thị Minh C, sinh năm 1986; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/9/2023, chuyển tạm giam từ ngày 06/10/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an T21. Có mặt.
- Họ tên: Phạm Gia Thành T1; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không sinh năm: 2003; HKTT: Xóm D, xã Đ, huyện M, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn; 9/12; họ tên bố: Phạm Văn T2, đã chết; họ tên mẹ: Đặng Thị L, sinh năm 1969; vợ Nguyễn Thị Thanh H; có 01 con sinh năm 2024: Không; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 01/12/2022, Phạm Gia Thành T1 bị Công an huyện B, TP . xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích, chưa được xóa tiền sự; nhân thân: Ngày 13/9/2023, Phạm Gia Thành T1 bị Công an huyện C, TP . ra Quyết định khởi tố bị can số 439 về tội Gây rối trật tự công cộng, ngày 29/01/2024 đã bị xét xử theo bản án số 16/2024/HSST của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, TP .. Hiện đang cải tạo tại trại giam S1. Có mặt.
- Họ tên: Nguyễn Bá Anh H1; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không sinh ngày: 10/8/2007; HKTT: thôn Đ, xã Đ, huyện M, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; tân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; họ tên bố: Nguyễn Quốc T3, sinh năm 1980; họ tên mẹ: Đào Thị K, sinh năm 1983; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 31/01/2024, Nguyễn Bá Anh H1 bị Công an huyện M khởi tố bị can số 37 về tội Gây rối trật tự công cộng.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/8/2023, được hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 06/9/2023. Hiện đang bị bắt và tạm giam trong vụ án: “Gây rối trật tự công cộng” khác theo Lệnh tạm giam số 92 ngày 31/01/2024 của Công an huyện M. Có mặt
- Họ tên: Nguyễn Xuân Q; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không sinh ngày: 02/01/2007; HKTT: thôn K, xã A, huyện M, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; họ tên bố: Nguyễn Xuân M2, sinh năm 1984; họ tên mẹ: Nguyễn Thị T4, đã chết; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/8/2023, được hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 06/9/2023, hiện đang tại ngoại. Có mặt.
- Họ tên: Đinh Xuân Q1; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không sinh ngày: 17/9/2006; HKTT: Thôn B, xã T, huyện M, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 12/12; họ tên bố: Đinh Văn T5, sinh năm 1978; họ tên mẹ: Đinh Thị H2, sinh năm 1988; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/8/2023, được hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 06/9/2023, hiện đang tại ngoại. Có mặt.
- Họ tên: Đỗ Gia H3; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không sinh ngày: 29/12/2006; HKTT: thôn P, xã P, huyện M, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 12/12; họ tên bố: Đỗ Văn V, sinh năm 1982; họ tên mẹ: Nguyễn Thị T6, sinh năm 1985; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/8/2023, được hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 06/9/2023, hiện đang tại ngoại. Có mặt
- Họ tên: Trần Tiến Đ; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không sinh ngày: 24/5/2006; HKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện M, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 12/12; họ tên bố: Trần Văn H4, đã mất; họ tên mẹ: Đỗ Thị N1, sinh năm 1980; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/8/2023, được hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 06/9/2023, hiện đang tại ngoại. Có mặt
- Họ tên: Bùi Thế N2; giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không sinh ngày: 11/01/2007; HKTT: thôn T, xã T, huyện M, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 9/12; họ tên bố: Bùi Văn T7, sinh năm 1980; họ tên mẹ: Đoàn Thị O, sinh năm 1986; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/8/2023, được hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 06/9/2023, hiện đang tại ngoại. Có mặt
- Họ tên: Phạm Bảo U; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không sinh ngày: 19/5/2007; HKTT: thôn Y, xã H, huyện M, TP Hà Nội; nơi ở hiện tại: thôn T, xã T, huyện M, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; họ tên bố: Phạm Văn A, đã chết; họ tên mẹ: Nguyễn Thị C1, sinh năm 1983; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/8/2023, được hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 06/9/2023, hiện đang tại ngoại. Có mặt
- Họ tên: Trương Hữu K1; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không sinh ngày: 23/01/2007; HKTT: thôn P, xã T, huyện M, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; họ tên bố: Trương Văn T8, sinh năm 1981; họ tên mẹ: Lê Thị T9, sinh năm 1983; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/8/2023, được hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 06/9/2023, hiện đang tại ngoại. Có mặt
- Họ tên: Bùi Trung H5; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không sinh ngày: 07/3/2006; HKTT: thôn C, xã P, huyện M, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; họ tên bố: Bùi Văn T10, sinh năm 1980; họ tên mẹ: Đỗ Thị Thu P, sinh năm 1980; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/8/2023, được hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 06/9/2023, hiện đang tại ngoại. Có mặt
- Họ tên: Nguyễn Duy K2; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không Sinh ngày: 07/7/2006; HKTT: thôn C, xã P, huyện M, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 12/12; họ tên bố: Nguyễn Tuấn T11, sinh năm 1979; họ tên mẹ: Nguyễn Thị T12, sinh năm 1981; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/9/2023, chuyển tạm giam từ ngày 07/10/2023, được hủy bỏ biện pháp tạm giam ngày 15/11/2023, hiện đang tại ngoại. Có mặt
2.2 Bị hại: Anh Bùi Văn Q2; sinh năm 2004
Trú tại: Thôn M, xã B, M, TP .
2.3 Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Đinh Thị N3 sinh năm 1979
Trú tại: Thôn M, xã B, M, TP ..
Chị Nguyễn Lê N4 sinh năm 1989
Trú tại: Thôn K, xã A, M, TP ..
2.3 Đại diện hợp pháp cho các bị cáo vị thành niên:
1./ Đại diện hợp pháp cho Nguyễn Đức M là Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1983. HKTT: Thôn T, xã T, huyện M, TP Hà Nội; Có mặt.
Đại diện hợp pháp cho Nguyễn Bá A1 H1 là ông Nguyễn Quốc T3,
Bà Đào Thị K, sinh năm 1983, HKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện M, TP Hà Nội; Ông H1 vắng mặt (đi chấp hành án) bà K ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T6 sinh năm 1974 trú tại : Đ, M, Hà Nội.
Đại diện hợp pháp cho Nguyễn Xuân Q là ông Nguyễn Xuân M2, sinh năm 1984, HKTT: Thôn K, xã A, huyện M, TP Hà Nội; có mặt.
Đại diện hợp pháp cho Đinh Xuân Q1 là ông Đinh Văn T5, sinh năm 1978; bà Đinh Thị H2, sinh năm 1988; HKTT: Thôn B, xã T, huyện M, TP Hà Nội. Có mặt.
Đại diện hợp pháp cho Đỗ Gia H3 là ông Đỗ Văn V, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1985 HKTT: Thôn P, xã P, huyện M, TP Hà Nội. Có mặt.
Đại diện hợp pháp cho Trần Tiến Đ là bà Đỗ Thị N1, sinh năm 1980, HKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện M, TP Hà Nội. Có mặt.
Đại diện hợp pháp cho Bùi Thế N2 là ông Bùi Văn T7, sinh năm 1980 và bà Đoàn Thị O, sinh năm 1986; HKTT: Thôn T, xã T, huyện M, TP Hà Nội. Có mặt.
Đại diện hợp pháp cho Phạm Bảo U là bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1983. HKTT: Thôn Y, xã H, huyện M, TP Hà Nội; Nơi ở hiện tại: thôn T, xã T, huyện M, TP Hà Nội. Có mặt.
Đại diện hợp pháp cho Trương Hữu K1 là ông Trương Văn T8, sinh năm 1981 và bà Lê Thị T9, sinh năm 1983; HKTT: Thôn P, xã T, huyện M, TP Hà Nội. Có mặt.
Đại diện hợp pháp cho Bùi Trung H5 là ông Bùi Văn T10, sinh năm 1980 và bà Đỗ Thị Thu P, sinh năm 1980; HKTT: Thôn C, xã P, huyện M, TP Hà Nội. Có mặt.
Đại diện hợp pháp cho Nguyễn Duy K2 là ông Nguyễn Tuấn T11, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị T12, sinh năm 1981, HKTT: Thôn C, xã P, huyện M, TP Hà Nội. Có mặt.
4. Trợ giúp viên pháp lý Đinh Thị Mai P1 – Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H, chi nhánh S2; Bào chữa cho các bị cáo vị thành niên Q, K1, H3, N2. Có mặt
5- Trợ giúp viên pháp lý Nguyễn Ngọc C2 – Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H, chi nhánh số 7: Bào chữa cho các bị cáo vị thành niên gồm M2, M1, Q1, U, H5, K2, H1, Đ. Có mặt
Luật sư bào chữa cho bị cáo Phạm Bảo U: Bà Nguyễn Thị Thanh H6 và bà Nguyễn Thị Minh T13 – Luật sư thuộc công Ty L3 và cộng sự, đoàn luật sư T22. Địa chỉ: P F, T, Hà thành P, A T, Đ, Hà Nội. Bà H6 vắng mặt, bà T13 có mặt.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Duy K2: Bà Đinh Thị N5 và ông Phạm Ngọc T14 – Luật sư thuộc Công ty L4: Số E, đường A, Sunrise C, KĐT T, đường Đ, Quận H,TP. Hà Nội, ông T14 có mặt, bà N5 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:
Ngày 27/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M nhận được đơn trình báo của anh Bùi Văn H7 ở Thôn M, xã B, huyện M, TP . về việc: Khoảng 21 giờ 55 phút ngày 27/8/2023 con trai anh là Bùi Văn Q2, sinh ngày: 10/11/2004 đang ngồi ăn uống trong quán L5 thuộc địa phận thôn K, xã A, huyện M thì bị một nhóm đối tượng xông vào dùng dao phóng lợn, vỏ chai bia đánh gây thương tích phải đi cấp cứu tại Bệnh viện
Cơ quan điều tra Công an huyện M đã xác định các đối tượng có liên quan trong vụ án. Ngày 28/8/2023 tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với các đối tượng:
- Họ tên: Đinh Xuân Q1, sinh ngày: 17/9/2006, trú tại: Thôn B, xã T, huyện M, TP Hà Nội.
- Họ tên: Phạm Bảo U, sinh ngày: 19/5/2007, trú tại: Thôn Y, xã H, huyện M, TP Hà Nội.
- Họ tên: Bùi Thế N2, sinh ngày: 11/01/2007, trú tại: Thôn T, xã T, huyện M, TP Hà Nội.
- Họ tên: Bùi Trung H5, sinh ngày: 07/3/2006, trú tại: Thôn P, xã P, huyện M, TP Hà Nội.
- Họ tên: Đỗ Gia H3, sinh ngày: 29/12/2006, trú tại: Thôn P, xã P, huyện M, TP Hà Nội.
- Họ tên: Nguyễn Bá Anh H1, sinh ngày: 10/8/2007, trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện M, TP Hà Nội.
- Họ tên: Trần Tiến Đ, sinh ngày: 24/5/2006, trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện M, TP Hà Nội.
- Họ tên: Nguyễn Xuân Q, sinh ngày: 02/01/2006, trú tại: Thôn K, xã A, huyện M, TP Hà Nội.
- Họ tên: Trương Hữu K1, sinh ngày: 23/01/2007, trú tại: Thôn P, xã T, huyện M, TP Hà Nội.
Trong các ngày 19/9/2023; 27/9/2023; 28/9/2023 và ngày 18/11/2023 các đối tượng Nguyễn Văn H8, sinh ngày 05/8/2006, trú tại: thôn C, xã P; B, sinh ngày 07/01/2006, trú tại: thôn Đ, xã A, huyện M; Nguyễn Duy K2, sinh ngày 07/7/2006 trú tại: thôn C, xã P, huyện M; Nguyễn Đức M, sinh ngày 26/4/2007 trú tại: thôn T, xã T, huyện M đến Công an huyện M đầu thú về hành vi gây rối trật tự công cộng xảy ra ngày 27/8/2023 trên địa bàn huyện M.
Ngày 27/9/2023 chị Đỗ Thị Thu P, sinh năm 1980, trú tại: thôn C, xã P, huyện M là mẹ đẻ của Bùi Trung H5 đã giao nộp 01 xe máy Honda Ware có BKS: 29Y1-66249, là xe máy H5 đã sử dụng đi để thực hiện hành vi phạm tội.
Tại Cơ quan điều tra các bị cáo khai nhận:
Do mâu thuẫn từ trước, Trần Tiến D, Phạm Gia Thành T1 đã rủ Nguyễn Xuân Q và một số đối tượng khác khoảng hơn mười người đi tìm để đánh người có tên là “D1” ở khu vực TT Đ. Tối ngày 27/8/2023 Theo sự hcir đạo của D, các đối tượng Bùi Thế N2 - Sinh ngày: 11/01/2007, thôn T, xã T; Nguyễn Đức T15 - Sinh ngày 14/12/2007 tại thôn Q, xã T; Đ - Sinh ngày: 17/9/2006, thôn B, xã T; Nguyễn Xuân Q, sinh ngày: 02/01/2006, trú tại: Thôn K, xã A, huyện M, TP Hà Nội; Bùi Văn H9 - Sinh ngày 02/12/2007 tại thôn T, xã T; Nguyễn Tiến T16 - Sinh ngày 19/12/2007 tại thôn T, xã T; T – sinh ngày 23/01/2007 tại thôn P, xã T; Phạm Bảo U - Sinh ngày 19/5/2007 tại thôn Y, xã H; Trần Nguyễn Trung H10 - Sinh 19/11/2007 tại thôn T, xã T; B - sinh ngày 23/01/2008, tại thôn K, xã A; Bùi Văn K3 - Sinh ngày 21/02/2008 tại thôn K, xã A; N - Sinh ngày 07/12/2007 tại thôn V, xã M; N - Sinh ngày 24/10/2008; Nguyễn Bá Anh H1 - Sinh ngày 10/8/2007; Trần Tiến Đ - Sinh ngày 24/5/2006; Trần Quang K4 - Sinh ngày 17/5/2008, Nguyễn An K5 - Sinh ngày 09/5/2008 đều có địa chỉ xã Đ, huyện M; Nguyễn Duy K2 - Sinh ngày 07/7/2006, Đỗ Gia H3 - Sinh ngày 29/12/2006; Bùi Trung H5 - Sinh ngày 07/3/2006; Nguyễn Văn T17 - Sinh ngày 28/5/2008 cùng địa chỉ xã P, huyện M; Nguyễn Đức M - Sinh ngày 26/4/2007 tại thôn T, xã T; N - Sinh ngày 02/01/2006, Bạch Văn M1 - Sinh ngày 07/01/2006 cùng địa chỉ xã A, huyện M; P - Sinh ngày 08/01/2007; Trần Tiến D - Sinh ngày 21/4/2009 cùng địa chỉ xã M, huyện M; Phạm Gia Thành T1 - Sinh ngày 25/5/2003 tại Xóm D, xã Đ, Lê Thanh H11 - Sinh ngày 18/10/2007, Hồ Đức V1 - Sinh ngày 13/10/2007 cùng địa chỉ xã H, huyện C; Nguyễn Bảo L1 - Sinh ngày 26/8/2008 xã Đ, huyện C và một số đối tượng khác chưa rõ danh tính đã tụ tập tại khu vực Nghĩa trang xã P, sau đó cả đoàn khoảng trên 10 chiếc xe máy, trong đó Nguyễn Gia H12 chở Trần Tiến Đ; Lê Thanh H11 chở Nguyễn An K5 đi đến khu vực mương nước thuộc địa phận thôn P, xã P là nơi các đối tượng thường cất dấu hung khí lấy ra 01 chiếc đinh ba và 03 chiếc dao phóng lợn mang đến nơi các đối tượng đang tụ tập đứng chờ. Tại đây Nguyễn Văn T17, Trần Tiến D và một đối tượng khác (chưa xác định được danh tính) mỗi người cầm một con dao phóng lợn, Phạm Trọng Đ1 cầm chiếc đinh ba. Các đối tượng đã thống nhất trên đường đi sẽ tìm thêm vỏ chai bia. Khi xuống đến khu vực thôn K, xã A thì Bùi Trung H5 chở Nguyễn Bá Anh H1, Đỗ Gia H3 chở Trần Tiến Đ, Nguyễn Đức M chở Nguyễn Thái L2, Bùi Văn H9 chở Bùi Thế N2 đi tìm được 3 vỏ két bia sau đó các đối tượng đã cầm mỗi người 1-2 vỏ chai.
Cả nhóm đi theo đường 419 đến TT Đ để tìm đối tượng D1 nhưng không gặp sau đó đi tiếp về hướng xã H, đến khu vực trạm bơm, một số đối tượng ném vỏ chai bia về phía nhóm thanh niên khác đang đi đường. Sau khi biết đã nhầm nên các đối tượng thôi không ném nữa. Tất cả lên xe quay ngược đường trở lại xã A. Trên đường đi Trần Tiến D bảo đến quán bia tìm đánh Hiếu K6 và Ken Q3 (đều là người ở A), các đối tượng cùng đi đồng tình. Khi đến quán bia đối diện cổng làng K, gặp Hiếu K6, Trần Tiến D trực tiếp cầm phóng lợn lao đuổi đánh H5 nhưng bỏ chạy. Những người khác cầm phóng lợn lao vào đánh Bùi Văn Q2, các đối tượng Bạch Văn M1, Nguyễn Đức M, Lê Thanh H11, Nguyễn Tiến Thành N6 cùng nhiều đối tượng khác cầm vỏ chai bia ném vào quán và vào Q2. Sau đó cả nhóm đi về khu vực nghĩa trang xã P thì nhiều người tự bỏ về. Tại khu vực nghĩa trang, mọi người gom lại phóng lợn, đinh ba đưa cho Đinh Xuân Q1 mang cất giấu, Nguyễn Xuân Q chở Q1 và một xe khác đi vào khu vực cánh đồng gần đó, Đinh Xuân Q1 cất toàn bộ số phóng lợn, đinh ba vào cống nước ở đây rồi lên xe Q chở đi về, mọi người cũng giải tán.
Do bị đánh Bùi Văn Q2 đã phải điều trị tại Bệnh viện thời gian từ ngày 28/8/2023 đến ngày 31/8/2023. Hồ sơ bệnh án phản ánh Bùi Văn Q2 bị thương tích tại: Vùng thái dương đỉnh phải (Vùng đầu), vết thương đầu trên cánh tay trái, vết thương mi dưới mắt trái, gãy xương cánh mũi trái, bầm tím sưng nề mắt trái và bàn chân phải.
Ngày 28/8/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Quyết định trưng cầu giám định số 255/QĐ-CQĐT đến Trung tâm P, yêu cầu giám định: xác định tỷ lệ tổn hại sức khỏe và cơ chế hình thành dấu vết thương tích của anh Bùi Văn Q2.
Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 1754/TTPY ngày 30/11/2023 và bản kết luận giám định bổ sung pháp y thương tích số 128/TTPY ngày 29/01/2024 của Trung tâm P xác định :
Tỷ lệ tổn hại sức khỏe của Bùi Văn Q2 là 13 %. Tính theo phương pháp cộng lùi.
Cơ chế hình thành vết thương tích do vật tày, vật tày có cạnh, vật có cạnh sắc gây ra.
Tại cơ quan điều tra, các đối tượng đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu chứng cứ, lời khai của người bị hại và người làm chứng khác.
* Vật chứng chuyển theo hồ sơ vụ án gồm:
- 06 chai bia Hà Nội màu nâu, làm bằng thủy tinh màu nâu đã qua sử dụng, trong đó có 01 chai bị vỡ thành 2 phần riêng biệt kích thước từng phần riêng biệt kích thước từng phần lần lượt là (5,5x14)cm và (5,5x9,5)cm, 04 chai còn lại nguyên vẹn kích thước (5,5x21,5)cm.
- 01 viên gạch màu đỏ mặt trên bám dính bê tông có kích thước (10,5x10)cm.
- 02 ghế nhựa bị dập vỡ mặt nhựa trong đó có 01 ghế nhựa hư hỏng dập vỡ mất chân ghế bên phải phía trước, 01 ghế còn lại mất nhựa ở mặt ghế gần với chân ghế trái phía trước kích thước ghế (28,5x34x72)cm, phần hư hỏng mất nhựa kích thước (7x4)cm.
- 01 đôi dép màu đen, trắng mặt dép có chữa Dior kích thước từng chiếc bằng nhau (2,5x8,2)cm.
- 01 mảnh nhựa màu vàng kích thước (13x21)cm
- 01 tuýp sắt một đầu gắn dao bầu dài 2,68m, đường kính 2,1 cm, phần dao bầu dài 27 cm bản rộng nhất 07 cm.
- 01 tuýp sắt một đầu gắn đinh ba, đường kính tuýp sắt 2,1 cm, dài 2,51m.
- 01 tuýp sắt một đầu gắn dao bầu dài 2,25m, đường kính 2,1 cm, phần dao bầu dài 18 cm bản rộng nhất 07 cm.
- 01 tuýp sắt một đầu gắn dao bầu dài 1,7 m, đường kính 2,1 cm, phần dao bầu dài 15 cm bản rộng nhất 07 cm.
- 01 xe máy Honda Wave, BKS: 29Y1-66249.
Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với trình bày của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, vật chứng đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Tại cáo trạng số 08/CT-VKS-MĐ ngày 18/3/2024, Viện kiểm sát truy tố:
Bị cáo Nguyễn Đức M đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 và điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Truy tố bị cáo Bạch Văn M1 đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 và điểm b, d khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Truy tố bị cáo Phạm Gia Thành T1 đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự
Hành vi nêu trên của các bị cáo, Nguyễn Bá Anh H1, Nguyễn Xuân Q, Đinh Xuân Q1, Đỗ Gia H3, Trần Tiến Đ, Bùi Thế N2, Phạm Bảo U, Trương Hữu K1, Bùi Trung H5 và Nguyễn Duy K2 đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo vẫn khai nhận toàn bộ nội dung hành vi phạm tội đúng như cáo trang đã truy tố và khai nhận thêm cụ thể như sau:
Do được Trần Tiến D rủ đi đánh nhau nên tối ngày 27/7/2023, các đối tượng trên đã cùng nhau tụ tập thành đoàn đông người, dàn hàng ngang khi tham gia giao thông bằng phương tiện xe máy cầm theo dao phóng lợn, tuýp sắt được gắn đinh ba, vỏ chai bia, vừa đi các đối tượng vừa hò hét liên tục. Quá trình đi từ xã P theo đường tỉnh lộ 419 đến T không gặp được người tên D1 nên đã đi vòng xuống khu vực xã H rồi vòng quay lại đi lên xã A. Trong quá trình đi có người còn lạng lách, đánh võng, nẹt pô, bốc đầu, rú ga, bấm còi liên tục, đi với tốc độ rất nhanh gây mất an ninh trật tự. Khi đi đến vực thôn K, xã A, D nhìn thấy Bùi Văn Q2 ( K) cùng với H5 kẹo và người tên B nên đã bảo cả bọn đi cùng vào đánh nhóm Ken Q3 và hành vi cụ thể của các bị cáo như sau:
- Nguyễn Đức M đi tìm vỏ chai bia cho mọi người, M cầm 02 vỏ chai bia và 01 ghế nhựa của quán Lê na ném về phía Bùi Văn Q2 nhưng không rõ có trúng không.
- Bạch Văn M1 cầm vỏ chai bia ném về phía Bùi Văn Q2 nhưng không rõ có trúng không.
Quá trình điều tra, các bị cáo đều khai xác định được Trần Tiến D cầm phóng lợn lao vào đuổi đánh Hiếu K6 nhưng Hiếu K6 bỏ chạy, Phạm Văn T18 và người không rõ danh tính cầm phóng lợn lao vào đánh Bùi Văn Q2, Nguyễn Đức M cầm vỏ chai bia và ghế nhựa ném về phía Q2, Bạch Văn M1 và nhiều đối tượng khác cầm vỏ chai bia ném gây thương tích cho Bùi Văn Q2.
Ngoài ra còn có một số các đối tượng khác mặc áo chống nắng và đeo khẩu trang cầm đinh ba và vỏ chai bia ném vào Q2 và vào quán bia nhưng không xác định các đối tượng này là ai.
Các đối tượng khác không tham gia đánh nhau tại khu vực quán L6 đã có hành vi gây rối trật tự công cộng cụ thể:
- Nguyễn Bảo L1 điều khiển xe máy chở Phạm Gia Thành T1. Sau khi lấy được hung khí từ nghĩa trang P để đi đánh D1, T1 lên xe của một người không rõ tên tuổi. Đến Quấn L, T1 không tham gia đánh quân nên có ném 01 vỏ chai bia tại cửa quán bia.
- Được D chuẩn bị hung khí, Đỗ Gia H3 điều khiển xe máy chở Trần Tiến Đ, Lê Thanh H11 chở Nguyễn An K5 đi vào khu vực cống nước ở nghĩa trang xã P, H3 xuống cống nước lấy 03 chiếc phóng lợn, 01 chiếc đinh ba đều làm bằng kim loại, dài khoảng 3m đưa cho Nguyễn An K5 mang ra ngoài. Do không đủ hung khí nên ở đoạn đường xã A đi xã T, H3 tìm 02 vỏ chai bia rồi đưa Đ cầm để đi đánh D1, K7 đến Quán Lê Na Đỗ Gia H13 và Đ đứng xem không tham gia đánh nhau. Trên đường về nhà, Đ đã ném 02 vỏ chai bia ở dệ đường.
- Nguyễn Quốc C3 điều khiển xe máy chở Nguyễn Duy K2. Khi đến khu vực cầu V, K2 sang xe của Phạm Trọng Đ1 để Đ1 ngồi sau xe của C3. K2 điều khiển xe máy chở một người thanh niên không rõ tên tuổi địa chỉ. K2 chỉ đứng xem đánh nhau tại quán bia Lê N4 mà không tham gia
- Nguyễn Xuân Q điều khiển xe máy chở Đinh Xuân Q1 đi tìm vỏ chai bia cho mọi người, Q1 ngồi sau cầm 02 vỏ chai bia. Sau đó có một người mặc áo chống nắng đã lấy chai bia của Q1 ném vào trong quán bia. Q và Q1 chỉ đứng xem đánh nhau tại quán bia Lê N4 mà không tham gia, sau đó Q chở Q1 đi cất hung khí.
Tại phiên tòa Đinh Xuân Q1, Đỗ Gia H13, Trần Tiến Đ còn thừa nhận do Q1 được rủ đi đánh D1, bị cáo nhất trí, trên đường Đ gặp Đỗ Gia H13, Trần Tiến Đ đang đi uống nước thì có rủ H13 và Đ tham gia đánh Duẩn Đ và H13 nhất trí cùng tham gia.
- Bùi Trung H5 điều khiển xe máy chở Nguyễn Bá A1 H11 đi tìm vỏ chai bia rồi chia cho mọi người đi đánh D1. H5, H11 chỉ đứng xem đánh nhau tại quán bia Lê N4 mà không tham gia, sau đó H5 chở H11 đi cất hung khí
- Nguyễn Tiến T16 điều khiển xe máy chở Phạm Bảo U. Đến quán N8 thì U chở Nguyễn Tiến T16. Sau khi đến nghĩa trang thì U chở Nguyễn Tiến T16 ngồi giữa và Nguyễn Đức T15 ngồi ngoài cùng. Uy không cầm hung khí và chỉ đứng xem đánh nhau tại quán L5 mà không tham gia.
- Trần Nguyễn Trung H10 điều khiển xe máy chở Trương Hữu K1. Khi đi từ xã P đến xã A lấy vỏ chai bia làm hung khí thì Trần Quang K4 lên xe ngồi ngoài cùng. M đưa cho K1 01 vỏ chai bia, Thành N6 đưa cho K4 02 vỏ chai bia để làm hung khí. Trên đường đi, K1 đưa H10 vỏ chai bia cất lên giá đựng đồ xe máy. K1 chỉ đứng xem đánh nhau tại quán bia mà không tham gia đánh nhau.
- Bùi Văn H9 điều khiển xe máy chở Bùi Thế N2 đi tìm vỏ chai bia, H9 đưa N2 03 vỏ chai bia để làm hung khí đi đánh D1. Khi đến quán L5, N2 cầm 01 vỏ chai bia ném xuống khu vực hè quán bia, 01 vỏ chai bia ném xuống hồ nước cạnh quán bia. Nguyên không tham gia đánh nhau.
Người bị hại là anh Bùi Văn Q2 khai không quen biết và không có mâu thuẫn gì đối với các đối tượng bị cáo này, khi đang ngồi ăn uống buổi tối cùng với H10 kẹo và một người tên B thì bị các đối tượng mặc áo chống nắng và bịt mặt đeo khẩu trang lao vào đánh anh bằng hung khí là dao phóng lợn và vỏ chai bia, anh có dùng một chiếc ghế nhựa của quán để che chắn, chống đỡ nhưng vẫn bị thương tích trên cơ thể, tại vùng đầu, vùng mặt và tay trái, cắng cần phải, tổng cộng thương tích là 13%. Nay tại phiên tòa anh không nhận diện được những người đã đánh anh, nên nhất trí với các lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và đề nghị Tòa án xét xử các bị cáo theo pháp luật. Đối với khoản bồi thường thiệt hại về sức khỏe do còn có một số đối tượng khác đánh anh chưa được xem xét giải quyết trong vụ án này nên anh đề nghị tách phần bồi thường để thiệt về sức khỏe của anh để giải quyết sau, chưa có yêu cầu đề nghị các bị cáo Bạch Văn M1 và Nguyễn Đức M bồi thường cho anh trong vụ án này. Bà N3 là mẹ của bị hại Bùi Văn Q2 cũng đồng ý tách bồi thường dân sự và nhất trí với đề nghị này của anh Q2.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật đối với từng bị cáo đã viện dẫn ở trên.
và đề nghị mức hình phạt đối với từng bị cáo, cụ thể:
1./ Nguyễn Đức M hình phạt từ 24-30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; từ 30-36 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, đề nghị tổng hợp hình phạt của 02 tội đối với bị cáo M.
2./ bị cáo Bạch Văn M1 từ 24-30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; từ 30-36 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Đề nghị tổng hợp hình phạt của 02 tội đối với bị cáo.
3./ bị cáo Phạm Gia Thành T1 từ 30-36 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và đề nghị tổng hợp hình phạt bản án đã xét xử tội “Gây rối trật tự công cộng” của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ đã có hiệu lực pháp luật đối với Phạm Gia thành T19.
4./ Nguyễn Bá Anh H1 từ 30-36 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
5./ Đinh Xuân Q1, từ 30-36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
6./ Nguyễn Xuân Q từ 24- 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 48- 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
7./ Phạm Bảo U từ 24- 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 48- 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
8, 9,10,11,12./ Các bị cáo Bùi Thế N2, Bùi Trung H5, Nguyễn Duy K2, Trần Tiến Đ, Đỗ Gia H13 mỗi bị cáo từ 18- 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 36-48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
13./ Trương Hữu K1 từ 15-18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 30-36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chưa có yêu cầu nên không xem xét
* Về tang vật: Căn cứ Điều 46, 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS đề nghị:
Tịch thu để tiêu hủy gồm:
- 06 chai bia Hà Nội màu nâu, làm bằng thủy tinh màu nâu đã qua sử dụng, trong đó có 01 chai bị vỡ thành 2 phần riêng biệt kích thước từng phần riêng biệt kích thước từng phần lần lượt là (5,5x14)cm và (5,5x9,5)cm, 04 chai còn lại nguyên vẹn kích thước (5,5x21,5)cm.
- 01 viên gạch màu đỏ mặt trên bám dính bê tông có kích thước (10,5x10)cm.
- 02 ghế nhựa bị dập vỡ mặt nhựa trong đó có 01 ghế nhựa hư hỏng dập vỡ mất chân ghế bên phải phía trước, 01 ghế còn lại mất nhựa ở mặt ghế gần với chân ghế trái phía trước kích thước ghế (28,5x34x72)cm, phần hư hỏng mất nhựa kích thước (7x4)cm.
- 01 đôi dép màu đen, trắng mặt dép có chữ Dior kích thước từng chiếc bằng nhau (2,5x8,2)cm.
- 01 mảnh nhựa màu vàng kích thước (13x21)cm
- 01 tuýp sắt một đầu gắn dao bầu dài 2,68m, đường kính 2,1 cm, phần dao bầu dài 27 cm bản rộng nhất 07 cm.
- 01 tuýp sắt một đầu gắn đinh ba, đường kính tuýp sắt 2,1 cm, dài 2,51m.
01 tuýp sắt một đầu gắn dao bầu dài 2,25m, đường kính 2,1 cm, phần dao bầu dài 18 cm bản rộng nhất 07 cm.
01 tuýp sắt một đầu gắn dao bầu dài 1,7 m, đường kính 2,1 cm, phần dao bầu dài 15 cm bản rộng nhất 07 cm.
- Trả lại cho chủ sở hữu là bà Đỗ Thị Thu P 01 xe máy Honda Wave, BKS: 29Y1-66249.
Các vật chứng có định dạng theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển theo hồ sơ vụ án ngày 28/3/2024.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1./ Về tội danh Gây rối trật tự công cộng:
Tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố: Trần Tiến D và Bạch Văn M1 có mâu thuẫn với Người tên D1 nên đã khởi xướng lôi kéo một vài đối tượng ban đầu là Phạm Gia Thành T1, Nguyễn Xuân Q4, Nguyễn Xuân Q, Nguyễn Đức M.., sau đó là sự lôi kéo rủ rê dắt dây từ bị cáo này rủ thêm các bị cáo khác tham gia lên đến hơn chục đối tượng sử dụng xe máy chở nhau và đem theo các hung khí nguy hiểm, đã cùng nhau tụ tập thành đoàn đông người tham gia giao thông, chở nhau bằng phương tiện xe máy đi từ xã P theo đường tỉnh lộ 419 đến thị trấn Đ, rồi vòng qua xã H, vòng quay lại Cầu A Mỹ, các đối tượng cầm theo dao phóng lợn, tuýp sắt được gắn đinh ba, vỏ chai bia bằng thủy tinh, điều khiển xe máy thành tập đoàn có người còn lạng lách, đánh võng, nẹt pô, bốc đầu, rú ga... đi với tốc độ rất nhanh gây mất an ninh trật tự. Khi đi đến Khu vực Kinh Đào thuộc địa phận xã A, Theo sự chỉ đạo của Trần Tiến D bảo các đối tượng đánh H5 kẹo và Bùi Văn Q2 (K) đang ngồi ăn tại quán L5, thì cả bọn nhất trí nhưng chỉ có Bạch Văn M1 và Nguyễn Đức M đã cùng tham gia với Trần Tiến D và một số đối tượng bịt mặt khác lao vào quán L7 và H5 kẹo và người tên B đang ngồi ăn uống, dùng các hung khí nguy hiểm gây thương tích cho Bùi Văn Q2 tổn hại 13% sức khỏe. Các bị cáo còn lại mặc dù không tham gia đánh Q2 nhưng đã tụ tập đông người gây náo loạn tại khu vực xảy ra thương tích.
Xét thấy Hành vi của các bị cáo đã tụ tập đông người từ nhiều địa bàn khác nhau, sử dụng các hung khí nguy hiểm là tuýp sắt, dao phóng lợn, vỏ chai bia bằng thủy tinh..., sử dụng phương tiện xe máy là nguồn nguy hiểm cao độ phóng xe lạng lách đi tốc độ lớn, dàn hàng ngang, nẹp pô, rú ga, tụ tập thành từng đoàn trong khoảng thời gian là buổi tối xuyên qua nhiều địa bàn khu dân cư đông đúc, rộng lớn nhằm mục đích xâm hại sức khỏe của người khác và đập phá, hủy hoại tài sản, mặc dù các bị cáo chưa gây thiệt hại mức độ thiệt hại lớn về tài sản nhưng đã gây tổn hại sức khỏe cho người khác và làm mất trật tự an ninh thôn xóm, gây náo loạn trong khu dân cư, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và cản trở giao thông gây rối trật tự công cộng với mức độ nghiêm trọng. Các bị cáo trong vụ án đa số là vị thành niên, nhiều bị cáo đang còn đi học, trong số đó có một số bị cáo đã bị truy tố, xét xử về hành vi gây rối trật tự công cộng (Phạm Gia Thành T1, Nguyễn B1 anh H1...) nhưng không lấy đó làm bài học để cải sửa lỗi lầm mà còn tiếp tục rủ rê người khác và sử dụng phương tiện, các hung khí nguy hiểm để gây rối trật tự công cộng. Do vậy đã có đủ cơ sở chấp nhận truy tố của Viện Kiểm sát đối với các bị cáo Nguyễn Đức M, Bạch Văn M1, Phạm Gia Thành T1, Nguyễn Bá Anh H1, Nguyễn Xuân Q, Đinh Xuân Q1, Đỗ Gia H13, Trần Tiến Đ, Bùi Thế N2, Phạm Bảo U, Trương Hữu K1, Bùi Trung H5 và Nguyễn Duy K2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Bạch Văn M1, Phạm Gia Thành T1, ngoài việc tự nguyện tham gia còn rủ rê người khác tham gia cùng phạm tội với mình. Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo này tội danh trên áp dụng thêm tình tiết định khung tại điểm d khoản 2 điều 318 BLHS là đúng pháp luật.
Đinh Xuân Q1 thừa nhận ngoài việc tự nguyện tham gia còn rủ rê người khác tham gia cùng phạm tội với mình. Do vậy cần áp dụng thêm thêm tình tiết định khung tại điểm d khoản 2 điều 318 BLHS để xét xử đối với bị cáo Q1 mới đúng pháp luật. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Q1 tội danh trên áp dụng một tình tiết định khung tại điểm b khoản 2 điều 318 BLHS là còn có thiếu sót, chưa đúng pháp luật.
Xét vai trò của các bị cáo trong tội này thấy rằng: Bạch Văn M1, Nguyễn Đức M, Phạm Gia T20 Thế là người được Trần Tiến D trực tiếp khởi rủ rê và cùng khởi xướng đầu tiên, sau đó lại là người trực tiếp rủ rê người khác tham gia cùng mình phạm tội nên giữ vai trò số 1 trong vụ án.
Nguyễn Đức M là người được Trần Tiến D trực tiếp khởi rủ rê và cùng khởi xướng đầu tiên, M không trực tiếp rủ rê người khác tham gia cùng mình phạm tội nhưng bản thân lại có hành vi hết sức quyết liệt trong vụ án, dùng nhiều hung khí gây án nên cũng giữ vai trò số 1 trong vụ án.
Đinh Xuân Q1 được các đối tượng trên rủ đi đánh nhau cùng Trần Tiến D, sau đó Q1 lại tiếp tục rủ Trần Tiến Đ và Đỗ Gia H13 và Nguyễn Duy Khánh N7 cũng được coi là giữ vai trò giúp sức đắc lực cho Trần Tiến D sau vai trò của M1 và T1.
Nguyễn Xuân Q, Nguyễn Bá Anh H1 là đối tượng thuộc nhóm của Đinh Xuân Q1, Q cũng là người đắc lực cùng với Q1 tham gia đi chở hung khí và là người giúp sức đắc lực cùng Đinh Xuân Q1 cho Trần Tiến D nên giữ vai trò ngang bằng với Đinh Xuân Q1.
Các bị cáo còn lại (trừ bị cáo K1) người thì đem theo hung khí, người thì cung cấp phương tiện dùng xe chở theo đối tượng cầm hung khí ngồi sau nên có vai trò ngang nhau và giữ vai trò tiếp theo.
Riêng Trương Hữu K1 không cầm hung khí, chỉ ngồi sau xe đi theo cổ vũ đám đông nên giữ vai trò thứ yếu trong tội này.
2./ Đối với tội danh: “ Cố ý gây thương tích”:
Bạch Văn M1 và Nguyễn Đức M đều thừa nhận có đồng ý nhất trí giúp sức cho Trần Tiến D đi đánh Bùi Văn Q2, M1 dùng 02 vỏ chai bia ném về phía Bùi Văn Q2, Nguyễn Đức M cũng dùng vỏ chai bia và dùng ghế nhựa của quán ném về phía Bùi Văn Q2, Trần Tiến D và một số đối tượng khác (không rõ được mặt và nhân thân do đeo khẩu trang và mặc áo chống nắng) dùng dao phóng lợn chém Bùi Văn Q2. Hậu quả Q2 bị thương tích 13 % trên cơ thể (trúng đầu, mặt, tay trái và chân phải). Do Vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Các bị cáo Bạch Văn M1 và Nguyễn Đức M phạm tội: “ Cố ý gây thương tích”. Việc dùng các hung khí nguy hiểm và gây thương tích 13 % cho Q2, các bị cáo bị truy tố theo điểm đ khoản 2 điều 134 BLHS là đúng pháp luật.
Về vai trò: M1 và M đều có hành vi dùng hung khí nguy hiểm giúp sức cho Trần Tiến D nên có vai trò ngang nhau trong vụ án này.
Xét hành vi của các bị cáo: Các bị cáo đa số là vị thành niên nhưng cũng đã có những nhận thức đúng đắn, song không chịu học hành tử tế, không có trách nhiệm với gia đình cha mẹ và bản thân, ham đua, học đòi thói hư, tật xấu. đã có các hành vi hành vi tập trung đông người sử dụng hung khí nguy hiểm là gậy tuýp sắt, dao phóng lợn, dao phớ..., các vỏ chai bia bằng thủy tinh..., sử dụng phương tiện có nguồn nguy hiểm cao độ lái xe máy với tốc độ lớn trong khu địa bàn đông dân cư phóng xe tốc độ cao, lạng lách đánh võng tụ tập từng đoàn với nhằm mục đích hủy hoại tài sản, xâm phạm sức khỏe của người khác là hành vi vi phạm pháp luật và là hành vi gây rối trật tự công cộng sẽ bị xử nghiêm. Trong vụ án còn có bị cáo đã và đang bị truy tố và xét xử về hành vi gây rối trật tự công cộng nhưng không lấy đó làm bài học cải sửa lỗi lầm mà tiếp tục có những hành vi tái diễn phạm nhiều tội, gây rối trật tự công cộng và cố ý gây thương tích là thể hiện sự coi thường, bất chấp pháp luật. Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo để lên mức hình phạt phù hợp đối với từng bị cáo.
Về biện pháp chấp hành hình phạt:
Các bị cáo giữ vai trò rủ rê khởi xướng là hoặc có nhân thân xấu hoặc phạm nhiều tội đó là Bạch Văn M1, Nguyễn Đức M, Phạm Gia Thành T1, Nguyễn Bá Anh H1. Trực tiếp cầm hung khí là và thực hiện hành vi quyết liệt phạm tội nên cần áp dụng hình phạt tù cao hơn các bị cáo khác và cách ly các bị cáo này ra khỏi xã hội một thời gian đủ sức răn đe giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo ở chỗ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, tất cả các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, phạm tội lần đầu, nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, được xem xét tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Các bị cáo còn lại trong vụ án có nhân thân tốt, phạm tội không quyết liệt và giữ vai trò thứ yếu, đang còn đi học, phạm tội lần đầu, ăn năn hối cải, nhiều bị cáo có hoàn cảnh gia đình éo le ( có bố hoặc mẹ mất sớm, gia đình có đông anh em còn nhỏ, các bị cáo là con lớn trong gia đình là Q2, Đ, U...). Phạm tội ở độ tuổi vị thành niên cần áp dụng hình phạt mang tính giáo dục theo chế định xem xét trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi được quy định trong bộ luật hình sự để lên mức hình phạt phù hợp đối với từng bị cáo. Đối với Trương Hữu K1 có vai trò thấp nhất trong vụ án, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, cần áp dụng mức hình phạt dưới thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo này ra khỏi xã hội, cần chấp nhận đề nghị của các trợ giúp viên pháp lý, các luật sư và của đại diện VKS đề nghị cho các bị cáo cơ hội áp dụng hình phạt được tiếp tục học tập và cải tạo tại địa phương cũng đủ sức răn đe giáo dục trở thành công dân có ích cho xã hội và thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước.
Các vấn đề khác:
Đối với Trần Tiến D, Phạm Trọng Đ1, Nguyễn Văn T17 và Nguyễn Bảo L1, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập nhưng các đối tượng không chấp hành, hiện các đối tượng đi đâu, làm gì không rõ. Đối với Nguyễn Văn H8 ngoài lời khai nhận tội ban đầu (sau đó đã thay đổi lời khai không nhận tội) cần củng cố thêm chứng cứ. Ngày 03/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ra quyết định tách tài liệu, hành vi đối với Trần Tiến D, Phạm Trọng Đ1, Nguyễn Văn T17, Nguyễn Văn H8 và Nguyễn Bảo L1 để tiếp tục điều tra và xử lý sau là phù hợp.
Đối với các đối tượng: Nguyễn Tiến T16, Trần Nguyễn Trung H10, Nguyễn Đức T15, Bùi Văn K3, Bùi Văn H9, Nguyễn Quốc C3, Nguyễn Thái L2, Nguyễn An K5, Lê Thanh H11, Nguyễn Tiến Thành N6, Trần Quang K4 và Hồ Đức V1 quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu thập tài liệu xác định các đối tượng trên đều chưa đủ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra Công an huyện M ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng là phù hợp quy định của pháp luật.
Đối với những chiếc xe máy và điện thoại của các bị can đã sử dụng liên lạc để thực hiện hành vi, quá trình điều tra Viện kiểm sát đã yêu cầu nhưng Cơ quan điều tra không thu giữ được. Viện kiểm sát đã ban hành Kiến nghị khắc phục vi phạm và rút kinh nghiệm gửi Cơ quan điều tra Công an huyện M về nội dung này là đúng pháp luật.
* Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại là anh Bùi Văn Q2 và gia đình chưa có đề nghị bồi thường thiệt hại về sức khỏe trong vụ án này nên không xem xét, Anh Q2 có quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đối với người đã gây ra thiệt hại sức khỏe cho anh trong vụ án dân sự khác khi có yêu cầu và còn trong thời hiệu khởi kiện.
Người liên quan cũng không có yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét.
Về vật chứng: Cần xử lý như đại diện của VKS đề nghị là có căn cứ.
Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo : Bạch Văn M1, Nguyễn Đức M phạm các tội: “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng”
Các bị cáo Nguyễn Bá Anh H1, Nguyễn Xuân Q, Đinh Xuân Q1, Đỗ Gia H13, Trần Tiến Đ, Bùi Thế N2, Phạm Bảo U, Trương Hữu K1, Bùi Trung H5 và Nguyễn Duy K2, Phạm Gia Thành T1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 và điểm b, d khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, 55, Điều 90, 91, 101; 38 BLHS xử phạt
- 1./ Bạch Văn M1 24 ( hai mươi bốn) tháng tù về tội : “Cố ý gây thương tích” và 36 ( ba mươi sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội buộc bị cáo M1 phải chấp hành là 60 (sáu mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 27/9/2023.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 và điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, 55, Điều 90, 91, 101; 38 Bộ luật hình sự xử phạt: .
2./ Nguyễn Đức M 24 ( hai mươi bốn) tháng tù về tội : “Cố ý gây thương tích” và 36 ( ba mươi sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội buộc bị cáo M phải chấp hành là 60 (sáu mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 18/11/2023.
Áp dụng điểm b, d khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, 56, 38 Bộ luật hình sự xử phạt: .
3./ Phạm Gia Thành T1 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, tổng hợp hình phạt của bản án số 16/2024/HSST ngày 29/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, tuyên phạt bị cáo 26 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 04/9/2023 về tội: “Gây rối trật tự công cộng” với hình phạt của bản án này. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 62 ( sáu mươi hai) tháng tù. Thời han tù tính từ ngày 04/9/2023.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 90, 91, 101; 38 BLHS xử phạt.
4./ Nguyễn Bá Anh H1 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 28/8/2023 đến 06/9/2023.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 90, 91, 101; 65 BLHS xử phạt.
5/. Đinh Xuân Q1: 30 ( ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
6./ Nguyễn Xuân Q 30 ( ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
7. Đỗ Gia H13 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
8./ Trần Tiến Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
9./ Bùi Thế N2 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
10./Bùi Trung Hiếu 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
11./ Nguyễn Duy K2 24 ( hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
12./ Phạm Bảo U 24 ( hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 90, 91, 101; 54, 65 BLHS xử phạt.
13./ Trương Hữu K1 15 ( mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo được hưởng án treo cho UBND xã, phường, thị trấn nơi các bị cáo đang cư trú và gia đình theo dõi giám sát các bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp trong thời gian thử thách, bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc theo dõi giám sát được áp dụng theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 Bộ luật hình sự.
Trách nhiệm dân sự:
Bị hại là anh Bùi Văn Q2 và gia đình chưa có đề nghị bồi thường thiệt hại về sức khỏe trong vụ án này nên không xem xét, Anh Q2 có quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đối với người đã gây ra thiệt hại sức khỏe cho anh trong vụ án dân sự khác khi có yêu cầu và còn trong thời hiệu khởi kiện. Người liên quan cũng không có yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét.
Vật chứng vụ án:
Căn cứ Điều 46, 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS đề nghị:
Tịch thu để tiêu hủy gồm:
- 06 chai bia Hà Nội màu nâu, làm bằng thủy tinh màu nâu đã qua sử dụng, trong đó có 01 chai bị vỡ thành 2 phần riêng biệt kích thước từng phần riêng biệt kích thước từng phần lần lượt là (5,5x14)cm và (5,5x9,5)cm, 04 chai còn lại nguyên vẹn kích thước (5,5x21,5)cm.
- 01 viên gạch màu đỏ mặt trên bám dính bê tông có kích thước (10,5x10)cm.
- 02 ghế nhựa bị dập vỡ mặt nhựa trong đó có 01 ghế nhựa hư hỏng dập vỡ mất chân ghế bên phải phía trước, 01 ghế còn lại mất nhựa ở mặt ghế gần với chân ghế trái phía trước kích thước ghế (28,5x34x72)cm, phần hư hỏng mất nhựa kích thước (7x4)cm.
- 01 đôi dép màu đen, trắng mặt dép có chữa Dior kích thước từng chiếc bằng nhau (2,5x8,2)cm.
- 01 mảnh nhựa màu vàng kích thước (13x21)cm
- 01 tuýp sắt một đầu gắn dao bầu dài 2,68m, đường kính 2,1 cm, phần dao bầu dài 27 cm bản rộng nhất 07 cm.
- 01 tuýp sắt một đầu gắn đinh ba, đường kính tuýp sắt 2,1 cm, dài 2,51m.
- 01 tuýp sắt một đầu gắn dao bầu dài 2,25m, đường kính 2,1 cm, phần dao bầu dài 18 cm bản rộng nhất 07 cm.
- 01 tuýp sắt một đầu gắn dao bầu dài 1,7 m, đường kính 2,1 cm, phần dao bầu dài 15 cm bản rộng nhất 07 cm.
- Trả lại cho chủ sở hữu là bà Đỗ Thị Thu P 01 xe máy Honda Wave, BKS: 29Y1-66249.
Các vật chứng có định dạng theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển theo hồ sơ vụ án ngày 28/3/2024.
Án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí: mỗi bị cáo phải chịu: 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, Trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo vị thành niên có quyền có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Hoặc kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết trong trường hợp vắng mặt tại phiên tòa. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hoặc kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết trong trường hợp vắng mặt tại phiên tòa.
|
Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội; - VKSND huyện Mỹ Đức; - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức - Bị cáo; - NCQLNVLQ; - UBND xã nơi các bị cáo cư trú; - Lưu hồ sơ |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Hồng |
20
Bản án số 25/2024/IHS-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 25/2024/IHS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức M và đồng phạm - Gây rối TTCC
