|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2024/HS-ST Ngày 01 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Trần Mộng Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Duyên.
Ông Nguyễn Văn Bàng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị L, sinh ngày 01/01/1975; Tại huyện A, tỉnh Kiên Giang;
Nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang;
Nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hoá 3/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ;
Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1940 (đã chết) và bà Dương Thị C, sinh năm 1941 (đã chết);
Chồng tên Lê Thanh L1, sinh năm 1973; có 01 người con sinh năm 1997;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/3/2024 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ, ngày 2001/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự, Kinh tế và Ma túy Công an huyện A phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thị L đang thực hiện hành vi đánh bạc với hình thức bán số lô, đề tại nhà thuộc ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang nên tiến hành lập biên bản thu giữ tang vật gồm: 03 (Ba) tờ giấy tập học sinh ghi phơi đề, 01 (Một) điện thoại di động, 01 (Một) bút bi mực màu xanh và số tiền Việt Nam 500.000 đồng.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị L khai nhận: L bắt đầu thực hiện hành vi tự làm thầu và trực tiếp bán số lô, đề từ ngày 18/01/2024 đến ngày 20/01/2024 tại nhà riêng thuộc ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Bị cáo bán số lô, đề các đài của 3 miền (miền B, miền T và miền N). Người mua số lô, đề gặp trực tiếp L để mua số lô, đề. L ghi chép số lô, đề, số tiền bán vào giấy tập học sinh (phơi đề). Với tỷ lệ số đầu là mua 1.000 đồng, trả 1.000 đồng, trúng 80.000 đồng; số lô đài M và Miền T mua 1.000 đồng, trả 15.000 đồng, số lô đài Miền B là mua 1.000 đồng, trả 22.000 đồng; số lô là 1 x 80 x (số lượng lô có số trùng với số cá cược). Nguyễn Thị L sử dụng điện thoại di động, màu đen, nhãn hiệu SAMSUNG, màn hình cảm ứng lên mạng và tra cứu kết quả xổ số để trả thưởng cho người mua trúng thưởng. Trong các ngày bán L đều không nhớ mặt được người mua, đã trả thưởng cho người trúng thưởng, số tiền trả thưởng từ nguồn tiền L bán số đề và tiền bản thân L tự lao động mà có. Cụ thể từng ngày như sau:
- Ngày 18/01/2024, L bán số lô, đề cho nhiều người không nhớ tên, địa chỉ với tổng số tiền là: 7.400.000 đồng (trong đó: Miền Nam là 4.075.000 đồng, Miền T là 1.125.000 đồng, Miền B là 2.200.000 đồng). Số tiền trúng số đề là 6.400.000 đồng (trong đó: Miền Nam là 400.000 đồng và Miền B là 6.000.000 đồng). Như vậy, số tiền dùng để đánh bạc trong ngày là 13.800.000 đồng (trong đó, Miền N là 4.475.000 đồng, Miền T là 1.125.000 đồng, Miền B là 8.200.000 đồng). L đã trả thưởng cho người trúng xong và không nhớ tên, địa chỉ.
- Ngày 19/01/2024, L bán số lô, đề cho nhiều người không nhớ tên, địa chỉ với tổng số tiền là: 5.150.000 đồng (trong đó: Miền Nam là 2.550.000 đồng, Miền T là 1.500.000 đồng, Miền B là 1.100.000 đồng). Không có người trúng thưởng.
- Ngày 20/01/2024, L bán số lô, đề Miền Nam cho nhiều người không nhớ tên, địa chỉ với tổng số tiền là được tổng số tiền là 500.000 đồng. Chưa có kết quả mở thưởng thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự, Kinh tế và Ma túy Công an huyện A phát hiện và bắt quả tang.
3
Tổng số tiền bị cáo Nguyễn Thị L thu lợi bất chính là 6.650.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
* Vật chứng của vụ án gồm: 01 (Một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, màu đen, nhãn hiệu SAMSUNG, Galaxy A04; tên kiểu thiết bị SMA045F/DS; số sêri R92W708DQNE; IMEI (khe 1) 353503961529829; IMEI (khe 2) 354811671529826 đã qua sử dụng; 03 (Ba) tờ giấy tập học sinh ghi phơi đề; 01 (Một) bút bi mực màu xanh và số tiền Việt Nam 500.000 đồng.
* Tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKSHAB ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự tuyên xử bị cáo Nguyễn Thị L từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, màu đen, nhãn hiệu SAMSUNG, Galaxy A04; tên kiểu thiết bị SMA045F/DS; số sêri R92W708DQNE; IMEI (khe 1) 353503961529829; IMEI (khe 2) 354811671529826 đã qua sử dụng; Số tiền thu lợi bất chính là 6.650.000 đồng, bị cáo đã tự nguyện nộp xong. Tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) bút bi mực màu xanh.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn không có khả năng nộp phạt tiền.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
4
tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất, hành vi thực hiện tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Do muốn có tiên tiêu xài nên Nguyễn Thị L tự làm thậu và trực tiếp bán số lô, đề từ ngày 18/01/2024 đến ngày 20/01/2024 tại nhà riêng thuộc ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang thì bị bắt quả tang thu giữ các vật chứng theo quy định. Trong các ngày đánh bạc, ngày 18/01/2024 L đánh bạc đài miền B với số tiền là 8.200.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo thu lợi bất chính là 6.650.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự an ninh ở địa phương, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội, bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi nhận thức được biết rõ đánh bạc dưới hình bán số lô, số đề ăn thua bằng tiền là một hình thức đánh bạc bị pháp luật cấm, nhưng vì muốn kiếm tiền nhanh chóng nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Bị cáo không suy nghĩ đến hậu quả của việc đánh bạc có thể dẫn đến tiêu tán tài sản, ảnh hướng đến kinh tế của nhiều gia đình và cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Viện kiểm sát đề nghị hình phạt tiền đối với bị cáo, tuy nhiên đối với hành vi bị cáo cần phải được giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, để ngăn ngừa phòng tội phạm. Do đó, cần xét xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội nhằm để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Đồng thời, qua xét xử nhằm tuyên truyền, ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân để tuyên xử mức án phù hợp.
[3] Xét về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
Xét thấy, bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ được
5
quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần cách ly bị cáo khỏi xã hội mà giao cho địa phương giám sát, giáo dục bị cáo. Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là phù hợp với hành vi của bị cáo và đã đủ tính răn đe.
[4] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, màu đen, nhãn hiệu SAMSUNG, Galaxy A04; tên kiểu thiết bị SMA045F/DS; số sêri R92W708DQNE; IMEI (khe 1) 353503961529829; IMEI (khe 2) 354811671529826 đã qua sử dụng; Số tiền thu lợi bất chính là 6.650.000 đồng, bị cáo đã tự nguyện nộp xong. Tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) bút bi mực màu xanh.
[5] Hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự và không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L, 01 (Một) năm Cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự C1 được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án.
2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, màu đen, nhãn hiệu SAMSUNG, Galaxy A04; tên kiểu thiết bị SMA045F/DS; số sêri R92W708DQNE; IMEI (khe 1) 353503961529829; IMEI
6
(khe 2) 354811671529826 đã qua sử dụng; Số tiền thu lợi bất chính là 6.650.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng), bị cáo đã tự nguyện nộp xong. Tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) bút bi mực màu xanh.
(Theo quyết định chuyển vật chứng số 23/QĐ-VKS-AB ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang và theo biên lai thu số 0002661 ngày 04/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Trần Mộng Thúy |
Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG về đánh bạc
- Số bản án: 25/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
