|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2024/DS-ST Ngày: 01 - 7 - 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Viết Xứng
2. Ông Hoàng Văn Tư
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương – Thư ký
Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tham gia phiên tòa:
Bà Đỗ Thị Hường – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng phú xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 195/2023/TLST-DS ngày 19 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXX - DS ngày 20/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QÐST-HPT ngày 12/6/2024 giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Công ty cổ phần Đ.
Địa chỉ: P, Tầng C, số A, ngõ H, phường M, Quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật:
Ông Nguyễn Đức D, Chức vụ: Giám đốc
Tổ chức nhận uỷ quyền: Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H.
Địa chỉ: B Bis N, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng: Bà Huỳnh Nguyễn Bảo H; Chức vụ: Giám đốc trung tâm xử lý nợ.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H:
Bà Lê Thị T, sinh năm 1979 (Có yêu cầu vắng mặt).
Địa chỉ: B Bis N, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Anh Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 1990 (Có mặt).
Địa chỉ: Khu phố E, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước.
+ Bị đơn: Anh Bùi Xuân T2, sinh năm 1994 (Vắng mặt không có lý do).
Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện ngày 07/11/2023, trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, anh Nguyễn Hoàng T1 trình bày:
Ngày 13/01/2023, Ngân hàng TMCP P (gọi tắt là Ngân hàng) và anh Bùi Xuân T2 ký kết hợp đồng tín dụng số 2051/23MN/HĐTD tại Ngân hàng, theo hợp đồng 2 bên thoả thuận anh T2 vay Ngân hàng số tiền 3.000.000.000₫ (Ba tỷ đồng), mục đích sử dụng bổ sung vốn trồng trọt, chăm sóc cây trồng; thời gian nhận nợ theo khế ước nhận nợ là ngày 16/01/2023; thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất vay trong hạn là 16%/năm, lãi suất quá hạn 22,65%/năm, lãi chậm trả lãi là 10%/năm; thời gian trả lãi vào ngày 16 hàng tháng.
Tại thời điểm vay, anh Bùi Xuân T2 có thế chấp 01 Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ số 50, đất toạ lạc tại thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DD 134176, số vào sổ cấp GCN: CS 006712/CN do Sở Tài Nguyên và Môi Trường Tỉnh B ký cấp ngày 18/04/2022, cập nhật điều chỉnh ngày 08/11/2022 đứng tên anh Bùi Xuân T2. Tài sản được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ số 1551/23MN/HĐBĐ ngày 13/01/2023 tại Văn phòng C, tỉnh Bình Phước và được Đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 13/01/2023 tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện B, tỉnh Bình Phước.
Từ thời điểm vay đến nay, anh T2 đã trả tiền lãi theo thoả thuận trong hợp đồng được 3 kỳ. Từ ngày 16/5/2023 đến nay, anh T2 không thanh toán tiền lãi cho Ngân hàng theo đúng thoả thuận. Tính đến nay, anh T2 còn nợ Ngân hàng tiền vay gốc là 3.000.000.000đ, tiền lãi trong hạn là 308.008.407đ; tiền lãi quá hạn là 310.894.521đ và tiền lãi chậm trả lãi là 23.701.627đ.
Ngày 29/9/2023, Ngân hàng đã ký hợp đồng mua bán nợ số 347.09/2023/HĐMBN với Công ty cổ phần Đ (gọi tắt là Công ty) nên nay Công ty khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết những yêu cầu sau:
- Yêu cầu anh Bùi Xuân T2 có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty tổng số tiền 3.642.189.867đ, trong đó nợ gốc số tiền 3.000.000.000đ; lãi trong hạn số tiền 308.008.407đ; tiền lãi quá hạn số tiền 310.894.521đ và tiền lãi chậm trả lãi số tiền 23.701.627đ. Đồng thời, anh T2 phải thanh toán phần nợ lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký kết với Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H kể từ ngày 02/7/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
- Trường hợp anh T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất thửa đất số 14, tờ bản đồ số 50, đất toạ lạc tại thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản đảm bảo được dùng để cấn trừ nghĩa vụ trả nợ của anh T2 đối với Ngân hàng. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ của anh T2 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.
* Đối với bị đơn anh Bùi Xuân T2 : Sau khi tòa án thụ lý đơn khởi kiện đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà nhưng anh T2 không có ý kiến, cũng không đến Tòa án theo giấy triệu tập của Tòa án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh T2 đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng phú tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, thành phần các đương sự tham gia vụ án và phiên tòa đúng quy định.
Kiến nghị: Không có
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Công ty, buộc anh Bùi Xuân T2 có nghĩa vụ thanh toán tiền vay gốc là 3.000.000.000đ, tiền lãi trong hạn là 308.008.407đ; tiền lãi quá hạn là 310.894.521đ và tiền lãi chậm trả lãi là 23.701.627đ. Đồng thời, buộc anh T2 phải thanh toán phần nợ lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký kết với Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H kể từ ngày 02/7/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc và xử lý tài sản thế chấp theo thoả thuận nếu anh Bùi Xuân T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Công ty.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Công ty căn cứ Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng và anh Bùi Xuân T2 để khởi kiện yêu cầu anh T2 có trách nhiệm trả lại số tiền đã vay, anh T2 hiện cư trú tại xã Đ, huyện Đ nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là Tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Mặc dù được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập hợp lệ nhưng anh Bùi Xuân T2 vẫn vắng mặt lần thứ hai mà không có lý do; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử tiếp tục đưa vụ án ra xét xử.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty về việc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ:
- Đối với yêu cầu trả nợ gốc: Ngày 13/01/2023, Ngân hàng TMCP P (gọi tắt là Ngân hàng) và anh Bùi Xuân T2 ký kết hợp đồng tín dụng số 2051/23MN/HĐTD tại Ngân hàng, theo hợp đồng 2 bên thoả thuận anh T2 vay Ngân hàng số tiền 3.000.000.000₫ (Ba tỷ đồng), từ thời điểm nay đến nay anh T2 mới thanh toán tiền lãi cho Ngân hàng 03 kỳ tính từ ngày 16/02/2023. Từ ngày 16/5/2023 đến nay anh T2 đã không thực hiện đúng việc thanh toán tiền lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng, vi phạm điều khoản các bên tự thoả thuận trong hợp đồng tín dụng số 2051/23MN/HĐTD và Khế ước nhận nợ ngày 16/01/2023. Ngày 29/9/2023, Ngân hàng đã ký hợp đồng mua bán nợ số 347.09/2023/HĐMBN với Công ty. Do đó, Công ty khởi kiện yêu cầu anh T2 có trách nhiệm thanh toán khoản vay gốc số tiền 3.000.000.000đ là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Đối với yêu cầu trả tiền lãi:
Theo lời trình bày của người đại diện của Công ty, từ thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng đến nay anh T2 chỉ thanh toán cho Ngân hàng tiền lãi tính đến ngày 15/5/2023. Từ thời điểm ngày 16/5/2023 đến nay, anh T2 không thanh toán tiền lãi cho Ngân hàng, do đó, cần buộc anh T2 có trách nhiệm thanh toán cho Công ty tiền lãi theo thoả thuận, cụ thể:
Đối với tiền lãi trong hạn: Tổng số ngày vi phạm tính từ ngày 16/5/2023 đến ngày 16/01/2024 là 245 ngày, lãi suất 16%/năm, thành tiền:
3.000.000.000đ x 245 ngày x 16%/năm = 308.580.822₫;.
Anh T2 đã thanh toán cho Ngân hàng trong đó tiền lãi trong hạn là 572.415đ, số tiền lãi trong hạn còn phải thanh toán là 308.008.407₫.
Đối với tiền lãi quá hạn: Tổng số ngày vi phạm tính từ ngày 16/01/2024 đến ngày 01/7/2024 là 167 ngày, lãi suất 22,65%/năm, thành tiền:
3.000.000.000đ x 167 ngày x 22,65%/năm = 310.894.521đ.
Đối với tiền lãi chậm trả lãi: Tổng số ngày vi phạm là 405 ngày, lãi suất 10%/năm, tương ứng với số tiền là 23.701.627đ
Tổng số tiền gốc và lãi buộc anh T2 có trách nhiệm trả cho Công ty là 3.642.189.867₫.
[2.3] Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Công ty:
Để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ, Ngân hàng và anh T2 có ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 13/01/2023. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ số 50, diện tích 2.034,9m², đất tọa lạc tại Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước và tài sản trên đất. Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 20/3/2024 xác định thể hiện thửa đất số 14, tờ bản đồ số 50 không có cây trồng hay công trình gì trên đất.
Tại thời điểm ký hợp đồng thế chấp, các bên tham gia ký kết hợp đồng đều đủ năng lực hành vi dân sự, việc giao kết hợp đồng xuất phát từ ý chí tự nguyện của các bên, không bị ép buộc; mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Về hình thức, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ số 50 đã được công chứng tại Văn phòng C và đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện B, tỉnh Bình Phước là đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, hợp đồng thế chấp có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại hợp đồng.
Theo Điều 6 của Hợp đồng tín dụng, 2 bên thoả thuận một trong các phương thức để xử lý thu hồi nợ là : “Xử lý tài sản bảo đảm, tài sản khác và nguồn thu khác của Bên được cấp tín dụng để thu hồi nợ”.
Do đó, trường hợp anh T2 không thanh toán nợ được cho Công ty thì Công ty có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản là quyền sử dụng đất trên để đảm bảo thu hồi nợ là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về chi phí tố tụng: Anh Bùi Xuân T2 phải chịu 3.000.000đ (Ba triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Do Công ty đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng tại Toà án nên anh T2 có trách nhiệm hoàn trả cho Công ty số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng).
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Công ty được Hội đồng xét xử chấp nhận nên Công ty không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; anh Bùi Xuân T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với số tiền 104.843.797₫.
[5] Về ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 317, 318, 319, 463, 466 của Bộ luật dân sự 2015;
Áp dụng Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng;
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 167 của Luật đất đai năm 2013;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q:
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Đ.
Buộc anh Bùi Xuân T2 có trách nhiệm trả cho Công ty cổ phần Đ tổng số tiền 3.642.189.867đ (Ba tỷ sáu trăm bốn mươi hai triệu một trăm tám mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi bảy đồng) trong đó nợ gốc là 3.000.000.000₫ (Ba tỷ đồng), tiền lãi trong hạn là 308.008.407₫ (Ba trăm lẻ tám triệu không trăm lẻ tám nghìn bốn trăm linh bảy đồng); tiền lãi quá hạn là 310.894.521đ (Ba trăm mười triệu tám trăm chín mươi tư nghìn năm trăm hai mươi mốt đồng) và tiền lãi chậm trả lãi là 23.701.627₫ (Hai mươi ba triệu bảy trăm linh một nghìn sáu trăm hai mươi bảy đồng).
Trường hợp anh Bùi Xuân T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty cổ phần Đ có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự phát mãi tài sản là thửa đất số 14, tờ bản đồ số 50, diện tích 2034,9m² (trong đó đất ở nông thôn 400m², đất trồng cây lâu năm 1634,9m²) đất tọa lạc tại Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B ký cấp cho anh Bùi Xuân T2 ngày 18/4/2022 theo GCNQSDĐ số DD 134176, số vào sổ cấp GCN: CS 006712/CN để thu hồi khoản nợ.
Trường hợp khi xử lý các tài sản thế chấp, số tiền thu được dùng để trả nợ cho Công ty cổ phần Đ mà còn thừa thì được trả lại cho anh Bùi Xuân T2. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ trả nợ cho Công ty cổ phần Đ thì anh Bùi Xuân T2 phải trả tiếp phần còn thiếu.
- Về chi phí tố tụng: Anh Bùi Xuân T2 phải chịu 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Do Công ty cổ phần Đ đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng trên nên anh Bùi Xuân T2 có trách nhiệm hoàn trả cho Công ty cổ phần Đ số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng).
- Về án phí: Anh Bùi Xuân T2 phải chịu 104.843.797đ (Một trăm lẻ bốn triệu tám trăm bốn mươi ba nghìn bảy trăm chín mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Phú trả cho Công ty cổ phần Đ số tiền 46.000.000₫ (Bốn mươi sáu triệu đồng) theo biên lai thu số 0005560 ngày 19/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Phú.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
- Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong anh Bùi Xuân T2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 25/2024/DS-ST ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 25/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty cổ phần Đ khởi kiện yêu cầu Toà án buộc anh Bùi Xuân T có trách nhiệm trả lại số tiền đã vay cùng tiền lãi theo thoả thuận