|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2025/KDTM-ST | Ngày: 16/6/2025 |
| V/v: Tranh chấp Hợp đồng thi công | |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Diệu Linh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Mỹ Lệ
- Bà Nghiêm Thị Xuân Huê
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Sơn Hà, Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Liên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số: 73/2024/TLST-KDTM ngày 19/04/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng thi công” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST-KDTM, ngày 29/4/2025, và Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2025/QĐST-KDTM ngày 26/5/2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Công ty TNHH S1.
Địa chỉ trụ sở chính: Số nhà 030 Tầng 1+2, Lô T – Trệt lửng Block D, dự án Chung cư F, số 83 đường D, phường T, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: Số 643 đường Đ, Phường A, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Thạch Huỳnh N, sinh năm 1992 - Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 08/4/2024).
Địa chỉ: Số 643 đường Đ, Phường A, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thị T, sinh năm 1964 – Công ty TNHH N1 và Cộng sự, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Bị đơn: Công ty Cổ phần T2.
Địa chỉ trụ sở chính: Số 193-203 đường T, phường C, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn:
- Bà Trương Huệ V, sinh năm 1988, là đại diện theo pháp luật của bị đơn - Địa chỉ: Số 83 đường N, phường B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Đặng Trịnh Thanh P, sinh năm 1972, là đại diện tham gia tố tụng (theo Thông báo về việc chỉ định người đại diện tham gia tố tụng số 03/2025/TB-TA ngày 29 tháng 4 năm 2025) - Địa chỉ: Số 309 đường H, Phường B, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Ông Thạch Huỳnh N, bà Nguyễn Thị T có mặt, bà Trương Huệ V có đơn xin giải quyết vắng mặt, bà Đặng Trịnh Thanh P vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/4/2024, bản tự khai và tại các buổi làm việc tại Tòa án, nguyên đơn – Công ty TNHH S1 có ông Thạch Huỳnh N là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Từ năm 2018 đến năm 2022, Công ty TNHH S1 (Sau đây gọi tắt là Công ty S1) và Công ty Cổ phần T2 (Sau đây gọi tắt là Công ty T2) đã ký kết 6 (Sáu) Hợp đồng về việc thi công Hệ thống điện trong dự án U, cụ thể như sau:
- Hợp đồng số US/004 ký kết ngày 09/01/2018;
- Hợp đồng số NOH/SJ/US2/038 ký kết ngày 02/8/2019;
- Hợp đồng số NOH/SJ/US2/HOTEL/071 ký kết ngày 10/8/2020;
- Hợp đồng số NOH/SJ/US2/HOTEL/085 ký kết ngày 18/11/2020;
- Hợp đồng số NR/SJ/US/L3&B1_3/029 ký kết ngày 10/12/2021;
- Hợp đồng số NOH/SJ/US2/063 ký kết ngày 02/6/2022.
Sau khi hợp đồng được ký kết, Công ty S1 đã thực hiện đúng cam kết và các công việc theo thỏa thuận trong Hợp đồng. Tuy nhiên kể từ thời điểm Công ty S1 hoàn thành nghĩa vụ cho đến nay, phía Công ty T2 vẫn không thanh toán đầy đủ cho Công ty S1. Ngày 10/10/2023, hai bên đã tiến hành đối chiếu công nợ và xác định số tiền Công ty T2 còn nợ Công ty S1 là: 131.748.123.872 (Một trăm ba mươi mốt tỷ bảy trăm bốn mươi tám triệu một trăm hai mươi ba nghìn tám trăm bảy mươi hai) đồng (Theo Biên bản đối chiếu công nợ thanh toán ngày 10/10/2023).
Từ khi hai bên đối chiếu xác nhận công nợ đến nay, Công ty T2 vẫn chưa thanh toán cho Công ty S1 số tiền là: 131.748.123.872 (Một trăm ba mươi mốt tỷ bảy trăm bốn mươi tám triệu một trăm hai mươi ba nghìn tám trăm bảy mươi hai) đồng. Mặc dù Công ty S1 đã nhiều lần gửi T1 đề nghị thanh toán nhưng vẫn không nhận được phản hồi từ Công ty T2. Việc Công ty T2 không trả nợ khiến Công ty Samjin gặp nhiều khó khăn, thiệt hại.
Ngày 05/12/2024, Công ty S1 đã gửi Thông báo yêu cầu thanh toán, trong đó yêu cầu Công ty T2 phải thanh toán tiền nợ gốc là: 131.748.123.872 (Một trăm ba mươi mốt tỷ bảy trăm bốn mươi tám triệu một trăm hai mươi ba nghìn tám trăm bảy mươi hai) đồng trong vòng 05 (Năm) ngày kể từ ngày nhận được thông báo, nếu Công ty T2 không thanh toán thì phải chịu tiền lãi chậm thanh toán tính theo mức lãi suất cho vay ngắn hạn của Ngân hàng TMCP S2 là 9.3%/năm.
Đến ngày 07/12/2024, Công ty T2 đã nhận được thông báo này. Như vậy, chậm nhất đến hết ngày 12/12/2024 thì Công ty T2 phải thanh toán đủ, tuy nhiên đến nay Công ty T2 vẫn không thanh toán.
Do đó, Công ty T2 phải chịu tiền lãi chậm thanh toán, thời gian chậm thanh toán tính từ ngày 13/12/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 16/6/2025 là 186 (Một trăm tám mươi sáu) ngày.
Số tiền lãi chậm thanh toán là: (131.748.123.872 đồng x 9,3%/365 ngày x 186 ngày) = 6.243.778.210 (Sáu tỷ hai trăm bốn mươi ba triệu bảy trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm mười) đồng.
Chính vì vậy, nay Công ty TNHH S1 đề nghị Tòa án giải quyết:
- Buộc Công ty Cổ phần T2 phải thanh toán cho Công ty S1 số tiền 131.748.123.872 (Một trăm ba mươi mốt tỷ bảy trăm bốn mươi tám triệu một trăm hai mươi ba nghìn tám trăm bảy mươi hai) đồng.
- Buộc Công ty Cổ phần T2 phải thanh toán tiền lãi chậm trả với mức lãi suất chậm trả là 9.3%/năm, thời gian chậm trả tạm tính đến ngày 16/6/2025, số tiền chậm trả là: 6.243.778.210 (Sáu tỷ hai trăm bốn mươi ba triệu bảy trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm mười) đồng.
Tổng số tiền Công ty Cổ phần T2 phải thanh toán cho Công ty TNHH S1 tạm tính đến ngày 16/6/2025 là: 137.991.902.082 (Một trăm ba mươi bảy tỷ chín trăm chín mươi mốt triệu chín trăm lẻ hai nghìn không trăm tám mươi hai) đồng.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện: Không yêu cầu tính lãi suất từ ngày đối chiếu công nợ, chỉ yêu cầu tính lãi suất chậm thanh toán từ ngày 13/12/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm 16/6/2025 là 186 (Một trăm tám mươi sáu) ngày.
Số tiền lãi chậm thanh toán là: (131.748.123.872 đồng x 9,3%/365 ngày x 186 ngày) = 6.243.778.210 (Sáu tỷ hai trăm bốn mươi ba triệu bảy trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm mười) đồng.
Bị đơn vắng mặt trong toàn bộ quá trình xét xử nên không nộp tài liệu, chứng cứ nào tại Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, không có ý kiến đối với nội dung vụ án và các yêu cầu của nguyên đơn, đã được tòa án thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không có yêu cầu phản tố nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu ý kiến:
- Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Thẩm quyền giải quyết vụ án, thời hiệu khởi kiện, việc thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử và thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc tống đạt các văn bản tố tụng là đúng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 97, Điều 171, Điều 203 và Điều 220 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đảm bảo nguyên tắc công khai, độc lập, khách quan, trực tiếp, bằng lời nói và đúng trình tự, thủ tục quy định tại các Điều 12, 14, 15, 237, 239, 250 và 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của các đương sự và Hội đồng xét xử: Trong quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên tòa, các đương sự và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên về thời hạn chuẩn bị xét xử còn chậm, vi phạm Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự, kiến nghị Tòa án nhân dân Quận 1 lưu ý về thời hạn chuẩn bị xét xử.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về pháp luật tố tụng:
1.1. Công ty TNHH S1 khởi kiện yêu cầu Công ty Cổ phần T2 trả số tiền còn nợ phát sinh từ 6 (Sáu) Hợp đồng về việc thi công Hệ thống điện trong dự án U và Biên bản đối chiếu công nợ thanh toán ngày 10/10/2023. Đây là vụ án kinh doanh thương mại do tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận. Bị đơn - Công ty Cổ phần T2 có trụ sở chính tại Quận 1 nên căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
1.2. Tại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty Cổ phần T2 (Mã số doanh nghiệp: 0305853115; Đăng ký thay đổi lần thứ: 22, ngày 07/12/2021) do Phòng đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp thể hiện bà Trương Huệ V, sinh năm 1988, địa chỉ: Số 83 đường N, phường B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh là Tổng giám đốc đồng thời là người đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần T2.
Căn cứ kết quả xác minh của Công an phường B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh thì bà Trương Huệ V, sinh năm 1988 có đăng ký thường trú tại số 83 đường N, phường B, Quận 1, hiện đã bị Cơ quan Điều tra Bộ Công an bắt về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Căn cứ Đơn đề nghị giải quyết vắng mặt của bà Trương Huệ V tại Trại Tạm giam T17 – Văn phòng Cơ quan cảnh sát điều tra, bà Trương Huệ V đề nghị: “Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật và đề nghị xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng để giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân các cấp”. Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã có Thông báo về việc cử người đại diện tham gia tố tụng số: 01/2025/TB-TA ngày 17/03/2025 nhưng hết thời gian theo quy định, Công ty Cổ phần T2 vẫn không thực hiện việc cử người đại diện tham gia tố tụng trong vụ án. Để có cơ sở giải quyết vụ án theo quy định pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, Toà án nhân dân Quận 1 căn cứ vào Điều 85, Điều 86 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5, khoản 7 Điều 12 của Luật Doanh nghiệp năm 2020, chỉ định người đại diện của Công ty Cổ phần T2 tham gia tố tụng trong vụ án nêu trên là: Bà Đặng Trịnh Thanh P, sinh ngày: 12/11/1972, là cổ đông sáng lập của Công ty Cổ phần T2 (Có giá trị cổ phần là: 120.000.000.000 (Một trăm hai mươi tỷ) đồng), chứng minh nhân dân số: [...], địa chỉ: Số 309 đường H, Phường B, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh theo Thông báo về việc chỉ định người đại diện tham gia tố tụng số 03/2025/TB-TA ngày 29 tháng 4 năm 2025.
Tuy nhiên, người đại diện hợp pháp của bị đơn vẫn vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng và xét xử nên không nộp tài liệu, chứng cứ nào tại Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, không có ý kiến đối với nội dung vụ án và các yêu cầu của nguyên đơn, đã được tòa án thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không có yêu cầu phản tố nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về pháp luật nội dung:
2.1. Xét việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ gốc:
Xét, từ năm 2018 đến năm 2022, Công ty TNHH S1 (và Công ty Cổ phần T2 đã ký kết 6 (Sáu) Hợp đồng về việc thi công Hệ thống điện trong dự án U, cụ thể như sau: Hợp đồng số US/004 ký kết ngày 09/01/2018; Hợp đồng số NOH/SJ/US2/038 ký kết ngày 02/8/2019; Hợp đồng số NOH/SJ/US2/HOTEL/071 ký kết ngày 10/8/2020; Hợp đồng số NOH/SJ/US2/HOTEL/085 ký kết ngày 18/11/2020; Hợp đồng số NR/SJ/US/L3&B1_3/029 ký kết ngày 10/12/2021; Hợp đồng số NOH/SJ/US2/063 ký kết ngày 02/6/2022. Nội dung và hình thức hợp đồng phù hợp với quy định pháp luật Việt Nam nên có giá trị pháp lý để thực hiện.
Sau khi hợp đồng được ký kết, Công ty S1 đã thực hiện đúng cam kết và các công việc theo thỏa thuận trong Hợp đồng, các bên đã ký nghiệm thu và quyết toán từng phần. Công ty S1 cũng đã xuất Hóa đơn giá trị gia tăng cho Công ty T2 như sau: Hóa đơn GTGT số: 00000004 ngày 10/3/2023; Hóa đơn GTGT số: 00000014 ngày 08/8/2022; Hóa đơn GTGT số: 00000018 ngày 12/9/2022; Hóa đơn GTGT số: 00000025 ngày 20/10/2022; Hóa đơn GTGT số: 00000030 ngày 26/12/2022; Hóa đơn GTGT số: 00000023 ngày 20/10/2022; Hóa đơn GTGT số: 00000024 ngày 20/10/2022; Hóa đơn GTGT số: 00000029 ngày 26/12/2022; Hóa đơn GTGT số: 00000013 ngày 08/8/2022; Hóa đơn GTGT số: 00000027 ngày 20/10/2022; Hóa đơn GTGT số: 00000026 ngày 20/10/2022; Hóa đơn GTGT số: 00000031 ngày 26/12/2022. Tuy nhiên kể từ thời điểm Công ty S1 hoàn thành nghĩa vụ cho đến nay, phía Công ty T2 vẫn không thanh toán đầy đủ cho Công ty S1. Công ty T2 chỉ mới thực hiện được một phần nghĩa vụ thanh toán là: 5.166.433.526 (Năm tỷ một trăm sáu mươi sáu triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn năm trăm hai mươi sáu) đồng.
Ngày 10/10/2023, hai bên đã tiến hành đối chiếu công nợ và xác định số tiền Công ty T2 còn nợ Công ty S1 là: 131.748.123.872 (Một trăm ba mươi mốt tỷ bảy trăm bốn mươi tám triệu một trăm hai mươi ba nghìn tám trăm bảy mươi hai) đồng (Theo Biên bản đối chiếu công nợ thanh toán ngày 10/10/2023). Xét Biên bản đối chiếu công nợ thanh toán ngày 10/10/2023 đã được ông Trương Lập H, là cổ đông sáng lập của Công ty Cổ phần T2 (Có giá trị cổ phần chiếm 20% là: 40.000.000.000 (Bốn mươi tỷ) đồng) ký xác nhận và đóng dấu Công ty.
Căn cứ quy định Điều 1 Nghị định của Chính phủ số 58/2001/NĐ-CP ngày 24 tháng 8 năm 2001 về quản lý và sử dụng con dấu: “Con dấu được sử dụng trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hội quần chúng, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang, cơ quan, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam (Dưới đây gọi tắt là cơ quan, tổ chức) và một số chức danh nhà nước. Con dấu thể hiện vị trí pháp lý và khẳng định giá trị pháp lý đối với các văn bản, giấy tờ của các cơ quan, tổ chức và các chức danh nhà nước. Con dấu được quản lý theo quy định của Nghị định này”.
Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 11 Thông tư số: 07/2010/TT-BCA ngày 05/02/2010 của Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 58/2001/NĐ-CP ngày 24/8/2001 về quản lý và sử dụng con dấu đã được sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 31/2009/NĐ-CP ngày 01/4/2009 – Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức được sử dụng con dấu: “2. Kiểm tra việc quản lý và sử dụng của các cơ quan, tổ chức mình và con dấu của các cơ quan, tổ chức thuộc thẩm quyền quản lý của mình. 3. Quản lý chặt chẽ con dấu tại trụ sở cơ quan, tổ chức; có quy định cụ thể về quản lý, sử dụng con dấu. Trường hợp cần sử dụng con dấu ngoài trụ sở cơ quan, tổ chức để giải quyết công việc thì phải được phép của thủ trưởng cơ quan, tổ chức đó”. Như vậy, mặc dù ông Trương Lập H không phải là người đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần T2 nhưng đã được giao quyền đối chiếu công nợ và biên bản đối chiếu công nợ ngày 10/10/2023 đã được đóng dấu pháp nhân của Công ty Cổ phần T2. Pháp nhân chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với con dấu của mình theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã gửi hồ sơ khởi kiện và tài liệu, chứng cứ cho bị đơn theo quy định khoản 5 Điều 96 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Tòa án đã thông báo toàn bộ nội dung vụ án, công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thông báo về việc Tòa án thu thập được các tài liệu, chứng cứ từ các cơ quan, tổ chức khác và thông báo kết quả phiên họp công khai, đối chiếu chứng cứ và hòa giải cho bị đơn nhưng bị đơn không nộp tài liệu, chứng cứ nào tại Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, không có ý kiến đối với nội dung vụ án và các yêu cầu của nguyên đơn và không có yêu cầu phản tố, thể hiện Công ty Cổ phần T2 đã được biết về công nợ nguyên đơn yêu cầu nhưng không có ý kiến phản đối.
Từ các nhận định nêu trên có cơ sở cho thấy nguyên đơn đã hoàn thành nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng nhưng bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận nên yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc số tiền: 131.748.123.872 (Một trăm ba mươi mốt tỷ bảy trăm bốn mươi tám triệu một trăm hai mươi ba nghìn tám trăm bảy mươi hai) đồng (Theo Biên bản đối chiếu công nợ thanh toán ngày 10/10/2023) của nguyên đơn là có căn cứ để chấp nhận.
2.2. Xét việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi:
Xét thấy, nguyên đơn đã thực hiện việc thi công đúng như thỏa thuận đã ký trong 6 (Sáu) Hợp đồng về việc thi công Hệ thống điện trong dự án U: Hợp đồng số US/004 ký kết ngày 09/01/2018; Hợp đồng số NOH/SJ/US2/038 ký kết ngày 02/8/2019; Hợp đồng số NOH/SJ/US2/HOTEL/071 ký kết ngày 10/8/2020; Hợp đồng số NOH/SJ/US2/HOTEL/085 ký kết ngày 18/11/2020; Hợp đồng số NR/SJ/US/L3&B1_3/029 ký kết ngày 10/12/2021; Hợp đồng số NOH/SJ/US2/063 ký kết ngày 02/6/2022; Biên bản đối chiếu công nợ thanh toán ngày 10/10/2023. Nguyên đơn đã xuất Hóa đơn giá trị gia tăng số: Hóa đơn GTGT số: 00000004 ngày 10/3/2023; Hóa đơn GTGT số: 00000014 ngày 08/8/2022; Hóa đơn GTGT số: 00000018 ngày 12/9/2022; Hóa đơn GTGT số: 00000025 ngày 20/10/2022; Hóa đơn GTGT số: 00000030 ngày 26/12/2022;
Hóa đơn GTGT số: 00000023 ngày 20/10/2022; Hóa đơn GTGT số: 00000024 ngày 20/10/2022; Hóa đơn GTGT số: 00000029 ngày 26/12/2022; Hóa đơn GTGT số: 00000013 ngày 08/8/2022; Hóa đơn GTGT số: 00000027 ngày 20/10/2022; Hóa đơn GTGT số: 00000026 ngày 20/10/2022; Hóa đơn GTGT số: 00000031 ngày 26/12/2022 nhưng bị đơn mới thực hiện một phần nghĩa vụ thanh toán là: 5.166.433.526 (Năm tỷ một trăm sáu mươi sáu triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn năm trăm hai mươi sáu) đồng, số tiền còn lại chưa thanh toán là: 131.748.123.872 (Một trăm ba mươi mốt tỷ bảy trăm bốn mươi tám triệu một trăm hai mươi ba nghìn tám trăm bảy mươi hai) đồng cho nguyên đơn.
Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 357 Bộ Luật dân sự “Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này”. Việc bị đơn không thanh toán số tiền: 131.748.123.872 (Một trăm ba mươi mốt tỷ bảy trăm bốn mươi tám triệu một trăm hai mươi ba nghìn tám trăm bảy mươi hai) đồng sẽ phải chịu trách nhiệm vi phạm hợp đồng theo thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của pháp luật có liên quan.
Theo Biên bản đối chiếu công nợ thanh toán ngày 10/10/2023, các bên đã thống nhất công nợ số tiền bị đơn còn phải thanh toán cho nguyên đơn. Theo Thông báo yêu cầu thanh toán số: 0412/TB-SAMJIN ngày 04/12/2024, nguyên đơn đã yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ gốc là: 131.748.123.872 (Một trăm ba mươi mốt tỷ bảy trăm bốn mươi tám triệu một trăm hai mươi ba nghìn tám trăm bảy mươi hai) đồng trong vòng 05 (Năm) ngày kể từ ngày nhận được thông báo, nếu Công ty T2 không thanh toán thì phải chịu tiền lãi chậm thanh toán tính theo mức lãi suất cho vay ngắn hạn của Ngân hàng TMCP S2 là 9.3%/năm. Theo Phiếu báo phát số EG723356633VN của Bưu điện V1 thể hiện nguyên đơn đã gửi thông báo cho bị đơn ngày 05/12/2024, bị đơn nhận ngày 07/12/2024. Như vậy, chậm nhất đến hết ngày 12/12/2024 thì Công ty T2 phải thanh toán đủ, tuy nhiên đến nay Công ty T2 vẫn không thanh toán. Do đó, Công ty T2 phải chịu tiền lãi chậm thanh toán, thời gian chậm thanh toán tính từ ngày 13/12/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 16/6/2025 là 186 (Một trăm tám mươi sáu) ngày.
Số tiền lãi chậm thanh toán là: (131.748.123.872 đồng x 9,3%/365 ngày x 186 ngày) = 6.243.778.210 (Sáu tỷ hai trăm bốn mươi ba triệu bảy trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm mười) đồng.
Cách tính và thời gian tính lãi phù hợp Điều 306 Luật Thương mại nên có cơ sở chấp nhận. Đồng thời, lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày nguyên đơn có đơn xin thi hành án cho đến khi bị đơn trả dứt nợ.
[3] Xét phương thức và thời gian thanh toán:
Xét mặc dù nguyên đơn đã thi công đúng như thỏa thuận các bên nhưng bị đơn đã chậm thanh toán tiền nợ gốc còn thiếu từ ngày 10/10/2023 đến nay và đối chiếu quy định pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả ngay một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền bị đơn còn thiếu nguyên đơn là: 137.991.902.082 (Một trăm ba mươi bảy tỷ chín trăm chín mươi mốt triệu chín trăm lẻ hai nghìn không trăm tám mươi hai) đồng, gồm: Tiền nợ gốc: 131.748.123.872 (Một trăm ba mươi mốt tỷ bảy trăm bốn mươi tám triệu một trăm hai mươi ba nghìn tám trăm bảy mươi hai) đồng. Tiền lãi phát sinh tạm tính từ ngày 13/12/2024 đến ngày 16/6/2025 là: 6.243.778.210 (Sáu tỷ hai trăm bốn mươi ba triệu bảy trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm mười) đồng.
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án (Đối với các khoản tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn) cho đến khi thi hành án xong, bị đơn còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 306 Luật Thương mại.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Nguyên đơn không phải chịu án phí nên được hoàn lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 85, Điều 86, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 357 Bộ Luật dân sự;
- Căn cứ Điều 306 Luật thương mại;
- Căn cứ khoản 5, khoản 7 Điều 12 của Luật Doanh nghiệp năm 2020;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
- Căn cứ Điều 1 Nghị định của Chính phủ số 58/2001/NĐ-CP ngày 24 tháng 8 năm 2001 về quản lý và sử dụng con dấu;
- Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 11 Thông tư số: 07/2010/TT-BCA ngày 05/02/2010 của Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 58/2001/NĐ-CP ngày 24/8/2001 về quản lý và sử dụng con dấu đã được sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 31/2009/NĐ-CP ngày 01/4/2009;
- Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Điều 8 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH S1: Buộc Công ty Cổ phần T2 phải thanh toán cho Công ty TNHH S1 số tiền nợ phát sinh từ Biên bản đối chiếu công nợ thanh toán ngày 10/10/2023 là: 137.991.902.082 (Một trăm ba mươi bảy tỷ chín trăm chín mươi mốt triệu chín trăm lẻ hai nghìn không trăm tám mươi hai) đồng, gồm: Tiền nợ gốc: 131.748.123.872 (Một trăm ba mươi mốt tỷ bảy trăm bốn mươi tám triệu một trăm hai mươi ba nghìn tám trăm bảy mươi hai) đồng. Tiền lãi phát sinh tạm tính từ ngày 13/12/2024 đến ngày 16/6/2025 là: 6.243.778.210 (Sáu tỷ hai trăm bốn mươi ba triệu bảy trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm mười) đồng.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty Cổ phần T2 phải chịu án phí là: 245.991.902 (Hai trăm bốn mươi lăm triệu chín trăm chín mươi mốt nghìn chín trăm lẻ hai) đồng.
Hoàn trả cho Công ty TNHH S1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 126.416.060 (Một trăm hai mươi sáu triệu bốn trăm mười sáu nghìn không trăm sáu mươi) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0038207, ký hiệu BLTU/23P, ngày 19/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày đương sự nhận hoặc được tống đạt, niêm yết hợp lệ bản án sơ thẩm.
Thời hạn thanh toán: Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày Công ty TNHH S1 có đơn yêu cầu thi hành án (Đối với các khoản tiền Công ty Cổ phần T2 phải trả cho Công ty TNHH S1) cho đến khi thi hành án xong, Công ty Cổ phần T2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 306 Luật Thương mại.
Các bên thi hành dưới sự giám sát của cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
[TAND QUẬN 1 QR CODE] |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Diệu Linh |
Bản án số 25/2025/KDTM-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thi công
- Số bản án: 25/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng thi công
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng thi công
