|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – THÁI NGUYÊN Bản án số: 25/2025/HS-ST Ngày: 24 - 12 - 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bảo Thanh Toàn;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Thị Thanh Tú – Nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu trí;
- Bà Bùi Thị Kim Thu – Nghề nghiệp: Giáo viên.
Thư ký phiên toà: Bà Vy Thị Hoài Nụ – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 – Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST - HS, ngày 31 tháng 10 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST–HS, ngày 28 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
HOÀNG VĂN H - sinh ngày 23 tháng 9 năm 1990 tại xã N, tỉnh Thái Nguyên;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn B, xã N, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Quốc H1 và con bà Hoàng Thị T; có vợ là: Lý Thị T1 (đã ly hôn tháng 10/2025) và có 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
* Bị hại:
- + Cháu Hoàng Văn T2, sinh ngày 17/9/2010; (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- + Cháu Hoàng Văn T3, sinh ngày 04/12/2013. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã T, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Hoàng Văn T2, Hoàng Văn T3; Đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Đặng Thị T4, sinh năm: 1987; Địa chỉ: Thôn N, xã T, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Hoàng Văn T2, Hoàng Văn T3 là: Ông Lý Văn T5 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm T8, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt)
Người tham gia tố tụng khác:
- + Đại diện của nhà trường nơi bị hại Hoàng Văn Trường H2 tập: Bà Nông Thị H3 – Giáo viên chủ nhiệm lớp 10A, Trung tâm G, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)
- + Đại diện của nhà trường nơi bị hại Hoàng Văn T3 học tập: Ông Nguyễn Đường H4 – Giáo viên chủ nhiệm lớp 7B, Trường Trung học cơ sở N. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2021, Hoàng Văn H và chị Đặng Thị T4, sinh năm 1987, trú tại thôn N, xã T, tỉnh Thái Nguyên quen biết nhau và có mối quan hệ tình cảm. Sau khi biết chị T4 một mình nuôi hai con là cháu Hoàng Văn T2, sinh ngày 17/9/2010 và cháu Hoàng Văn T3, sinh ngày 04/12/2013 nên Huyên thỉnh thoảng đi lại. Chị T4 đi làm công nhân thường xuyên phải xa nhà nên có nhờ Huyên khi nào sang ở cùng các con của chị T4 thì chăm sóc, dạy bảo các cháu làm công việc hằng ngày, nhắc nhở việc học tập. Đồng thời, chị T4 cũng dặn dò cháu T3, cháu T2 phải nghe lời H, đi đâu, làm gì phải được H đồng ý.
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 14/3/2025, Hoàng Văn H đến nhà chị T4, thấy điện bên phòng của hai cháu Hoàng Văn T2 và cháu Hoàng Văn T3 còn bật sáng H nghĩ các cháu đang học bài nên sang phòng xem. Thấy các cháu đang ngủ, H quay ra ngoài cửa buồng cầm lấy bộ đánh tia lửa điện của bật lửa chạm vào cơ thể T2, T3 để đánh thức các cháu tỉnh dậy để học bài. Khi cả hai cháu tỉnh dậy Huyên bảo các cháu ra ngoài bàn ở phòng khách để học bài, H đi vào phòng nằm xem điện thoại.
Đến khoảng 22 giờ 00 phút, H dậy kiểm tra bài của các cháu. Cháu T2 đã làm bài xong, còn cháu T3 do không có sách giáo khoa môn Tiếng Anh vì đã cho bạn mượn nên không làm được bài tập. Lúc này H nảy sinh ý định hành hạ T3. Huyên đã bảo cháu T3 đứng ra giữa phòng khách cạnh bộ bàn ghế và đứng co một chân lên, dạng hai tay ra. Cháu T3 đứng được khoảng 02 (hai) phút thì mỏi chân đã để cả hai chân chạm nền nhà. Thấy vậy, H đã bảo cháu T2 ra ngoài góc nhà tìm một đoạn cây về để đánh cháu T3 và tiếp tục bảo Trọng đứng co chân lên, dang hai tay ra. Khoảng 03 (ba) phút sau, cháu T2 tìm được đoạn cây tre mai về. Huyên tiếp tục bắt cháu T3 đứng co một chân lên, dang hai tay ra. Được khoảng 02 (hai) phút thì cháu T3 mỏi chân nên đã hạ chân và tay xuống, H đã dùng đoạn tre mai dài 71cm, một đầu có đường kính 01 cm, một đầu có đường kính là 0,6cm đánh vào người cháu T3 khoảng 02 (hai) phát vào mông, T3 lấy tay che thì bị đánh khoảng 02 (hai) phát vào cổ tay trái và khoảng 08 (tám) phát vào bắp chân. Lúc đánh H đứng bên phía tay trái của cháu T3, cách cháu T3 khoảng 50cm và dùng tay phải cầm đoạn tre mai đánh theo chiều hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái. Sau khi đánh, H tiếp tục yêu cầu cháu T3 đứng co một chân lên và bảo cháu T2 trông cháu T3 rồi vào phòng đi ngủ. Sau đó H dậy đi ra bảo hai cháu đi ngủ.
Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 15/3/2025, cũng tại nhà chị T4, H bảo các cháu T2 và cháu T3 ngồi ra bàn uống nước ở phòng khách để học bài. Đến khoảng 22 giờ 00 phút, H bắt đầu kiểm tra bài của các cháu. Cháu T3 đã làm hết bài tập, còn cháu T2 làm bài tập xong nhưng không thuộc bài nên H bảo cháu T2 tiếp tục học bài. Khoảng 20 (hai mươi) phút sau, cháu T2 bảo đã học thuộc bài, H đã gọi vào phòng để kiểm tra. Tuy nhiên, cháu T2 vẫn chưa thuộc bài nên H đã bảo cháu T2 ra bàn ở phòng khách để học tiếp. Khoảng 20 (hai mươi) phút sau, cháu T2 bảo đã học thuộc rồi và đi vào phòng H để Huyên kiểm tra. Cháu T2 vẫn chưa thuộc bài, lúc đó do bực tức nên H nảy sinh ý định hành hạ T2. Huyên đã dùng tay trái kéo phần vai phải của cháu T2 vào gần đồng thời tát 02 (hai) cái vào mặt cháu T2. Sau đó, bắt cháu T2 đứng co một chân lên ở trong phòng và hai tay cầm sách để học bài tiếp, nếu hạ chân xuống Huyên sẽ tát, sợ H tát đau nên T2 bảo “để cháu tự tát”. Cứ mỗi lần hạ chân xuống, cháu T2 tự tát vào mặt của mình. Huyên biết và nhìn thấy nhưng để mặc cho cháu tự tát. Khoảng 10 (mười) phút sau đó H bảo cháu T2 đi ra phòng khách, khi cháu T2 đi vệ sinh quay lên nhà. Huyên lại bảo cháu T2 ra giữa phòng khách cạnh bộ B đứng co một chân lên, hai tay cầm sách để học tiếp, cháu T2 đứng được khoảng 01 (một) đến 02 (hai) phút do mỏi chân đã để cả hai chân chạm nền nhà lúc đó khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày H bảo cháu T3 xuống bếp lấy cho Huyên một chiếc kẹp bằng cây mây về để đánh cháu T2. Sau khi T3 tìm được kẹp bằng cây mây, H đã dùng kẹp cây mây có hai thanh, một thanh dài 39cm, một thanh dài 38cm đánh khoảng 05 (năm) phát vào bắp chân, 03 (ba) phát vào đùi, 04 (bốn) phát vào mông và 01 (một) phát vào đầu của cháu T2. Khi cháu T2 bảo mỏi không đứng được H đã bắt cháu T2 quỳ xuống nền nhà, tay cầm sách học bài nhưng quỳ được 02 (hai) đến 03 (ba) phút cháu T2 đặt sách xuống nền nhà để học, thấy vậy H bắt T2 cầm sách lên học nhưng T2 không làm đúng theo yêu cầu, nên H đã dùng kẹp để đánh 03 (ba) phát vào lòng bàn chân cháu T2. Khi đánh, H đứng bên phía tay trái của cháu T2, cách cháu T2 khoảng 50cm và dùng tay phải cầm kẹp cây đánh theo chiều hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái để đánh. Huyên bắt cháu T2 quỳ đến sáng ngày hôm sau đến khi học thuộc bài thì thôi, còn H đi ngủ và bảo cháu T3 trông cháu Trường học bài. Cháu T3 ngồi trông cháu T2 đến khoảng hơn 03 giờ ngày 16/3/2025 thì cháu T3 ngủ say. Đến khoảng 03 giờ 40 phút, cháu T2 đã ra nhà bếp cũ lấy xe mô tô để chạy trốn, do lo sợ bị phát hiện nên cháu T2 đã dắt xe đi cách nhà khoảng 500m mới nổ máy để đi ra nhà ông Đinh Văn T6, sinh năm 1978, trú tại thôn Đ, xã T, tỉnh Thái Nguyên (là bác rể của cháu T2, cháu T3) kể lại sự việc trên. Sau đó, ông T6 đã trình báo Cơ quan Công an.
Ngoài ra, Hoàng Văn H còn khai nhận ngoài 02 ngày nêu trên, vào khoảng tháng 9 năm 2024, H đã dùng gắp cây đánh cháu T3 02 (hai) cái vào mông của cháu T3 do cháu T3 không cẩn thận làm đổ nồi cháo; 02 (hai) lần đánh cháu T2 trong đó 01 (một) lần dùng cây que đánh khi đi trồng ngô do cháu T2 không làm đúng theo yêu cầu của H, 01 (một) lần H dùng tay phải tát vào mặt cháu T2 02 (hai) cái do cháu T2 không cẩn thận làm đổ nồi cháo. Không lần nào H đánh 02 cháu một lúc.
Quá trình điều tra, Hoàng Văn H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của mình về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi phạm tội: Trong ngày 14 và 15/3/2025, tại nhà của chị Đặng Thị T4 thuộc thôn N, xã T, tỉnh Thái Nguyên, Hoàng Văn H đã có hành vi đối xử tàn ác người lệ thuộc mình. Hành vi hành hạ người khác của H gây ra những vết bầm tím trên cơ thể hai cháu. Tại thời điểm bị hành hạ, cháu T3 mới được 11 tuổi 3 tháng 10 ngày, cháu T2 được 14 tuổi 5 tháng 26 ngày. Cụ thể:
- Ngày 14/3/2025 H đánh thức các cháu dậy để học bài. Sau khi học bài xong, đến 22 giờ 00 cùng ngày khi thấy T3 không hoàn thành nội dung học thì H đã bắt cháu T3 đứng co một chân, dang hai tay, sau đó dùng một đoạn tre mai dài 71cm, một đầu có đường kính 01cm, một đầu có đường kính 0,6cm đánh nhiều lần vào nhiều bộ phận trên cơ thể cháu T3. Ngày 14/3/2025 H không đánh T2.
- Ngày 15/3/2025 Sau khi cháu trường không thuộc bài, H có hành vi tát cháu T2, bắt T2 đứng co một chân, tay cầm sách học bài, để cháu T2 tự tát nhiều lần, dùng kẹp bằng cây mây có hai thanh (một thanh dài 39cm, một thanh dài 38cm) đánh nhiều lần vào nhiều bộ phận trên cơ thể cháu T2, bắt quỳ xuống nền nhà, tay cầm sách học bài, bảo cháu cháu T3 trông cháu Trường học bài. Đến 03 giờ 40 sáng ngày 16/3/2025 do sợ bị đánh nên T2 đã bỏ trốn. Ngày 15/3/2025 H không đánh T3.
Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể hồi 10 giờ 00 phút ngày 16/3/2025 đối với Hoàng Văn T2 gồm: Vết thương bầm tím từ hai mặt đùi trước đến bàn chân; Vết thương bầm tím từ ngang hai đùi sau đến cổ chân; 01 vết bầm tím gò má trái; 01 vết bầm tím ở cẳng tay phải; Bệnh nhân có kêu đau đầu và buồn nôn.
Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể hồi 15 giờ 00 phút ngày 17/3/2025 đối với đối với Hoàng Văn T3 gồm: 01 vết bầm tím ở cánh tay phải kích thước 02cm x 03cm; 01 vết bầm tím ở cổ tay trái kích thước 01cm x 01cm; 01 vết bầm tím ở đuôi mắt trái kích thước 01cm x 03cm.
Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 30 ngày 21/3/2025 của Trung tâm Pháp y và Giám định Y khoa tỉnh B đối với Hoàng Văn T2, xác định các kết quả chính: Vùng đầu, mặt không có thương tích. Không có tỷ lệ % TTCT; Vết bầm tím ở vùng 1/3 giữa mặt trước cẳng tay phải, vùng mông trái; vết thương bầm tím không để lại di chứng. Không có tỷ lệ % TTCT. Các vết bầm tím vùng chân phải, chân trái: tại thời điểm giám định các vết bầm tím đã chuyên màu vàng nhạt, sờ nắn mềm mại, không đau, không có phản ứng co cứng cơ, cử động, vận động hai chân tốt. Không có tỷ lệ % TTCT; Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Văn T2 tại thời điểm giám định là 0% (không phần trăm). Cơ chế hình thành vết thương: các vết bầm tím do vật tày tác động.
Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 29 ngày 21/3/2025 của Trung tâm Pháp y và Giám định Y khoa tỉnh B đối với Hoàng Văn T3, xác định các kết quả chính: Các vết bầm tím da vùng đuôi mặt trái, căng tay phải và cẳng tay trái không để lại di chứng, không có tỷ lệ TTCT; Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Văn T3 tại thời điểm giám định là 0% (không phần trăm). Cơ chế hình thành vết thương: do vật tày tác động.
Tại bản cáo trạng số: 03/CT – VKSKV6, ngày 29 tháng 10 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Thái Nguyên đã truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn H về tội: “Hành hạ người khác” theo điểm a khoản 2 Điều 140/BLHS.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào đối xử tàn ác hoặc làm nhục người lệ thuộc mình nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 185 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Đối với người dưới 16 tuổi...”
Tại phiên toà: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Thái Nguyên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn H. Đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Hành hạ người khác”.
Về hình phạt chính: đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 140; Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52/BLHS: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày đi chấp hành án.
- Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ:
- + 01 (một) kẹp làm bằng cây mây rừng có thiết kế đơn giản với hai thanh dài uốn cong ở một đầu, có màu nâu gỗ tự nhiên, phần đầu đã bị cháy màu đen. Hai thanh dài và thẳng, phần đầu đã bị cháy màu đen, thanh thứ nhất có chiều dài 38cm và thanh thứ hai có chiều dài 39cm. Phần uốn cong rộng 2,8cm, phần đầu rộng 2,2cm.
- + 01 (Một) đoạn tre mai có chiều dài 71cm, có màu xanh, bạc, một đầu có đường kính 1cm, một đầu đã bị dập nát có đường kính 0,6cm.
- + 01 (một) bộ phận đánh tia lửa điện có hình dạng góc vuông chữ “L” một đầu phẳng và một đầu có dây điện hở. Được cuốn bằng băng dính có màu đen. Một đầu phẳng đến điểm góc vuông chữ L có chiều dài 4cm, đầu dây điện hở đến điểm góc vuông chữ L có chiều dài 4,4cm.
- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại T2, T3 đã tự nguyện thoả thuận bồi thường chi phí đi lại khám chữa bệnh của cháu T2, T3 trong vụ án với tổng số tiền 5.000.000đ (trong đó bồi thường cho cháu T2 2.500.000đ; bồi thường cho cháu T3 2.500.000đ). Đề nghị HĐXX ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của các bị hại.
- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
* Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại:
Nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị HĐXX ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại T2, T3 với tổng số tiền 5.000.000đ như trên.
* Đại diện của nhà trường nơi bị hại học tập: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật trên cơ sở xem xét đến quyền lợi của bị hại là người chưa thành niên.
* Bị cáo Hoàng Văn H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm pháp luật như viện kiểm sát đã truy tố. Tại phiên toà bị cáo không tranh luận; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, đúng quy định.
[2] Trong ngày 14 và 15/3/2025, tại nhà của chị Đặng Thị T4 thuộc thôn N, xã T, tỉnh Thái Nguyên; Hoàng Văn H đã có hành vi đối xử tàn ác với người lệ thuộc mình là Hoàng Văn T2, Hoàng Văn T3 (đều dưới 16 tuổi) khi được chị T4 nhờ chăm sóc, nhắc nhở học tập, cụ thể: Ngày 14/3/2025 H dùng bộ phận đánh tia lửa điện của bật lửa đánh thức các cháu dậy để học bài. Sau khi học bài xong, đến 22 giờ 00 cùng ngày khi thấy T3 không hoàn thành nội dung học thì H đã có hành vi bắt cháu T3 đứng co một chân, dang hai tay, sau đó dùng một đoạn tre mai có chiều dài 71cm, có màu xanh, bạc, một đầu có đường kính 1cm, một đầu đã bị dập nát có đường kính 0,6cm đánh nhiều lần vào nhiều bộ phận trên cơ thể cháu T3. Ngày 15/3/2025 khi cháu T2 không thuộc bài, H có hành vi tát cháu T2, bắt T2 đứng co một chân, tay cầm sách học bài, để cháu T2 tự tát nhiều lần, dùng kẹp bằng cây mây 01 (một) kẹp làm bằng cây mây rừng có thiết kế đơn giản với hai thanh dài uốn cong ở một đầu (T7 thứ nhất có chiều dài 38cm và thanh thứ hai có chiều dài 39cm; Phần uốn cong rộng 2,8cm, phần đầu rộng 2,2cm) đánh nhiều lần vào nhiều bộ phận trên cơ thể cháu T2, bắt quỳ xuống nền nhà, tay cầm sách học bài. Hành vi hành hạ người khác của H đã gây ra tổn thương về tinh thần và những vết bầm tím trên cơ thể hai cháu.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo Hoàng Văn H về tội: “Hành hạ người khác” theo điểm a khoản 2 điều 140 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thấy:
- - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
- - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên”.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Ngoài ra bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là bị cáo có ông nội là Hoàng Văn C được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì.
[4] Về hình phạt:
Trên cơ sở quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến thân thể đối với bị hại T2, T3 đều dưới 16 tuổi; làm cho bị hại bị tổn thương về thể xác và tinh thần; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của bị cáo gây ra là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
Do đó, hành vi trái pháp luật của bị cáo cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự; cần áp dụng mức hình phạt phù hợp với mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại T2, T3 đề nghị bị cáo bồi thường chi phí đi lại khám chữa bệnh của cháu T2, T3 trong vụ án với tổng số tiền 5.000.000đ (trong đó bồi thường cho cháu T2 2.500.000đ; bồi thường cho cháu T3 2.500.000đ); Ngoài ra không có đề nghị gì thêm. Bị cáo nhất trí theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của bị hại nhưng chưa thực hiện việc bồi thường.
Quá trình giải quyết vụ án thể hiện người đại diện hợp pháp của bị hại và bị cáo đã tự nguyện thoả thuận được với nhau về việc bồi thường, tại phiên toà có đề nghị HĐXX ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận thỏa thuận này. Xét thấy sự thỏa thuận của bị cáo Hoàng Văn H và đại diện hợp pháp của bị hại là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, do đó cần ghi nhận.
[6] Về xử lý vật chứng:
- + Đối với 01 (một) kẹp làm bằng cây mây rừng có thiết kế đơn giản với hai thanh dài uốn cong ở một đầu, có màu nâu gỗ tự nhiên, phần đầu đã bị cháy màu đen. Hai thanh dài và thẳng, phần đầu đã bị cháy màu đen, thanh thứ nhất có chiều dài 38cm và thanh thứ hai có chiều dài 39cm. Phần uốn cong rộng 2,8cm, phần đầu rộng 2,2cm. Đây là tài sản của chị Đặng Thị T4, xác định không còn giá trị cần tịch thu tiêu huỷ.
- + Đối với 01 (Một) đoạn tre mai có chiều dài 71cm, có màu xanh, bạc, một đầu có đường kính 1cm, một đầu đã bị dập nát có đường kính 0,6cm. Hội đồng xét xử xác định không còn giá trị cần tịch thu tiêu huỷ.
- + Đối với 01 (một) bộ phận đánh tia lửa điện có hình dạng góc vuông chữ “L” một đầu phẳng và một đầu có dây điện hở. Được cuốn bằng băng dính có màu đen. Một đầu phẳng đến điểm góc vuông chữ L có chiều dài 4cm, đầu dây điện hở đến điểm góc vuông chữ L có chiều dài 4,4cm. Chị T4 không có yêu cầu trả lại; hội đồng xét xử xác định không còn giá trị cần tịch thu tiêu huỷ.
[7] Về vấn đề khác:
- - Về việc Hoàng Văn H chăm sóc, nhắc nhở việc học của cháu T2, T3 là do chị Đặng Thị T4 nhờ. Huyên và các bị hại không có mối quan hệ cha, con. Do đó, hành vi của H không thuộc trường hợp phạm tội quy định tại Điều 185 của Bộ luật hình sự.
- - Huyên chung sống với chị T4 và cháu T2, T3 không thường xuyên, chỉ thỉnh thoảng đi lại. Mặt khác việc H nói với chị T4 đã ly hôn vợ nên chị T4 không biết được H đang có quan hệ hôn nhân với người khác. Do đó cơ quan chức năng chưa đủ căn cứ để xử lý hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng là có cơ sở.
[8] Về quan điểm truy tố và đề nghị của Viện kiểm sát, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.
Đối với ý kiến đại diện của nhà trường nơi bị hại học tập: Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
[9] Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2, Điều 136/BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo: Hoàng Văn H phạm tội: “Hành hạ người khác”.
- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 140; Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Hoàng Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày đi chấp hành án.
- Về vật chứng:
Áp dụng điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTHS Tịch thu tiêu huỷ:
- + 01 (một) kẹp làm bằng cây mây rừng có thiết kế đơn giản với hai thanh dài uốn cong ở một đầu, có màu nâu gỗ tự nhiên, phần đầu đã bị cháy màu đen. Hai thanh dài và thẳng, phần đầu đã bị cháy màu đen, thanh thứ nhất có chiều dài 38cm và thanh thứ hai có chiều dài 39cm. Phần uốn cong rộng 2,8cm, phần đầu rộng 2,2cm.
- + 01 (Một) đoạn tre mai có chiều dài 71cm, có màu xanh, bạc, một đầu có đường kính 1cm, một đầu đã bị dập nát có đường kính 0,6cm.
- + 01 (một) bộ phận đánh tia lửa điện có hình dạng góc vuông chữ “L” một đầu phẳng và một đầu có dây điện hở. Được cuốn bằng băng dính có màu đen. Một đầu phẳng đến điểm góc vuông chữ L có chiều dài 4cm, đầu dây điện hở đến điểm góc vuông chữ L có chiều dài 4,4cm.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 – Thái Nguyên ngày 12/11/2025).
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48/BLHS; Các Điều 584; 585; 586/BLDS:
Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của bị cáo Hoàng Văn H và người đại diện hợp pháp của các bị hại là Đặng Thị T4 về việc bồi thường tổng số tiền 5.000.000₫ (Trong đó: bồi thường cho Hoàng Văn T3 2.500.000đ, bồi thường cho Hoàng Văn T2 2.500.000₫), cụ thể:
Bị cáo Hoàng Văn H phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại tổng số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng); Trong đó bồi thường cho bị hại Hoàng Văn T2 2.500.000đ, bị hại Hoàng Văn T3 2.500.000đ thông qua người đại diện hợp pháp của bị hại là Đặng Thị T4.
“Việc thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 357/BTDS. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”
- Án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm; và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại đồng thời người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Bảo Thanh Toàn |
Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – THÁI NGUYÊN về vụ án hình sự về tội hành hạ người khác
- Số bản án: 25/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Hành hạ người khác
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ban an 25/2025/HSST ngày 24/12/2025 - HVH - Hành hạ người khác
