Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HSST

Ngày: 09/04/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Nhưng; bà Trần Thị Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hoài Thanh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Diệu, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 25/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 03 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXHSST – HS, ngày 27 tháng 03 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Kỳ Anh, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn H; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 09 tháng 03 năm 1986, tại xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Kinh doanh; con ông: Nguyễn Thành L và bà: Lê Thị D; anh em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ hai; có vợ: Nguyễn Kiều T và 02 con (con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 14/10/2024 đến nay; Có mặt.
  2. Họ và tên: Nguyễn Kiều T; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 10 tháng 09 năm 1987, tại xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Kế toán; con ông: Nguyễn Đình C và bà: Nguyễn Thị T1; anh em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ 04; có chồng: Nguyễn Văn H và 02 con (con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 14/10/2024 đến nay; Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • - Chi cục thuế khu vực K1, tỉnh Hà Tĩnh; địa chỉ: Số D, L, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Người đại diện theo pháp luật: Ông Chu Tất Đ, chức vụ: Chi cục trưởng; Vắng mặt.
  • - Anh Nguyễn Văn H1; sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ H, phường N, quận L, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Kinh doanh; vắng mặt có đơn xin xử vắng mặt.
  • - Chị Phạm Thị A; sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Chị Nguyễn Thị T2; sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn H, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Bà Nguyễn Thị T1; sinh năm 1952; nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Chị Trần Thị H2; sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Chị Đặng Thị D1; sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.

Người làm chứng:

  • - Anh Trần Mạnh H3; sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Phan Huy H4; sinh năm 1972; nơi cư trú: Thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Ngô Công L1; sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Võ Văn V; sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn Y, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Nguyễn Quốc V1; sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Hoàng Nhật H5; sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn K, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Hoàng Nhật H5; sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn K, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Lê Xuân L2; sinh năm 1984, nơi cư trú: Thôn V, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Phạm Ngọc T3; sinh năm 1976, nơi cư trú: Thôn V, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Võ Xuân T4; sinh năm 1982, nơi cư trú: Thôn Đ, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Nguyễn Văn Q; sinh năm 1990, nơi cư trú: Thôn M, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Nguyễn Bá S; sinh năm 1979, nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Trần Văn K; sinh năm 1993, nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Phạm Văn H6; sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn Y, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Dương Quốc T5; sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Nguyễn Trọng T6; sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Trần Văn L3; sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Phạm Văn L4; sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Nguyễn Tiến H7; sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Nguyễn Ngọc T7; sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Nguyễn Xuân T8; sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Hồ Văn T9; sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Nguyễn Bảo V2; sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Nguyễn Thị L5; sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Lê Anh T10; sinh năm 1990; nơi cư trú: Tổ B, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  • - Anh Hoàng Văn T11; sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn Y, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Công ty TNHH C1 (viết tắt là Công ty C1) được Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh H cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh/Mã số doanh nghiệp 3002025365, đăng ký lần đầu vào ngày 29/02/2016 do; có mã số thuế 3002025365, địa chỉ trụ sở tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Vốn điều lệ 9.000.000.000 đồng, kinh doanh nhiều ngành nghề trong đó có kinh doanh buôn bán vật liệu, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng; Xây dựng nhà để ở và công trình kỹ thuật dân dụng khác do Nguyễn Văn H làm giám đốc, là người đại diện theo pháp luật của công ty T13 chỉ đạo điều hành mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh; Nguyễn Kiều T (vợ của H) làm kế toán trưởng. Hình thức hạch toán kế toán: Hạch toán độc lập. Chế độ kế toán thực hiện theo Thông tư 133/2016/TT-BCT ngày 26/8/2016 của Bộ T14. Hình thức kê khai thuế GTGT: Theo phương pháp khấu trừ. Năm tài chính: Từ 01/01 đến 31/12 năm dương lịch. Số tài khoản Ngân hàng đã đăng ký với cơ quan thuế: Tài khoản số 0201000649831 mở tại Ngân hàng V3 chi nhánh K2. Công ty thực hiện việc kê khai, nộp thuế tại Chi cục Thuế khu vực K1. Quá trình hoạt động của Công ty, Nguyễn Văn H là người trực tiếp điều hành, chỉ đạo công việc chung của Công ty; Nguyễn Văn H1 (anh trai của Nguyễn Văn H) chỉ góp vốn và không tham gia điều hành, chỉ đạo công việc cũng như hoạt động kinh doanh của Công ty. Nguyễn Văn H giao cho Nguyễn Kiều T làm kế toán trưởng, trực tiếp điều hành, chỉ đạo nhân viên kế toán trong các hoạt động bán hàng tại trụ sở Công ty. Bộ phận kế toán gồm có Nguyễn Thị T2, sinh năm 1988, trú tại xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh làm kế toán kho (làm từ tháng 12/2023 đến nay); Phạm Thị A, sinh năm 1992, trú tại xã K, huyện K chịu trách nhiệm tư vấn khách hàng, tiếp nhận đơn và bán hàng (làm từ khoảng năm 2021 đến nay); Trần Thị H2, sinh năm 1988, trú tại xã K, huyện K chịu trách nhiệm liên quan công trình (làm từ tháng 05/2023 đến nay); Nguyễn Thị Thùy D2, sinh năm 1995, trú tại thị trấn C là kế toán bán hàng phụ kiện (làm từ tháng 04/2024 đến nay).

Công ty C1 thành lập mới ngày 29/02/2016 tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh thuộc địa bàn kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Công ty được hưởng thuế suất TNDN 10% trong thời gian 15 năm, được miễn thuế TNDN 04 năm và được giảm 50% trong thời gian 09 năm tiếp theo quy định tại Điều 19, Điều 20 Thông tư 78/2014/TT-BTC ngày 16/8/2014 hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN. Năm 2023, Công ty đang đang được hưởng thuế suất TNDN 10% và giảm 50% số thuế TNDN.

Từ ngày 01/01/2023 đến ngày 31/12/2023, Công ty C1 xuất 5795 chứng từ bán hàng hóa và thành phẩm (chứng từ là hóa đơn bán hàng được xuất từ phần mềm quản lý bán hàng KiotViet); Tổng giá trị hàng hóa ở 5795 chứng từ là 24.688.020.108 đồng. Cụ thể: Số liệu thực tế theo phần mềm KiotViet, quý I doanh thu bán hàng hóa và thành phẩm (chưa bao gồm thuế) của công ty C1 là 4.882.207.497 đồng, thuế GTGT 488.220.750 đồng với tổng doanh thu bán hàng hóa và thành phẩm là 5.370.428.248 đồng. Quý II, doanh thu bán hàng hóa và thành phẩm (chưa bao gồm thuế) của công ty C1 là 5.533.288.234 đồng, thuế GTGT 553.328.823 đồng với tổng doanh thu bán hàng hóa và thành phẩm là 6.086.617.056 đồng. Quý III, doanh thu bán hàng hóa và thành phẩm (chưa bao gồm thuế) của công ty C1 là 6.107.087.557 đồng, thuế GTGT 570.797.598 đồng với tổng doanh thu bán hàng hóa và thành phẩm là 6.677.885.155 đồng. Quý IV, doanh thu bán hàng hóa và thành phẩm (chưa bao gồm thuế) của công ty C1 là 5.997.645.682 đồng, thuế GTGT 555.443.966 đồng với tổng doanh thu bán hàng hóa và thành phẩm là 6.553.089.648 đồng.

Tuy nhiên, Công ty C1 không kê khai đầy đủ giá trị hàng hóa bán ra trên thực tế; không xuất đầy đủ hóa đơn GTGT theo các lần xuất bán hàng hóa, bán thành phẩm mà chỉ xuất một số hóa đơn theo kỳ kê khai, tính thuế với tổng giá trị thu từ hoạt động bán hàng hóa và thành phẩm được Công ty C1 kê khai nộp thuế trong năm 2023 là: 18.567.833.545 đồng. Về quy trình bán hàng, khi có khách hàng lẻ (Khách hàng không ký kết hợp đồng kinh doanh với Công ty C1) liên hệ mua hàng (đến trực tiếp hoặc gọi đến số điện thoại của Công ty), T sẽ phân công người tư vấn bán hàng (vào năm 2023 chủ yếu Phạm Thị A tiếp nhận, tư vấn và bán hàng). Nhân viên tư vấn, lấy thông tin và xuất kho các hàng hóa theo yêu cầu của khách; nhập thông tin khách hàng, loại hàng hóa, số lượng, mức giá vào hóa đơn bán hàng tại phần mềm KiotViet và xuất hóa đơn bán hàng, không xuất hóa đơn giá trị gia tăng. Trường hợp khách hàng là đối tác có hợp đồng kinh doanh, Nguyễn Kiều T sẽ trực tiếp thực hiện giao dịch mua bán, nhập thông tin vào phần mềm KiotViet và xuất hóa đơn giá trị gia tăng theo quy định. Về phần doanh thu từ dịch vụ bán lẻ (bán cho các khách lẻ), mỗi quý, Nguyễn Kiều T sẽ kê khai một giá trị nhất định thu từ dịch vụ bán lẻ (chứng từ kê khai thuế thể hiện nội dung “Xuất bán lẻ”) để nộp thuế theo quy định nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan quản lý thuế và cân đối chi phí đầu vào, đầu ra.

Như vậy, trong năm 2023, Công ty C1 đã bỏ ngoài hồ sơ, sổ sách; không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa; không kê khai, đưa vào doanh thu, hạch toán chi phí để tính thuế theo quy định đối với khoản doanh thu từ hoạt động bán hàng hóa và thành phẩm là 4.319.016.572 đồng (Giá trị hàng hóa đã bao gồm thuế GTGT), toàn bộ doanh thu không kê khai, nộp thuế phát sinh từ hoạt động bán hàng hóa và thành phẩm tại trụ sở Công ty thuộc thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Doanh thu bán hàng hóa và thành phẩm không xuất hóa đơn, không kê khai, nộp thuế của công ty C1 năm 2023 cụ thể: Quý I, doanh thu bán hàng hóa và thành phẩm không xuất hóa đơn, không kê khai, nộp thuế (đã bao gồm thuế GTGT) là 1.124.587.076 đồng; Quý II, doanh thu bán hàng hóa và thành phẩm không xuất hóa đơn, không kê khai, nộp thuế (đã bao gồm thuế GTGT) là 1.387.084.396 đồng; Quý III, doanh thu bán hàng hóa và thành phẩm không xuất hóa đơn, không kê khai, nộp thuế (đã bao gồm thuế GTGT) là 989.432.778 đồng; Quý IV, doanh thu bán hàng hóa và thành phẩm không xuất hóa đơn, không kê khai, nộp thuế (đã bao gồm thuế GTGT) là 817.912.322 đồng.

Việc Công ty TNHH C1 không xuất hóa đơn GTGT, không kê khai nộp thuế GTGT, không đưa vào doanh thu, hạch toán vào chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định đối với khoản doanh thu 4.319.016.572 đồng (đã bao gồm thuế) từ hoạt động bán hàng hóa, bán thành phẩm trong năm 2023 là hành vi trốn thuế Theo quy định tại điều 143 luật Quản lý Thuế số 38/2019/QH14 ngày 13 tháng 6 năm 2019. Cụ thể, số tiền Thuế GTGT trốn: Năm 2023 Công ty kê khai số thuế GTGT phải nộp 20.712.875 đồng và không có số thuế GTGT còn được khấu trừ chuyển sang kỳ sau (2024) nên số thuế GTGT đầu ra tương ứng với doanh thu không xuất hóa đơn, không kê khai, nộp thuế chính là số thuế GTGT đã trốn. Số thuế GTGT đã trốn: 366.621.146 đồng. Số tiền thuế TNDN trốn: 25.485.467 đồng (50.970.933 đồng nhưng được giảm 50% còn: 25.485.467 đồng). Tổng số thuế đã trốn của Công ty TNHH C1 là: 392.106.613 đồng.

Kết quả trưng cầu giám định

  • + Ngày 10/09/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện K ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 707/QĐ-CSKT để trưng cầu Cục Thuế tỉnh H giám định thiệt hại tài chính về thuế năm 2023 tại Công ty TNHH C1.
  • + Ngày 30/09/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện K ban hành Công văn bổ sung tài liệu giám định số 543/CSĐT-ĐCSHS-KTMT bổ sung hồ sơ, tài liệu theo các nội dung yêu cầu được thể hiện tại văn bản số 2976/CTHTI-TTKT2 ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Cục Thuế tỉnh H về việc phối hợp bổ sung hồ sơ giám định trong vụ việc có dấu hiệu “Trốn thuế” xảy ra tại Công ty TNHH C1 năm 2023.
  • + Ngày 10/10/2024, Tổ Giám định tư pháp thuộc Cục T ban hành Kết luận Giám định, kết luận: Việc Công ty TNHH C1 không xuất hóa đơn GTGT, không kê khai nộp thuế GTGT, không đưa vào doanh thu, hạch toán vào chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định đối với khoản doanh thu 4.319.016.572 đồng (đã bao gồm thuế) từ hoạt động bán hàng hóa, bán thành phẩm trong năm 2023 là hành vi trốn thuế Theo quy định tại điều 143 luật Quản lý Thuế số 38/2019/QH14 ngày 13 tháng 6 năm 2019, cụ thể như sau:
    • - Số tiền Thuế GTGT trốn: Năm 2023 Công ty kê khai số thuế GTGT phải nộp 20.712.875 đồng và không có số thuế GTGT còn được khấu trừ chuyển sang kỳ sau (2024) nên số thuế GTGT đầu ra tương ứng với doanh thu không xuất hóa đơn, không kê khai, nộp thuế chính là số thuế GTGT đã trốn. Số thuế GTGT đã trốn: 366.621.146 đồng.
    • - Số tiền thuế TNDN trốn: Doanh thu tính thuế đã trốn: 3.952.395.426 đồng; Chi phí tính thuế tương ứng với số doanh thu trốn: 3.442.686.100 đồng; Thuế TNDN phát sinh = (3.952.395.426 - 3.442.686.100) x 10% = 50.970.933 đồng; Thuế TNDN được giảm 50%: 25.485.466 đồng;Thuế TNDN phải nộp chính là số thuế trốn: 25.485.467 đồng.
  • * Tổng số thuế đã trốn của Công ty TNHH C1 là: 392.106.613 đồng. Trong đó Thuế GTGT: 366.621.146 đồng, Thuế TNDN: 25.485.467 đồng.

Việc thu giữ các đồ vật, tài liệu có liên quan:

  • + Tài liệu, đồ vật, vật chứng thu giữ đã xử lý: 01 bộ máy tính để bàn gồm: 01 màn hình máy tính nhãn hiệu Kvision; 01 CPU nhãn hiệu KENOO; 01 (một) bàn phím; 01 chuột có dây, thiết bị đã qua sử dụng; 01CPU máy tính màu đen hiệu XYGMATEK, đã qua sử dụng; 01 màn hình máy tính màu đen hiệu S1; 01 màn hình máy tính màu đen hiệu Acer; 01 CPU máy tính hiệu GIPCO; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy note 20, số IMEI 1: 350247875749437, số IMEI 2: 353791665749435, điện thoại đã qua sử dụng. Nay đã trả lại cho chủ sỡ hữu Công ty TNHH C1 cho đại diện Công ty là Nguyễn Văn H -Giám đốc.
  • + Vật chứng thu giứ chưa xử lý: 01 bộ máy tính để bàn gồm: 01 màn hình máy tính nhãn hiệu Kvision; 01CPU nhãn hiệu KENOO; 01 bàn phím; 01 chuột có dây, thiết bị đã qua sử dụng. Vật chứng trên hiện nay đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ AnK1 để xử lý theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Nguyễn Kiều T đã tự nguyện tạm nộp tiền khắc phục hậu quả tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ AnK1, số tiền: 392.106.613 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 26/CT- VKSKA ngày 14 tháng 03 năm 2025, của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Nguyễn Kiều T về tội “Trốn thuế” theo điểm b khoản 2 Điều 200 của Bộ luật Hình sự;

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 4 Điều 200, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, khoản 2, 3 Điều 35, Điều 65 Bộ luật Hình sự:
    • + Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn H, Nguyễn Kiều T phạm tội “Trốn thuế".
    • + Hình phạt chính: Xử phạt Nguyễn Văn H mức án từ 14 đến 17 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 tháng đến 34 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xử phạt Nguyễn Kiều T mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • + Hình phạt bổ sung: Xử phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Nguyễn Văn H mức tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Đối với bị cáo Nguyễn Kiều T là phụ nữ đang mang thai, quan hệ giữa T và bị cáo H là vợ chồng của nhau nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.
  • - Áp dụng a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử:
    • + Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 392.106.613 đồng mà các bị cáo trốn thuế.
    • + Trả lại cho Công ty TNHH C1 01 bộ máy tính để bàn gồm: 01 màn hình máy tính nhãn hiệu Kvision; 01 CPU nhãn hiệu KENOO; 01 bàn phím; 01 chuột có dây, thiết bị đã qua sử dụng
  • - Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo, xử buộc các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Kiều T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận; các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nguyễn Văn H là người thành lập TNHH Cơ khí và Xây dựng C1, giữ chức vụ Giám đốc là người có quyền quyết định các vấn đề có liên quan đến hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty. Quá trình bán hàng hóa và thành phẩm (vật liệu và thiết bị phục vụ xây dựng...) tại trụ sở Công ty thuộc thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, do khách hàng không yêu cầu xuất hóa đơn giá trị gia tăng khi mua hàng nên Nguyễn Kiều T (kế toán trưởng của Công ty) được sự đồng ý, thống nhất của Nguyễn Văn H đã không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa và thành phẩm, không kê khai nộp thuế GTGT, không đưa vào doanh thu, hạch toán vào chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản doanh thu 4.319.016.572 đồng (đã bao gồm thuế) là hành vi trốn thuế Theo quy định tại điều 143 luật Quản lý Thuế số 38/2019/QH14 ngày 13 tháng 6 năm 2019. Tổng số thuế đã trốn của Công ty TNHH C1 là: 392.106.613 đồng. Như vậy hành vi của Nguyễn Văn H và Nguyễn Kiều T đã phạm vào tội “Trốn thuế”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 200 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.

[3] Vụ án có đồng phạm nhưng chỉ đồng phạm giản đơn, không có phân công câu kết chặt chẽ. Đối với bị cáo Nguyễn Văn H là người khởi xướng, H đã chỉ đạo bị cáo Nguyễn Kiều T thực hiện hành vi phạm tội. Đối với Nguyễn Kiều T là người thực hành tích cực trong vụ án. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế nhà nước, làm suy giảm ngân sách nhà nước. Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là những người có trình độ, biết rõ hành vi trốn thuế là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ vụ lợi mà các bị cáo vẫn thực hiện tội phạm.

[4] Các bị cáo trốn thuế với số tiền 366.621.146 đồng nên phải chịu tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự “Số tiền trốn thuế từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 200 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, gồm: “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, khắc phục hậu quả”; “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Ngoài ra đối với Nguyễn Kiều T được hưởng thêm tình tiết: là phụ nữ đang mang thai; đối với Nguyễn Văn H được hương thêm tình tiết có nhiều đóng góp trong giúp đỡ các gia đình có hoàn cảnh khó khăn trong dịp mưa lũ 2020 ở xã K, thị xã K và ủng hộ đồng bào Miền Bắc khắc phục bão số 3 năm 2024 được UBMTTQ xác nhận.

[7] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 3 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có hoàn cảnh khó khăn, không bắt các bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hại cho xã hội. Hội đồng xét xử cần căn cứ Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo H, T hưởng án treo cũng đảm bảo nghiêm.

[8] Những vấn đề khác liên quan trong vụ án:

  • - Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn H1: Mặc dù là thành viên góp vốn của Công ty TNHH C1 với tỷ lệ vốn góp 45% tương ứng với số tiền 4.050.000 đồng và tham gia ký Điều lệ Công ty với tư cách là thành viên sáng lập. Tuy nhiên, trên thực tế, Nguyễn Văn H1 không trực tiếp tham gia điều hành hoạt động của Công ty, không nắm được thông tin về tình hình hoạt động của doanh nghiệp và không phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp; quá trình hoạt động công ty không tổ chức họp Hội đồng thành viên nên Nguyễn Văn H không trình báo cáo tài chính hằng năm lên Hội đồng thành viên. Bên cạnh đó, Điều lệ và hồ sơ đăng ký thuế của Công ty C1 xác định người đại diện theo pháp luật, Giám đốc của doanh nghiệp là Nguyễn Văn H. Quá trình hoạt động, Nguyễn Văn H là người có quyền quyết định các vấn đề có liên quan đến hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty. Do đó, Nguyễn Văn H1 không phạm tội.
  • - Đối với Nguyễn Thị T1, Phạm Thị A, Trần Thị H2, Nguyễn Thị T2 đều là nhân viên làm việc tại công ty, các cá nhân này chỉ tiếp nhận thông tin từ khách hàng, nhập thông tin khách hang, hàng hóa xuất bán theo yêu cầu và hưởng lương theo thỏa thuận; việc xuất hóa đơn khi bán hàng hóa và xây dựng hồ sơ khai thuế do Nguyễn Kiều T thực hiện mà các nhân viên của công ty không biết được thông tin trong hoạt động xuất hóa đơn, khai thuế. Do đó, Nguyễn Thị T1, Phạm Thị A, Trần Thị H2, Nguyễn Thị T2 không phạm tội.
  • - Đối với địa điểm kinh doanh của Công ty C1 có địa chỉ tại thôn A, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Quá trình điều tra có căn cứ xác định: Do hoạt động kinh doanh của địa điểm kinh doanh thua lỗ, năm 2021, Công ty dừng hoạt động của địa điểm kinh doanh. Từ tháng 07/2022 đến nay, địa điểm kinh doanh đăng ký hộ kinh doanh do Nguyễn Hải T12 (sinh ngày 22/07/1993, cư trú tại thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh) làm chủ hộ theo Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số: 2818006363 do Phòng tài chính - kế hoạch, UBND huyện C cấp, đăng ký lần đầu ngày 24/05/2021, đăng ký thay đổi lần thứ 1 ngày 11/07/2022; mọi hoạt động của hộ kinh doanh hoàn toàn độc lập, không trực thuộc Công ty C1.

[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội về kinh tế nên cần căn cứ vào Điều 35, khoản 4 Điều 200 Bộ luật hình sự để buộc bị cáo H phải chịu hình phạt bổ sung “phạt tiền” mới đảm bảo nghiêm. Đối với bị cáo Nguyễn Kiều T là phụ nữ đang mang thai, bên cạnh đó mối quan hệ giữa T và bị cáo H là vợ chồng của nhau nên Hội đồng xét xử miễn xét hình phạt bổ sung “phạt tiền” là phù hợp.

[10] Vật chứng vụ án và biện pháp tư pháp: Hội đồng xét xử cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử:

  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 392.106.613 đồng mà các bị cáo trốn thuế.
  • - 01 màn hình máy tính nhãn hiệu Kvision, 01 CPU nhãn hiệu KENOO, 01 bàn phím, 01 chuột có dây. Đây là tài sản của Công ty TNHH C1, sử dụng để nhập phần mền bán hang, do đó căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần trả lại cho Công ty TNHH C1 là phù hợp.

[11] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 200, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 65, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106, Điều 331, Điều 333, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo. Đối với bị cáo Nguyễn Văn H căn cứ thêm khoản 4 Điều 200, khoản 2, 3 Điều 35 Bộ luật hình sự, xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Kiều T phạm tội “Trốn Thuế”.
  2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xử phạt bị cáo Nguyễn Kiều T 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm

    Giao các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Kiều T cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương Ủy ban nhân dân xã K trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

  3. Về hình phạt bổ sung: Xử phạt bổ sung bằng tiền bị cáo Nguyễn Văn H 30.000.000 đ (Ba mươi triệu đồng), tiền Ngân hàng N phát hành.
  4. Về vật chứng vụ án và biện pháp tư pháp:
    • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 392.106.613 đ (ba trăm chín hai triệu, một trăm linh sáu ngàn, sáu trăm mười ba đồng) các bị cáo trốn thuế (số tiền này các bị cáo đã nộp tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh huyện Kỳ AnK1 theo biên lai thu tiền số 0002314, ngày 31/12/2024 và Giấy uỷ nhiệm chi số 6452, ngày 31/12/2024). Tiền sung công quỹ nhà nước các bị cáo đã nộp đủ.
    • - Trả lại cho Công ty TNHH C1 01 bộ máy tính để bàn gồm: 01 màn hình máy tính nhãn hiệu Kvision; 01 CPU nhãn hiệu KENOO; 01 bàn phím; 01 chuột có dây, thiết bị đã qua sử dụng. (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/02/2025)
  5. Về án phí: Xử buộc Nguyễn Văn H, Nguyễn Kiều T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Kỳ Anh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Công an Hà Tĩnh (PV 06);
  • - Phong PC 10, Công an tỉnh;
  • - Chi cục THADS huyện Kỳ Anh;
  • - Phòng nghiệp vụ TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu văn thư

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mạnh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HSST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về hình sự (trốn thuế)

  • Số bản án: 25/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trốn thuế)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H là người thành lập TNHH Cơ khí và Xây dựng HT, giữ chức vụ Giám đốc là người có quyền quyết định các vấn đề có liên quan đến hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty. Quá trình bán hàng hóa và thành phẩm (vật liệu và thiết bị phục vụ xây dựng…) tại trụ sở Công ty thuộc thôn Thanh Hòa, xã Kỳ Thư, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, do khách hàng không yêu cầu xuất hóa đơn giá trị gia tăng khi mua hàng nên Nguyễn Kiều Trang (kế toán trưởng của Công ty) được sự đồng ý, thống nhất của Nguyễn Văn H đã không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa và thành phẩm, không kê khai nộp thuế GTGT, không đưa vào doanh thu, hạch toán vào chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản doanh thu 4.319.016.572 đồng (đã bao gồm thuế) là hành vi trốn thuế Theo quy định tại điều 143 luật Quản lý Thuế số 38/2019/QH14 ngày 13 tháng 6 năm 2019. Tổng số thuế đã trốn của Công ty TNHH Cơ khí và Xây dựng Hoàng thịnh là: 392.106.613 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger