|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2025/HS-ST Ngày 25 - 02 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
- Các Hội thẩm nhân dân : Ông Lê Đăng Thiện
- Ông Nguyễn Văn Sâm
- - Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân .
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Hữu Tùng - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST - HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST - HS ngày 13/02/2025 đối với Bị cáo: Phạm Cao C, sinh ngày 27 tháng 7 năm 1988 tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Căn cước công dân số: [...], nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố A thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ Văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố: Phạm Hùng T (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1966; Gia đình có 03 anh em, Bị cáo là con thứ 3; Chưa có vợ con; Tiền sự: Không;
Tiền án:
- - Ngày 28/02/2008 bị Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 12 tháng tù về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo Bản án số 05/2008/HSST. Nộp án phí ngày 11/6/2008.
- - Ngày 23/9/2008 bị Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 39 tháng tù về tội: “Cướp tài sản” theo Bản án số 25/2008/HSST. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù của Bản án số 05/2008/HSST ngày 28/02/2008, hình phạt chung là 51 tháng tù. Chấp hành xong án phạt tù ngày 04/4/2012, nộp án phí ngày 20/11/2008.
- - Ngày 26/11/2015 bị Toà án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 24 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 87/2015/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/6/2017; Nộp án phí ngày 06/01/2016.
- - Ngày 08/8/2019 bị Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 49/2019/HSST với tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm”. Ngày 11/10/2024 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Nộp án phí ngày 10/10/2019.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/11/2024 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
Anh Lê Minh T1, sinh năm 1994. Vắng mặt
Địa chỉ: Phố B, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 19h 30' ngày 06/11/2024 tổ công tác của Công an huyện T phối hợp Công an thị trấn T phát hiên, bắt quả tang Phạm Cao C, sinh năm 1988, trú tại khu A thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đang cất giấu 01 khẩu trang y tế màu trắng, bên trong có 01 túi nilon, dạng túi zip có viền màu xanh, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng và 04 viên nén hình tròn màu xanh. C khai nhận các hạt tinh thể màu trắng là chất ma tuý loại Ketamine; 04 viên nén hình tròn màu xanh là chất ma tuý, loại thuốc Lắc của C cất giấu nhằm mục đích sử dụng. Lực lượng Công an đã tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong 01 túi nilon chứa ma tuý và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu đen, gắn sim số thuê bao 0343.710.686.
Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của C không phát hiện, thu giữ tài liệu, đồ vật gì.
Tại Cơ quan điều tra C khai nhận: Trưa ngày 02/11/2024 C một mình bắt xe Taxi từ nhà đi đến chùa B thuộc huyện G, tỉnh Ninh Bình chơi sau đó tiếp tục đi xe taxi đến thành phố N để tham quan phố cổ H. Khoảng 21h đến 22h ngày 02/11/2024 C tìm hiểu và đến quán Bar Q.L tại phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình để uống rượu, nghe nhạc tại tầng 2 của quán. Khi C đi vệ sinh tại nhà vệ sinh nam tầng 2 thì C thấy ở góc bồn cầu có 01 túi nilon dạng túi Zip có viền màu xanh. Trong túi nilon có chứa các hạt tinh thể màu trắng và 04 viên nén hình tròn, màu xanh. Bản thân C biết đó là ma tuý loại Ketamine và thuốc Lắc nên cầm lấy và cất vào người, sau đó C bắt T2 về nhà. Mục đích đem ma tuý về để sử dụng. Quá trình di chuyển C đều vẫy xe Taxi dọc đường nên không nhớ rõ hãng xe và biển số xe. Chiều ngày 06/11/2024 C bỏ số ma tuý vào khẩu trang màu trắng, cuộn tròn lại rồi để ở chân ghế đá trên vỉa hè đối diện nhà ở của C với mục đích tối sẽ tìm nơi để sử dụng. Đến 19h cùng ngày khi C ra vị trí cất giấu ma tuý để kiểm tra thì bị phát hiện, bắt giữ. C khai nhận từ khi có được ma tuý C chưa sử dụng lần nào và không có ai biết việc C cất giấu ma tuý.
Về nguồn gốc số ma túy: Căn cứ vào lời khai của C, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình xác định có quán Bar Q.L 135 do anh Lê Minh T1 sinh năm 1994. Địa chỉ: Phố B, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình làm quản lý. Kiểm tra hệ thống Camera an ninh của quán xác định không có dữ liệu ngày 02/11/2024. Anh T3 xác định tối ngày 02/11/2024 anh T3 quản lý hoạt động của quán và không quen biết Phạm Cao C, không thể xác định tối ngày 02/11/2024 C có đến quán hay không. Do không có hình ảnh dữ liệu liên quan đến vụ án nên không có căn cứ xử lý.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm các chất ma tuý đối với C, xác định C âm tính với chất ma tuý các loại Methamphetamine, H, nhóm Cần sa, thuốc Lắc và ketamine.
Cơ quan điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu phòng K Công an tỉnh T giám định số ma túy đã thu giữ của C.
Tại bản kết luận giám định số 4333/KL- KTHS ngày 13/11/2024 của phòng K Công an tỉnh T đã kết luận:
- - Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong mặt trước ghi “Ma tuý của Phạm Cao C” gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng là 0,945g, loại Ketamine.
- - 04 viên nén hình tròn, màu xanh của phong bì niêm phong mặt trước ghi “Ma tuý của Phạm cao C” gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng (trọng lượng) là 1,978g, loại Methamphetamine.
Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Ketamine so với mức tối thiểu đối với Ketamine được quy định tại điểm 1 khoản 2 điều 249 Bộ luật Hình sự là 4,725% (0,945g so với 20g).
Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Methamphetamine so với mức tối thiểu đối với Methamphetamine được quy định tại điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật Hình sự là 39,56% (1,978 gam so với 05 gam).
Tổng phần trăm các chất ma tuý: 4,725% + 39,56% = 44,285%.
Cơ quan điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu phòng K Công an tỉnh T giám định sinh học đối với mẫu vật là 01 khẩu trang y tế màu trắng.
Tại bản kết luận giám định số 4474/KL- KTHS ngày 22/11/2024 của phòng K Công an tỉnh T đã kết luận: Trên mẫu vật gửi giám định đều có tế bào người, do lượng tế bào ít nên không xác định được kiểu G.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu đen, gắn sim số thuê bao 0343.710.686 quá trình điều tra xác định không liên quan đến vụ án nên đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
Vật chứng của vụ án gồm: Một phong bì chứa mẫu vật còn lại sau giám định được dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ và tên của: Lê Minh T4, Lưu Bình N1, Nguyễn Đình Đ và các hình dấu của phòng K Công an tỉnh T. Bên trong phong bì là toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,872g các hạt tinh thể màu trắng; 03 viên nén hình tròn màu xanh có tổng khối lượng là 1,493g là mẫu vật còn lại sau giám định; Một phong bì chứa mẫu vật có mã số PS3A 108259, được dán kín niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ và tên của: Lưu Bình N1, Nguyễn Đình Đ và các hình dấu của phòng K Công an tỉnh T. Bên trong niêm phong 01 khẩu trang y tế màu trắng và 01 túi nilon màu trắng(dạng túi Zip). Hiện đang quản lý và nhập kho vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân.
Cáo trạng số 15/CT- VKSTX ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố Bị cáo Phạm Cao C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm o khoản 2 điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Bị cáo C khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố .
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Bị cáo: Phạm Cao C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Đề nghị áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Bị cáo Phạm Cao C;
Đề nghị HĐXX xử phạt Bị cáo Phạm Cao C từ 05(năm) năm 06(sáu) tháng đến 06(sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/11/2024. Không phạt bổ sung đối với Bị cáo.
Đề nghị HĐXX áp dụng diểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng gồm: Một phong bì chứa mẫu vật còn lại sau giám định được dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ và tên của: Lê Minh T4, Lưu Bình N1, Nguyễn Đình Đ và các hình dấu của phòng K Công an tỉnh T. Bên trong phong bì là toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,872g các hạt tinh thể màu trắng; 03 viên nén hình tròn màu xanh có tổng khối lượng là 1,493g là mẫu vật còn lại sau giám định; Một phong bì chứa mẫu vật có mã số PS3A108259, được dán kín niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ và tên của: Lưu Bình N1, Nguyễn Đình Đ và các hình dấu của phòng K Công an tỉnh T. Bên trong niêm phong 01 khẩu trang y tế màu trắng và 01 túi nilon màu trắng(dạng túi Zip); Buộc Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, Bị cáo đề nghị HĐXX cho Bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của Bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của Bị cáo tại cơ quan điều tra. Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Kết luận giám định; Lời khai của người làm chứng đều phản ánh thống nhất khách quan: Khoảng 19h 30' ngày 06/11/2024 Bị cáo Phạm Cao C có hành vi tàng trữ trái phép 0, 945g chất ma tuý, loại Ketamine và 1,978g ma tuý loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của Bị cáo Phạm Cao C đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị cáo C đã “Tái phạm” chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên Bị cáo C phải chịu tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm Hình sự là “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 điều 249 Bộ luật Hình sự.
Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Phạm Cao C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm o khoản 2 điều 249 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số 15/CT- VKSTX ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố Bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[ 3] Xét về tính chất của vụ án: HĐXX thấy rằng: Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng.
[ 4 ] Xét về mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của Bị cáo HĐXX thấy rằng: Hành vi của Bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của Bị cáo làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Ma túy là cầu nối của đại dịch HIV, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó cần phải xử phạt nghiêm minh mới đủ sức răn đe, giáo dục Bị cáo và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.
[5] Xét về nhân thân Bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: HĐXX thấy rằng:
Bị cáo C có đến 04 Tiền án: Ngày 28/02/2008 bị Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 12 tháng tù về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo Bản án số 05/2008/HSST. Nộp án phí ngày 11/6/2008; Ngày 23/9/2008 bị Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 39 tháng tù về tội: “Cướp tài sản” theo Bản án số 25/2008/HSST. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù của Bản án số 05/2008/HSST ngày 28/02/2008, hình phạt chung là 51 tháng tù. Chấp hành xong án phạt tù ngày 04/4/2012, nộp án phí ngày 20/11/2008; Ngày 26/11/2015 bị Toà án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 24 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 87/2015/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/6/2017; Nộp án phí ngày 06/01/2016; Ngày 08/8/2019 bị Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 49/2019/HSST với tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm”. Ngày 11/10/2024 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Nộp án phí ngày 10/10/2019.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Tại phiên tòa Bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS. HĐXX sẽ giảm nhẹ một phần hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.
[6]. Về hình phạt: HĐXX xét thấy Bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng và là Tội phạm về ma túy. Vì vậy HĐXX áp dụng hình phạt tù đối với Bị cáo, bắt Bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục Bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện hoàn cảnh gia đình của Bị cáo hiện tại kinh tế khó khăn, bản thân Bị cáo phải chấp hành hình phạt tù nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án gồm: Một phong bì chứa mẫu vật còn lại sau giám định được dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ và tên của: Lê Minh T4, Lưu Bình N1, Nguyễn Đình Đ và các hình dấu của phòng K Công an tỉnh T. Bên trong phong bì là toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,872g các hạt tinh thể màu trắng; 03 viên nén hình tròn màu xanh có tổng khối lượng là 1,493g là mẫu vật còn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên HĐXX căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy. Đối với một phong bì chứa mẫu vật có mã số PS3A108259, được dán kín niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ và tên của: Lưu Bình N1, Nguyễn Đình Đ và các hình dấu của phòng K Công an tỉnh T. Bên trong niêm phong 01 khẩu trang y tế màu trắng và 01 túi nilon màu trắng(dạng túi Z) là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội và là vật chứng không có giá trị nên HĐXX căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu huỷ.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
QUYẾT ĐỊNH:
Vì các lẽ trên,
- - Căn cứ: Điểm o khoản 2 điều 249; Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 đối với Bị cáo Phạm Cao C;
- - Tuyên bố: Bị cáo Phạm Cao C phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- - Xử phạt: Bị cáo Phạm Cao C 05(năm) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/11/2024.
- - Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy gồm: Một phong bì chứa mẫu vật còn lại sau giám định được dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ và tên của: Lê Minh T4, Lưu Bình N1, Nguyễn Đình Đ và các hình dấu của phòng K Công an tỉnh T. Bên trong phong bì là toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,872g các hạt tinh thể màu trắng; 03 viên nén hình tròn màu xanh có tổng khối lượng là 1,493g là mẫu vật còn lại sau giám định; Một phong bì chứa mẫu vật có mã số PS3A 108259, được dán kín niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ và tên của: Lưu Bình N1, Nguyễn Đình Đ và các hình dấu của phòng K Công an tỉnh T. Bên trong niêm phong 01 khẩu trang y tế màu trắng và 01 túi nilon màu trắng(dạng túi Zip).
- Toàn bộ số vật chứng trên thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 22 ngày 24/01/2025 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân .
- - Về án phí : Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH;
- Buộc Bị cáo Phạm Cao C phải nộp 200.000đ án phí HSST.
- - Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ - VKSND huyện Thọ Xuân; - VKSND tỉnh Thanh Hóa - THA dân sự; - THA hình sự Công an huyện Thọ Xuân - Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cường tàng trữ ma tuý
