Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI,

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HSST

Ngày: 20-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Đen;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Văn Công Trọn;

Ông Duyên Văn Hiền.

Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Nga Muội, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đồng Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Nguyên H; sinh ngày 10/10/1997; tại tỉnh Cà Mau; Nơi thường trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T, sinh năm 1974 và bà Dương Ngọc H1, sinh năm 1977; vợ: Lê Thị N, sinh năm 1997; con: có 01 người con 18 tháng tuổi; tiền án: Có 01 tiền án. Tại Bản án số: 66/2023/HS-ST ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/7/2024. Án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và khoản tiền nộp sung công quỹ Nhà nước 2.300.000 đồng chưa thi hành; Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Tại Bản án số: 111/2014/HS-ST ngày 14/10/2014 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.
  • + Tại Bản án số: 07/2015/HS-ST ngày 21/01/2015 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/8/2016.
  • + Tại Quyết định số: 06/2018/QĐ-TA ngày 17/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 16 tháng. Chấp hành xong quyết định ngày 04/5/2019.
  • + Tại Quyết định số: 18/2020/QĐ-TA ngày 29/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng. Chấp hành xong quyết định ngày 19/11/2021.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/9/2024 đến ngày 07/10/2024 chuyển tạm giam đến nay, tại Phân Trại tạm giam khu vực huyện T. Bị cáo bị tạm giam có mặt.

  • - Bị hại: Anh Nguyễn Thái L. Sinh năm: 2002 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: ấp N, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Chí T1. Sinh ngày: 13/5/2004 (xin vắng mặt).
  • Địa chỉ: Ấp C, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 16/9/2024, anh Nguyễn Thái L, sinh ngày 16/7/2002, ngụ: Ấp N, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter biển số kiểm soát 69N1-171.17 chở bạn là Nguyễn Văn K đi đến nhà “H2" (là bạn của K) chơi. Do đường vào nhà H2 đang sửa, nên anh L đậu xe tại bờ đê dưới dốc cầu đôi thuộc ấp F, xã T, huyện T, rồi cùng K đi bộ vào nhà H2 cách nơi đậu xe khoảng 100 mét. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Dương Nguyên H một mình đi bộ đến khu vực giữa cầu đôi phát hiện xe mô tô của anh L đậu không có người trông coi, nên H nảy sinh ý định lấy trộm xe của anh L đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Để thực hiện ý định, H đi đến xe anh L giật dây Max của xe rồi nổ máy điều khiển xe chạy về nhà tại ấp B, xã T, huyện T cất giấu. Sau đó, H liên lạc với Nguyễn Chí T1, sinh năm 2004, ngụ: Áp C, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu để thỏa thuận bán xe lấy trộm của anh L cho T1 và chụp hình chiếc xe gửi qua Z cho T1 xem, T1 hỏi xe từ đâu có để bán thì H nói xe của thằng bạn thiếu nợ không có tiền trả nên đưa xe cho H trừ nợ, nhưng xe không có giấy tờ, T1 nói xe không có giấy tờ T1 không mua, thì H nói xe không có tranh chấp, nếu có gì thì H lo hết, nên T1 đồng ý mua và kêu H mang xe đến nhà T1 để T1 xem xe trực tiếp nếu được thì mua.

Đến khoảng 20 giờ ngày 17/9/2024, H điều khiển xe trộm của anh L đến nhà Bùi Trung T2 (anh rể của H), ngụ: Ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu cách nhà T1 khoảng 04km. Hạo nhờ T2 dẫn vào nhà T1 vì H đã quên đường vào nhà T1 thì T2 đồng ý. Đến khoảng 00 giờ ngày 18/9/2024, H và T2 tới nhà T1, H bán xe cho T1 được số tiền 4.300.000 đồng, rồi quay về nhà T2 ngủ đến khoảng 06 giờ cùng ngày T2 điều khiển xe của T2 đưa H về nhà H. Tiền bán xe H dùng mua sữa và tả cho con của H hết khoảng 1.500.000 đồng, số còn lại Hạo chi xài cá nhân hết.

Đến ngày 20/9/2024, Nguyễn Chí T1 liên hệ với bạn là “Chí Vinh" (không rõ nhân thân lai lịch) nhà ở tỉnh Bến Tre bán xe 69N1-171.17 cho V với giá 7.700.000 đồng, trước khi bán xe cho V, T1 thấy biển số xe đẹp nên tháo ra giữ lại để gắn vào xe khác.

Anh Nguyễn Thái L, sau khi phát hiện mất xe đã đi tìm nhưng không gặp. Đến ngày 28/9/2024, anh L đến Công an xã T, huyện T trình báo. Cùng ngày, Dương Nguyên H đến Công an xã T đầu thú thừa nhận toàn bộ hành vi lấy trộm xe của L.

Kết quả định giá: Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 35/KL-ĐGTS ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân huyện T, kết luận: 01 chiếc xe máy Yamaha Exciter biển số đăng ký 69N1-171.17 (số máy 1592009674; số khung S9206Y009674); tháng 02 năm 2022 sửa chữa, nâng cấp với số tiền 22.000.000 đồng. Giá trị còn lại tính đến ngày 16/9/2024 là 75% x 22.000.000 đồng = 16.500.000 đồng.

- Tài liệu, độ vật thu giữ và xử lý trong vụ án: 01 biển số xe mô tô 69N1-171.17. Đang được bảo quản chờ xử lý theo quy định pháp luật.

Trách nhiệm dân sự: Giai đoạn điều tra bị hại Nguyễn Thái L yêu cầu bị cáo Dương Nguyên H bồi thường giá trị chiếc xe bị chiếm đoạt theo định giá là 16.500.000 đồng. Bị cáo chưa bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau truy tố Dương Nguyên H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Nguyên H từ 09 tháng tù đến 18 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Dương Nguyên H có trách nhiệm bồi thường thiệt hại số tiền 8.800.000 đồng cho người bị hại anh Nguyễn Thái L.

Bị cáo Dương Nguyên H có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Chí T1 số tiền bán xe là 4.300.000 đồng.

Anh Nguyễn Chí T1 có nghĩa vụ giao nộp số tiền 7.700.000 đồng cho Cơ quan thi hành án để khắc phục hậu quả cho người bị hại anh Nguyễn Thái L.

Về xử lý vật chứng: Trả lại 01 (Một) biển số xe mô tô 69N1-171.17.

Tại phiên tòa, bị cáo H thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo không tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát, chỉ yêu cầu Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo và phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T3 và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, những người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Để có tiền chi xài cá nhân. Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 16/9/2024, tại khu vực bờ đê dưới dốc cầu đôi thuộc ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau, bị cáo Dương Nguyên H lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của anh Nguyễn Thái L, bị cáo H đã lén lút chiếm đoạt của anh L một xe mô tô nhân hiệu Yamaha Exciter, biển số kiểm soát 69N1-171.17 đem bán cho Nguyễn Chí T1 được số tiền 4.300.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Tài sản thiệt hại theo định giá là 16.500.000 đồng.

Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Dương Nguyên H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T3 truy tố bị cáo là có căn cứ.

Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

"Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: ...”

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, tại Bản án số: 66/2023/HS-ST ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/7/2024. Án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và khoản tiền nộp sung công quỹ Nhà nước 2.300.000 đồng chưa thi hành, tính đến lần phạm tội này chưa được xóa án tích nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Mặc khác, bị cáo có nhân thân không tốt, có 02 lần phạm tội trộm cắp tài sản và 02 lần bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Quá trình điều tra: Bị cáo Dương Nguyên H thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; sau khi phạm tội bị cáo ăn năn hối cải nên ra đầu thú, bị cáo có con còn nhỏ, có trình độ học vấn thấp, là lao động chính trong gia đình là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về hình phạt: Bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến tài sản của người bị hại, gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương, tính đến lần phạm tội này chưa được xóa án tích nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” và bị cáo có nhân thân không tốt, có 02 lần phạm tội trộm cắp tài sản, điều đó cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo không cao cùng một tội trộm cắp mà bị cáo lại phạm nhiều lần, gây dư luận xã hội, trước trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của bị cáo gây ra. Vì vậy, sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian hợp lý để giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Giai đoạn điều tra bị hại Nguyễn Thái L yêu cầu bị cáo Dương Nguyên H bồi thường giá trị chiếc xe bị chiếm đoạt theo định giá là 16.500.000 đồng. Bị cáo chưa bồi thường.

Đối với anh Nguyễn Chí T1 liên hệ với bạn là “Chí Vinh" (không rõ nhân thân lai lịch) nhà ở tỉnh Bến Tre bán xe 69N1-171.17 cho V với giá 7.700.000 đồng, quá trình điều tra anh Nguyễn Chí T1 đồng ý giao nộp số tiền bán xe 7.700.000 đồng để khắc phục hậu quả cho người bị hại và yêu cầu bị cáo Dương Nguyên H trả cho anh số tiền 4.300.000 đồng, căn cứ vào khoản 2, Điều 47 Bộ luật hình sự: “Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp” nên anh Nguyễn Chí T1 phải có trách nhiệm giao nộp số tiền này cho cơ quan thi hành án để khắc phục một phần hậu quả cho người bị hại.

Do đó, bị cáo Dương Nguyên H phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại số tiền còn lại cho người bị hại Nguyễn Thái L là 16.500.000 đồng – 7.700.000 đồng = 8.800.000 đồng.

Bị cáo Dương Nguyên H có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Chí T1 số tiền bán xe là 4.300.000 đồng.

Anh Nguyễn Chí T1 có nghĩa vụ giao nộp số tiền 7.700.000 đồng cho Cơ quan thi hành án để khắc phục hậu quả cho người bị hại anh Nguyễn Thái L.

[5] Về vật chứng trong vụ án: 01 biển số xe mô tô 69N1-171.17, người bị hại yêu cầu được nhận lại biển số xe, nên Hội đồng xét xử xem xét trả lại biển số xe cho người bị hại, người bị hại có trách nhiệm liên hệ với cơ quan chức năng để đăng ký việc sử dụng biển số xe đúng theo quy định của pháp luật.

[6] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T4 về án phí và lệ phí Tòa án bị cáo H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, khoản 2 Điều 47, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Tuyên bố bị cáo Dương Nguyên H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Dương Nguyên H 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 28/9/2024.

  3. Về trách nhiệm dân sự:
  4. Bị cáo Dương Nguyên H có trách nhiệm bồi thường thiệt hại số tiền 8.800.000 đồng cho người bị hại anh Nguyễn Thái L.

    Bị cáo Dương Nguyên H có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Chí T1 số tiền bán xe là 4.300.000 đồng.

    Anh Nguyễn Chí T1 có nghĩa vụ giao nộp số tiền 7.700.000 đồng cho Cơ quan thi hành án để khắc phục hậu quả cho người bị hại anh Nguyễn Thái L.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người bị thi hành án không thi hành xong khoản tiền nêu trên thì phải chịu khoản tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

  5. Về xử lý vật chứng: Trả lại 01 (Một) biển số xe mô tô 69N1-171.17 cho người bị hại Nguyễn Thái L.
  6. Hiện trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14 tháng 01 năm 2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời.

  7. Về án phí: Bị cáo Dương Nguyên H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 440.000 đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Trần Văn Thời;
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - CQ CSĐT Công an H. Trần Văn Thời;
  • - CC THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Phòng KTNV&THA tỉnh Cà Mau;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Văn Đen

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HSST ngày 20/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 25/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger