|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2025/HS-PT Ngày: 18/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng;
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thái Lan và bà Vũ Ngọc Hà;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên Trung cấp.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 125/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Đức G, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 50/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hoà, tỉnh Phú Yên.
- Bị cáo có kháng cáo: Bùi Đức G; sinh năm 1990; Nơi cư trú: khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nông; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Bùi Đức D, sinh năm 1963 và bà: Nguyễn Thị Tùng L, sinh năm 1959; Có vợ: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1994 và 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 6 năm 2018, vợ chồng Đinh Văn L1 mua máy cày hiệu KUBOTA để cày ruộng, L1 biết rõ muốn điều khiển máy cày phải có giấy phép điều khiển theo quy định. L1 với Bùi Đức G có mối quan hệ họ hàng, đầu tháng 7 năm 2023, L1 thuê và giao cho G (không có chứng chỉ hoặc bằng điều khiển máy kéo nông nghiệp) điều khiển máy cày của L1.
Ngày 12/7/2023, L1 yêu cầu G điều khiển máy cày cày ruộng cho chị của L1 tại thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, tại K đường Q thuộc thôn P (đoạn đường thẳng có dãi phân cách cứng chia thành 02 phần đường), G điều khiển máy cày lưu hành ngược chiều theo hướng N – Bắc trên phần đường hướng Bắc – N về lại ruộng của L1, lúc này Nguyễn Công P điều khiển xe mô tô biển số 78H7 – 8545 của Phi lưu hành đúng chiều đi trên phần đường hướng Bắc – Nam va chạm với máy cày do G điều khiển, hậu quả P chết tại hiện trường, xe mô tô bị hư hỏng.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 170/KLGĐTP – PYPY ngày 10/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: nguyên nhân chết của Nguyễn Công P do chấn thương ngực phổi, nồng độ cồn trong máu của P 251,29MG/100ml.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 50/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hoà, tỉnh Phú Yên đã tuyên bị cáo Bùi Đức G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Áp dụng: điểm a khoản 2 điều 260 BLHS; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 BLHS; Xử phạt: Bị cáo Bùi Đức G 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phạt đối với bị cáo Đinh Văn L1; xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 21/11/2024; bị cáo Bùi Đức G kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Đức G vẫn giữ nguyên kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Đức G tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo L1 và người làm chứng về thời gian, địa điểm phạm tội, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 12/7/2023, tại K đường Q thuộc thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên, Bùi Đức G không có giấy phép lái xe theo quy định, đã điều khiển máy kéo nông nghiệp đi không đúng phần đường quy định gây tai nạn giao thông làm Nguyễn Công P chết. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 58, Điều 9 Luật Giao thông đường bộ nên cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo Bùi Đức G về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điểm a, Khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo, hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả làm chết một người, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Khi lượng hình, án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù và không cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo nhưng không phát sinh tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, mà chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
[4] Bị cáo Bùi Đức G kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm;
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Đức G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Về hình phạt: Áp dụng Điểm a, Khoản 2 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Bùi Đức G – 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Bùi Đức G phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Hùng |
Bản án số 25/2025/HS-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 25/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi ĐỨc G
