Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 25/2025/HS-ST

Ngày: 28 - 11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Tào và bà Trần Thị Toàn

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thạch - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 28/11/2025, tại Điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2025/TLST-HS ngày 22/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 13/11/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Đức D. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 26 tháng 12 năm 1993, tại xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Cư trú: thôn K, xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Số CCCD [...], cấp ngày 28/9/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: Lớp 7/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng. Con ông: Hoàng Văn T, sinh năm: 1955 và con bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1961. Bố và mẹ đều cư trú tại thôn K, K, tỉnh Hà Tĩnh. Anh, chị, em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ nhất. Vợ Hồ Thị Thúy Q (đã ly hôn). Con có 01 đứa sinh năm 2015.

- Tiền án: Không.

- Tiền sự: Ngày 16/12/2022, Hoàng Đức D bị Toà án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh (nay là Toà án nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh) ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng, chấp hành xong ngày 20/8/2024.

- Nhân thân:

Ngày 16/6/2009, Hoàng Đức D bị Công an huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (Cũ) xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 08/QĐ-XPHC.

2

Ngày 13/11/2020, Hoàng Đức D bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh (Nay là Toà án nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh) xử phạt 15 tháng tù, theo Bản án số 26/2020/HSST, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đã chấp hành xong hình phạt ngày 19/9/2021 và chấp hành xong bản án, đương nhiên xóa án tích.

Ngày 12/10/2025 Hoàng Đức D bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H khởi tố bị can về tội Sử dụng trái phép chất ma tuý tại Quyết định số A60/QĐ-CSMT, theo Quyết định khởi tố vụ án số A48/QĐ-CSMT ngày 12/10/2025. Vụ án hiện nay đang điều tra làm rõ.

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo Hoàng Đức D bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, tại Phân trại tạm giam Kỳ A, Trại tạm giam Công an tỉnh H từ ngày 21/8/2025 cho đến nay. (có mặt)

* Người bị hại:

  • + Ông Võ Thành D1, sinh năm: 1963; Cư trú: Thôn S, xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt).
  • + Bà Dương Thị N, sinh năm: 1968; Cư trú: Thôn S, xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (vắng mặt).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Nguyễn Tiến B, sinh năm: 1960; Cư trú: Thôn L, xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt)
  • + Bà Cao Thị T2, sinh năm: 1965; Cư trú: Thôn L, xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do (vắng mặt)
  • + Ông Hoàng Văn T, sinh năm: 1955; Cư trú: Thôn K, xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (có mặt)
  • + Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1961; Cư trú: Thôn K, xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (có mặt)

*Tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh H hỗ trợ phiên tòa gồm: Đồng chí Đinh Văn S - Tổ trưởng tổ dẫn giải; chức vụ: Thiếu tá.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 17/7/2025, Hoàng Đức D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38H4-8328 từ nhà đi theo đường Q hướng ra B để chơi. Khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đi qua cửa hàng thu mua thóc của vợ chồng ông Võ Thành D1 (sinh năm 1963) và bà Dương Thị N (sinh năm 1968), tại thôn S, xã K, tỉnh Hà Tĩnh, Hoàng Đức D thấy cửa hàng mở cửa nhưng không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp thóc bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hoàng Đức D dừng xe mô tô trước cửa hàng, lên tiếng gọi nhưng không ai trả lời, liền đi bộ vào trong lấy trộm hai bao thóc mang đặt lên xe rồi chở đi theo đường Q hướng ra B tìm nơi tiêu thụ. Khi đi đến cửa hàng thu mua lúa của ông Nguyễn Tiến B (sinh năm 1960, ở cùng thôn S), D dừng lại và thoả thuận bán hai bao thóc trên cho ông B

3

với giá 500.000 đồng. Sau đó, Hoàng Đức D quay lại cửa hàng của vợ chồng ông D1, lấy trộm thêm ba bao thóc và chở đến bán tiếp cho ông B với giá 750.000 đồng. Lần thứ ba, với thủ đoạn tương tự, D tiếp tục lấy trộm ba bao thóc khác của vợ chồng ông D1 và bán cho ông B cũng với giá 750.000 đồng. Lần thứ tư, khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày, sau khi bán thóc xong lần thứ ba, Hoàng Đức D quay lại cửa hàng của gia đình ông D1 lấy trộm thêm hai bao thóc mang đến bán cho ông B. Đến khoảng 12 giờ 50 phút, vợ chồng ông Võ Thành D1 và bà Dương Thị N phát hiện có một nam thanh niên vừa chở thóc đi từ cửa hàng ra. Nghi ngờ bị mất trộm, ông D1 và bà N lấy xe mô tô đuổi theo thì thấy Hoàng Đức D đang bán thóc cho ông B. Khi được hỏi nguồn gốc số thóc, D thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của vợ chồng ông D1, bà N và xin được tha thứ. Nghĩ chỉ bị mất hai bao thóc, nên vợ chồng ông D1 lấy lại thóc rồi cho D về. Sau đó, kiểm tra camera an ninh, vợ chồng ông D1 phát hiện bị mất thêm tám bao thóc, nên ngày 19/7/2025 ông D1 làm đơn trình báo gửi Công an xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Ngày 20/7/2025, Công an xã K triệu tập Hoàng Đức D đến làm việc. Tại cơ quan công an, Hoàng Đức D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội trộm cắp của vợ chồng ông Võ Thành D1 và bà Dương Thị N gồm 10 bao thóc với tổng khối lượng 409kg.

Theo kết luận định giá tài sản số 579/KL-HĐĐG ngày 14/8/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Hà Tĩnh kết luận: 10 bao thóc, loại xuân mai, có khối lượng 409 kilôgam, tổng giá trị là 3.067.000 đồng.

* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng: Công an xã K, tỉnh Hà Tĩnh đã tiến hành thu giữ các vật chứng gồm:

  • Một xe mô tô nhãn hiệu HALIM, biển kiểm soát 38H4-8328, màu xanh, số khung VHMDCG024UM006424, số máy VLFHMCT10006324, thu của Hoàng Đức D. Hiện nay đã trả lại cho chủ sở hữu ông Hoàng Văn T.
  • 10 bao thóc, vỏ bao màu đỏ và có in chữ UREA, (Trong đó 08 bao thu của ông Nguyễn Tiến B và 02 bao thu của ông Võ Thành D1). Hiện nay đã trả lại cho chủ sở hữu ông Võ Thành D1.

* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại 10 bao thóc bị mất trộm, vợ chồng ông Võ Thành D1 không yêu cầu bồi thường. Ông Nguyễn Tiến B yêu cầu bị cáo Hoàng Đức D trả lại số tiền mua thóc 2.000.000 đồng, quá trình điều tra bị cáo D đã tác động với gia đình bồi thường đầy đủ cho ông B. Nay vợ chồng ông D1 và ông B không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Với hành vi trên, tại cáo trạng số: 03/CT-VKS- KV2, ngày 21 tháng 10 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Hoàng Đức Dũng về tội “Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Tại điểm cầu thành phần bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố, không có ý kiến tranh luận gì về tội danh, hình phạt chính.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173,

4

điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Hoàng Đức D từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 21/8/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình xã hội. Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì thêm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật; Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì. Vì vậy các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hoàng Đức D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Trưa ngày 17/7/2025, bị cáo D đã sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 38H4-8328 của bố là ông Hoàng Văn T (ông T không biết bị cáo tự ý sử dụng xe) đi ngang cửa hàng thu mua thóc của vợ chồng ông Võ Thành D1 thấy không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Trong khoảng gần một giờ, bị cáo D đã nhiều lần lén lút trộm cắp tổng 10 bao thóc, trọng lượng 409 kg, trị giá 3.067.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được số thóc trên, bị cáo D chở 08 bao thóc bán cho cửa hàng thu mua thóc của ông Nguyễn Tiến B được 2.000.000đồng để chi tiêu cá nhân; 02 bao thóc còn lại đang bán chưa kịp nhận tiền thì bị ông D1 và bà N phát hiện, thu giữ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh truy tố bị cáo Hoàng Đức D về tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về tính chất hành vi phạm tội và căn cứ quyết định hình phạt:

5

Trên cơ sở xem xét toàn diện tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận định: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác và ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo có tiền sự nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần áp dụng đối với bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian nhất định nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần cho bị cáo vì đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thành khẩn khai báo. Xét thấy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Hoàng Đức D không có việc làm ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì. Bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường đầy đủ cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Do bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp nên Hội đồng xét xử miễn xem xét.

[8] Về các nội dung khác: Ông Hoàng Văn T chủ sở hữu của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38H4-8328. Tuy nhiên khi bị cáo D sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội thì ông T không biết, không tham gia nên không có căn cứ để xử lý.

[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Đức D phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Đức D 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từng ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 21/8/2025).
  3. Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Đức D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng PC 10 Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND khu vực 2 - Hà Tĩnh;
  • - Trại tạm giam Công an Hà Tĩnh;
  • - THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ, VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Trang Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ TĨNH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Đức D phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger