TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2025/HS-ST Ngày 27 tháng 02 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quốc Việt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hùng Bích – Cán bộ về hưu và ông Trần Thanh Việt – Chuyên viên phòng giáo dục thành phố Long Xuyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Tùng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 02/TB-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
- Phạm Văn S (tên gọi khác: Cu Đ), sinh ngày 20/9/2007 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Số D, đường số B, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C (đã chết) và bà Đặng Thị Mai H; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 29 tháng 5 năm 2024 đến ngày 05 tháng 9 năm 2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giam. Cùng ngày bị cáo bị bắt tạm giam trong vụ án “Cố ý gây thương tích”, “Gây rối trật tự công cộng” cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. (có mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo S: Bà Đặng Thị Mai H, sinh năm 1979. Địa chỉ: Số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn S: Trợ giúp viên pháp lý ông Hà Quang V - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (có mặt)
- Trần Thanh T, sinh ngày 06/4/2008 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Số E, Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở: Tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh D và bà Trương Thị M; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 29 tháng 5 năm 2024 đến ngày 05 tháng 9 năm 2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giam. Cùng ngày bị cáo bị bắt tạm giam trong vụ án “Cố ý gây thương tích”, “Gây rối trật tự công cộng” cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. (có mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo T: Ông Trần Thanh D, sinh năm 1974 và bà Trương Thị M, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số E, đường số E, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (có mặt bà M, vắng mặt ông D)
Người bào chữa cho bị cáo Trần Thanh T: Trợ giúp viên pháp lý ông Hà Quang V - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (có mặt)
- Hồ Thái T1, sinh ngày 02/03/2006 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Số I, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; chỗ ở: Số B, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn T2 và bà Phan Thị T3; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 14/5/2024, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên 01 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Thời điểm phạm tội T1 là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, bị kết án về tội nghiêm trọng nên được coi là không có án tích theo quy định tại Điều 107 Bộ luật hình sự.
Bị cáo đang chấp hành án theo bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 14/5/2024, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên. (có mặt)
- Cao Trí K, sinh ngày 20/01/2006 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Số F, đường P, Khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Minh T4 và bà Lê Thị Bích T5; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không. Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 180/2024/HSST ngày 19/11/2024, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (thực hiện hành vi phạm tội ngày 02/4/2024). Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSTN ngày 23/01/2025 truy tố bị cáo Thái Minh Q về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (thực hiện hành vi phạm tội ngày 28/5/2024).
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20 tháng 8 năm 2024 đến nay trong vụ án khác tại Nhà tạm giữ Công an quận T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Thái Minh Q, sinh ngày 08/7/2006 tại thành phố Cần Thơ; nơi đăng ký thường trú: Ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Minh N và bà Nguyễn Thị L; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không. Nhân thân: Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSTN ngày 23/01/2025 truy tố bị cáo Thái Minh Q về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 và “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (thực hiện hành vi phạm tội ngày 28/5/2024).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01 tháng 11 năm 2024 đến nay. (có mặt)
- Nguyễn Minh T6, sinh ngày 10/10/2006 tại Quận T, thành phố Cần Thơ; nơi đăng ký thường trú: Khu vực T, phường T, Quận T, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh H1 và bà Lê Thị Ngọc G; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không. Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSTN ngày 23/01/2025 truy tố bị cáo Thái Minh Q về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (thực hiện hành vi phạm tội ngày 28/5/2024)
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01 tháng 11 năm 2024 đến nay. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1971. Địa chỉ: Ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Giữa hai nhóm thanh niên Phạm Văn S (C), phường M và Nguyễn Hữu Đ2 (Bi nhỏ), phường M có mâu thuẫn với nhau nên hẹn đánh nhau để giải quyết mâu thuẫn. Đến khoảng 03 giờ 15 phút, ngày 27 tháng 5 năm 2024, nhóm của Phạm Văn S gồm 04 người: S và Trần Thanh T, Nguyễn Trần Phú S1 (sinh ngày 19 tháng 8 năm 2009) và Gia H2 (chưa rõ nhân thân) mang theo các cây dao phóng lớn đi trên 02 xe mô tô (không rõ biển số). Nhóm của Nguyễn Hữu Đ2 gồm khoảng 20 người: Đ2 và Hồ Thái T1, Cao Trí K, Thái Minh Q, Nguyễn Minh T6, Duy N1, Thành D1, H và nhiều đối tượng khác chưa rõ nhân thân đi nhiều xe mô tô mang theo búa, dao tự chế, chai bia.
Khi đến khu vực chân cầu N, phường M hai nhóm gặp nhau, nhóm Đ2 dùng vỏ chai bia thủy tinh ném vào nhóm của S1 làm nhóm S1 bỏ chạy, nhóm Đ2 tiếp tục truy đuổi. T6 điều khiển xe mô tô chở K gặp anh Đ1 điều khiển xe mô tô biển số 67D1-186.08 đi giao gà, K đã dùng dao tự chế chém nhiều nhát vào đầu đèn, chắn bùn gây hư hỏng với tổng trị giá 100.000 đồng. Nhóm S1 tiếp tục truy đuổi đến khu vực chân cầu T, phường M thì hai nhóm cầm hung khí xông vào đuổi, đâm chém nhau, gây náo loạn, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Nhóm Đ2 bỏ chạy để lại xe mô tô 67D2-152.66 thì nhóm Văn S, T, P, Gia H2 dùng dao đâm chặt chém làm hư hỏng xe. Phú Sang lấy mang đi 01 đuôi gắn biển số 67D2-152.66, đối với xe biển số 67D2-152.66 không thu hồi được, không xác định được tổng giá trị tài sản bị hư hỏng, chỉ xác định được giá trị hư hỏng đuôi gắn biển số 67D2-152.66 là 101.250 đồng. Do nhóm của S cầm dao phóng lợn dài khoảng 2,2 m quơ nên nhóm của Đ2 không dám xông vào, hai bên la hét sau đó nhóm Đ2 bỏ chạy.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, Phú S1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình. Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L có văn bản đề nghị xử lý nghiêm minh hành vi “Gây rối trật tự công cộng” của các đối tượng trên.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô biển số 67D1- 186.08, nhãn hiệu Honor, màu đỏ của anh Nguyễn Văn Đ1; 01 đuôi xe còn gắn biển số 67D2- 152.66; 01 biển số xe 67M1- 368.49; 01 cây dao phóng lợn có thanh sắt tròn dài 2 mét, lưỡi dao dài 20 cm, tổng chiều dài 2,2 mét; nhiều mảnh vỡ chai thuỷ tinh.
Tại kết luận định giá tài sản số 1777/KL-HĐĐGTS ngày 01 tháng 10 năm 2024 kết luận: 01 ốp đầu đèn, 01 đuôi chắn bùn xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honor, kiểu dáng xe Wave, màu đỏ, số máy VKV1P52FMHR047759, số khung VKVDCH075UM407759, biển số 67D1-186.08 tổng trị giá 100.000 đồng.
Tại kết luận định giá tài sản số 1931/KL-HĐĐGTS ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự trên địa bàn thành phố L: 01 đuôi gắn biển số 67D2- 152.66 trị giá 101.250 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Đ1 đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường, đối với đuôi gắn biển số 67D2-152.66 theo phiếu trả lời xác minh là chủ xe là Nguyễn Văn T7, T7 khai xe đã bán cho người khác không rõ nhân thân.
Tại Cáo trạng số: 25/CT-VKSLX ngày 06 tháng 01 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố Phạm Văn S, Trần Thanh T, Hồ Thái T1, Cao Trí K, Thái Minh Q, Nguyễn Minh T6 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự 2015.
Đối với Gia H2, Duy N1, Thành D1, H1 Lê không rõ nhân thân và Nguyễn Đỗ Kim C1 đủ chứng cứ, tài liệu chứng minh hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục xác minh điều tra xử lý sau.
Đối với Nguyễn Trần Phú S1, sinh ngày 10 tháng 7 năm 2009, Nguyễn Hữu Đ2, sinh ngày 08 tháng 10 năm 2008 dùng dao tự chế chém đứt đuôi xe có gắn biển số 67D2-152.66 trị giá 101.250 đồng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý làm hư hỏng tài sản và chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về hành vi gây rối trật tự công cộng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan đến Công an phường M xem xét xử lý hành chính theo quy định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Văn S, Trần Thanh T, Hồ Thái T1, Cao Trí K, Thái Minh Q, Nguyễn Minh T6 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên, phù hợp lời khai của người liên quan.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt: Bị cáo Hồ Thái T1, Cao Trí K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 101, Điều 90, Điều 91 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt: Bị cáo Phạm Văn S, Trần Thanh T, Thái Minh Q, Nguyễn Minh T6 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy: 01 biển số xe 67M1- 368.49, 01 đuôi xe còn gắn biển số 67D2- 152.66, 01 cây dao phóng lợn và nhiều mảnh vỡ chai thuỷ tinh.
Trợ giúp viên pháp lý Hà Quang V bào chữa cho bị cáo Phạm Văn S và bị cáo Trần Thanh T: Về tội danh thống nhất quan điểm truy tố của VKS. Về hình phạt: Đề nghị HĐXX xem xét áp dụng các nguyên tắc đối với người chưa thành niên phạm tội đối bị cáo Phạm Văn S và bị cáo Trần Thanh T. Đề nghị áp dụng mức hình phạt thấp nhất đối với các bị cáo nhằm tạo cơ hội cho các bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng.
Các bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.
- Tại phiên tòa, người liên quan vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không trở ngại đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- Những đối tượng liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nhưng chưa xác định được nhân thân, kiến nghị cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau theo quy định pháp luật.
- Về nội dung:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Văn S, Trần Thanh T, Hồ Thái T1, Cao Trí K, Thái Minh Q, Nguyễn Minh T6 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 03 giờ 15 phút, ngày 27 tháng 5 năm 2024, các bị cáo Phạm Văn S, Trần Thanh T, Hồ Thái T1, Cao Trí K, Thái Minh Q, Nguyễn Minh T6 đã dùng dao phóng lợn, búa, vỏ chai bia, dao tự chế là hung khí nguy hiểm đi trên nhiều xe mô tô truy đuổi, đánh nhau, la hét tại khu vực chân cầu N và Tôn Đức T8 thuộc phường M, thành phố L. Đồng thời, dùng dao chém vào xe biển số 67D1-186.08 của anh Đ1 gây thiệt hại trị giá 100.000 đồng, gây thiệt hại đuôi xe gắn biển số 67D2.152.66 trị giá 101.250 đồng. Hành vi của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Hành vi của các bị cáo Phạm Văn S, Trần Thanh T, Hồ Thái T1, Cao Trí K, Thái Minh Q, Nguyễn Minh T6 đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt phạt tù từ 02 năm đến 07 năm (tội phạm nghiêm trọng).
- Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, khi cả 02 nhóm đều mang theo hung khí xông vào đuổi chém nhau, gây náo loạn khu vực trong khoảng thời gian gần sáng, xâm phạm đến trật tự an ninh xã hội, ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt ổn định bình thường của cộng đồng. Bản thân các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy, cần phải xét xử thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
- Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải. Đây là tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật, các bị cáo có nhân thân xấu ngoài lần phạm tội này còn thực hiện các lần phạm tội khác liên quan đến hành vi cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng. Điều đó chứng tỏ các bị cáo là người rất xem thường pháp luật nên việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đồng thời, tại thời điểm phạm tội các bị cáo S, T, Q, T6 là người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nên có xem xét áp dụng mức hình phạt tù không quá ¾ mức phạt tù mà điều luật quy định, đảm bảo nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Đồng thời, vai trò phạm tội và nhân thân các bị cáo tương đương nhau nên mức án ngang nhau.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) biển số xe 67M1 – 368.49 và 01 đuôi xe còn gắn biển số 67D2 – 152.66; 01 cây dao phóng lợn có thanh sắt tròn dài 02 mét, lưỡi dao dài 20 cm, tổng chiều dài 2,2 mét và nhiều mãnh vỡ thủy tinh là công cụ dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Về trách nhiệm dân sự:
Anh Đ1 đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét đến.
- Về các vấn đề khác:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn S, Trần Thanh T, Hồ Thái T1, Cao Trí K, Thái Minh Q, Nguyễn Minh T6 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90, Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Phạm Văn S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, thời gian tạm giam (từ ngày 29 tháng 5 năm 2024 đến ngày 05 tháng 9 năm 2024) được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90, Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, thời gian tạm giam (từ ngày 29 tháng 5 năm 2024 đến ngày 05 tháng 9 năm 2024) được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Hồ Thái T1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Cao Trí K 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90, Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Thái Minh Q 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90, Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T6 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
01 (một) biển số xe 67M1 – 368.49 và 01 đuôi xe còn gắn biển số 67D2 – 152.66; 01 cây dao phóng lợn có thanh sắt tròn dài 02 mét, lưỡi dao dài 20 cm, tổng chiều dài 2,2 mét và nhiều mãnh vỡ thủy tinh. (Đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố L và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên)
Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo và người bào chữa cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Quốc Việt |
Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 25/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: các bị cáo Phạm Văn Sang, Trần Thanh Trí, Hồ Thái Toàn, Cao Trí Khanh, Thái Minh Quốc, Nguyễn Minh Tiến phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
