|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ XUÂN THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2025/HS-ST
Ngày: 25 - 3 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ XUÂN, THÀNH PHỐ HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Như Thuần.
-
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đang và bà Bùi Thị Thu Hằng
-
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương, Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Xuân, thành phố Huế.
-
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Xuân, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sơn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Xuân, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/HSST ngày 27 tháng 2 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 15/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh Đ (tên gọi khác: B), sinh ngày: 26/02/1996 tại thành phố H; CCCD số: [...]; Nơi cư trú: Số E T, phường Đ, quận P, thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh H và bà Phan Thị Thu T; bị cáo là con một trong gia đình. Sống chung như vợ chồng với chị Phạm Thị V (hiện đã chia tay) và có 03 người con chung, lớn nhất 05 tuổi, nhỏ nhất 01 tuổi.
Nhân thân: Ngày 11/9/2014, bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái pháp chất ma túy” theo quyết định số 7704; ngày 19/11/2018 bị Phòng C Công an tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 7.500.000 đồng về hành vi “Tổ chức đánh bạc” theo quyết định số 12327; ngày 29/9/2019 bị Công an thành phố H (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quyết định số 1895; ngày 20/5/2021 bị Công an thành phố H (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.250.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quyết định số 5596. Bị cáo đã thi hành xong.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/10/2024, chuyển tạm giam từ ngày 31/10/2024 cho đến nay; có mặt.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 21/10/2024, Nguyễn Minh Đ sử dụng điện thoại di động thông qua ứng dụng Telegram liên hệ với một đối tượng tên R (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 09 viên ma túy dạng kẹo và 07 viên ma túy dạng khay. Đ và đối tượng tên R thỏa thuận giá cho số ma túy trên là 9.400.000 đồng và hẹn gặp tại đường Đ, phường Đ, quận P, thành phố H để giao ma túy. Sau khi lấy được ma túy, Đ cất giấu số ma túy vừa mua được vào trong túi áo khoác đang mặc trên người. Đến khoảng 22 giờ 15 phút ngày 21/10/2024, tại trước số nhà C Đ, phường Đ, quận P, thành phố H, Đ bị lực lượng Công an điều tra phát hiện bắt quả tang. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Minh Đ không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì liên quan đến vụ án.
* Vật chứng thu giữ:
-
- 01 túi ni lông màu trắng có viền đỏ bên trong có chứa 08 viên nén hình chữ nhật màu xanh và 02 mảnh vỡ của viên nén màu xanh;
-
- 07 túi ni lông màu trắng viền đỏ bên trong đều chứa tinh thể rắn màu trắng;
-
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus, bên trong gắn thẻ sim số: 0931932175.
* Tại bản kết luận giám định số 758/KL-KTHS ngày 29/10/2024 của Phòng C Công an tỉnh T kết luận:
-
08 viên nén và 02 mảnh vỡ của viên nén đều có màu xanh gửi giám định có tổng khối lượng là 3,1680g là ma túy, loại MDMA và Ketamine.
-
Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định có tổng khối lượng là 9,0376g là ma túy, loại Ketamine.
Sau giám định, Phòng C Công an tỉnh T đã hoàn lại đối tượng giám định cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H (cũ) gồm:
-
- 2,8680g mẫu bột được nghiền từ 08 viên nén và 02 mảnh vỡ của viên nén đều có màu xanh;
-
- 8,9376g mẫu tinh thẻ rắn màu trắng;
-
- Các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.
Tất cả đều được niêm phong theo quy định.
* Tại bản kết luận giám định số 2587/KL-KTHS ngày 29/11/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận về hàm lượng các chất ma túy cụ thể như sau: Chất bột màu xanh gửi giám định có hàm lượng từng chất ma túy như sau: MDMA là 16,8%, Ketamine là 5,6%.
2
Sau khi giám định, Phân viện khoa học ký thuật hình sự tại thành phố Đà Nẵng đã hoàn lại đối tượng giám định cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H (cũ) gồm: Chất bột màu xanh 1,92g; vỏ bao gói.
Tất cả mẫu vật và vỏ bao gói hoàn trả nêu trên được niêm phong trong phong bì niêm phong số 2587.KL-KTHS, bên ngoài có dấu đỏ của Phân viện khoa học kỹ thuật hình sự tại thành phố Đà Nẵng, các chữ ký, chữ viết ghi họ tên: Phạm Thị Thu P và Hoàng Duy T1.
* Ngày 16/12/2024, Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng có công văn số 539/C09C-Đ2 về việc xác định khối lượng chất ma túy nên trên như sau: Với khối lượng của mẫu thu giữ ban đầu là 3,1680g, hàm lượng của MDMA là 16,8%; Ketamine là 5,6% thì khối lượng của chất ma túy MDMA trong mẫu thu giữ ban đầu là 0,5322g; khối lượng của chất ma túy Ketamine trong mẫu thu giữ ban đầu là 0,1774g.
* Về xử lý vật chứng: Toàn bộ vật chứng nêu trên đều chuyển phục vụ xét xử.
Tại bản Cáo trạng số: 14/CT-VKSQPX ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Xuân, thành phố H quyết định truy tố Nguyễn Minh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù; Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy tạm giữ, tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với 01 điện thoại di động nhăn hiệu Iphone 8 plus, bên trong gắn thẻ sim số: 0931932175; về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu theo luật định.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Lời nói sau cùng của bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
3
[2] Về tội danh:
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 22 giờ 15 phút ngày 21/10/2024, tại trước số nhà C Đ, phường Đ, quận P, thành phố H; Nguyễn Minh Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,5322g ma túy loại MDMA và 9,215g ma túy loại Ketamine nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang.
Đây là 02 chất ma túy có khối lượng được quy định tại điểm c khoản 1 và điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hai chất ma túy này đều có khối lượng dưới mức tối thiểu đối với từng chất quy định tại điểm g và điểm 1 khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự nên áp dụng quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:
Tỷ lệ 0,5322g ma túy loại MDMA so với mức tối thiểu quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là: (0,5322g : 5g) x 100% = 10,644%.
Tỷ lệ 9,215g ma túy loại ketamine so với mức tối thiểu tại điểm 1 khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là: (9,215g : 20g) x 100% = 46,075%.
Tổng tỷ lệ phần trăm của hai chất ma túy nêu trên là 10,644% + 46,075% = 56,719% (dưới 100%).
Nên tổng khối lượng 02 chất ma túy MDMA và Ketamine mà bị cáo tàng trữ thuộc trường hợp được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, hành vi của Nguyễn Minh Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố bị cáo với tội danh, điểm, khoản, điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[4] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện thuộc loại tội nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ ma túy là chất cấm nhưng vẫn tàng trữ trái phép để sử dụng cho bản thân. Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy, nay vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây hủy hoại sức khỏe, giảm khả năng lao động và là nguyên nhân làm gia tăng tội phạm cũng như các tệ nạn xã hội nên cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
4
[5] Về xử lý vật chứng:
[5.1] Toàn bố số ma túy và các vật dụng dùng để bao gói mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận P đã chuyển giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự quận P (Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/02/2025). Đây là lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang, là vật cấm lưu hành nên cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.
[5.2] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus, bên trong gắn thẻ sim số: 0931932175 là phương tiện bị cáo dùng để liên hệ thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
[6] Các vấn đề khác: Đối với người thanh niên tên “Rôn” bán ma túy cho Nguyễn Minh Đ và người lái xe taxi chở Đ đi mua ma túy, do không xác định được họ tên, lai lịch nên không có cơ sở xử lý. Cơ quan có thẩm quyền tiếp tục xác minh, điều tra, nếu có cơ sở thì xem xét, xử lý trong một vụ án khác.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Cần buộc bị cáo Nguyễn Minh Đ phải chịu 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 22/10/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
-
Tịch thu tiêu hủy:
-
- 8,9376g mẫu tinh thể rắn màu trắng đựng trong 01 túi nilong và các vật dụng dùng để bao gói niêm phong khi gửi giám định, được niêm phong kín bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 chữ ký của Giám định viên Lê Thị Tuyết A, 02 chữ ký của Điều tra viên Lê N, 02 dấu tròn đỏ của Phòng C Công an Tỉnh T (cũ) và dòng chữ “Hoàn mẫu vật vụ Nguyễn Minh Đ, bắt ngày 21/10/2024 (Mẫu tinh thể).
-
- Chất bột màu xanh: 1,92g; Võ bao gói.
Tất cả mẫu vật và võ bao gói hoàn trả nêu trên được niêm phong trong phong bì niêm phong số 2587/KL-KTHS, bên ngoài có dấu đỏ của Phân viên Khoa học hình sự tại Thành phố Đà Nẵng, các chữ ký, chữ viết ghi họ tên: Phạm Thị Thu P và Hoàng Duy T1.
-
-
5
-
-
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus, bên trong có gắn thẻ sim số 0931932175.
(Các vật chứng trên có đặc điểm theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận P và Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Xuân, thành phố H).
-
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Nguyễn Minh Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Như Thuần |
6
7
8
9
Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ XUÂN, THÀNH PHỐ HUẾ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 25/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ XUÂN, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN MINH ĐỨC -TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
