Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HS-ST

Ngày: 23 - 10- 2025.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phan Thị Hà Giang – Nghề nghiệp: Giáo viên;

Bà Nguyễn Thị Phi Yến – Nghề nghiệp: Giáo viên (đã nghỉ hưu).

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Anh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trường Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2025 tại điểm cầu Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Nghệ An và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh N, Tòa án nhân dân khu vực 5 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2025/TLST-HS, ngày 09 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Đinh Văn T; sinh ngày 23 tháng 01 năm 2008, tại xã N, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm C, xã N, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn Q và bà Đinh Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/5/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam Vinh P thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh N; có mặt.
  2. Họ và tên: Nguyễn Hồng Q1; sinh năm 2006, tại xã K, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: K C, phường T, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học sinh; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông không xác định và bà Nguyễn Thị H1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 16/9/2025, bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N bắt quả tang về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/9/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam Vinh P thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh N; có mặt.
  3. Họ và tên: Nguyễn Đình Q2; sinh năm 1997, tại xã K, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm Y, xã K, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình D và bà Nguyễn Thị H2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/5/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam Vinh P thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh N; có mặt.

Đại diện hợp pháp của bị cáo Đinh Văn T: Ông Đinh Văn Q, sinh năm 1974; nơi cư trú: Xóm C, xã N, huyện N, nay là xã N, tỉnh Nghệ An; có mặt.

Người bào chữa của bị cáo Đinh Văn T: Bà Võ Thị H3 – Trợ giúp viên - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Đinh Thúy A, sinh năm 2008; nơi cư trú: Xóm T, xã V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt( Có đơn xin xử vắng mặt).
  • Người đại diện hợp pháp của chị Đinh Thúy A: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1979; nơi cư trú: Xóm T, xã V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  • + Anh Lê Văn Đức A1, sinh năm 2009; nơi cư trú: Xóm E, xã N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt ( Có đơn xin xử vắng mặt).
  • Người đại diện hợp pháp của Lê Văn Đức A1: Ông Lê Văn S, sinh năm 1971; nơi cư trú: Xóm E, xã N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

- Đại diện Đoàn xã N, tỉnh Nghệ An: Ông Phạm Bá P1 – Bí thư Đoàn xã; vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Anh Bùi Hải Đ, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2008; nơi cư trú: Xóm Đ, xã V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  • Người đại diện hợp pháp của Bùi Hải Đ: Ông Bùi Văn H4, sinh năm 1960; nơi cư trú: Xóm Đ, xã V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1997; nơi cư trú: Xóm Đ, xã V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  • + Anh Lê Việt A2, sinh ngày 08 tháng 9 năm 2008; nơi cư trú: Xóm Đ, xã V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  • Người đại diện hợp pháp của Lê Việt A2: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1958; nơi cư trú: Nơi cư trú: Xóm Đ, xã V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 3/2025, do có nhu cầu sử dụng và bán ma túy nên Nguyễn Hồng Q1 truy cập vào mạng xã hội Facebook đặt mua ma túy dạng thảo mộc khô có chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA (tên thường gọi Tobaco). Sau khi mua được ma túy, Q1 chia thành nhiều gói nhỏ đựng trong các túi zip nilong. Sau đó, Q1 nhờ Nguyễn Đình Q2 giúp sức bán ma túy thì Q2 đồng ý. Q1 và Q2 thống nhất nếu có ai hỏi mua ma túy thì Q2 sẽ báo số lượng cho Q1 rồi Q1 để ma túy tại một địa điểm cụ thể, sau đó thông báo vị trí để ma túy cho Q2 biết để Quang thông B cho người mua tự đến lấy. Khi bán được khoảng 05 đến 10 gói ma túy thì Q1 đưa cho Q2 từ 40.000 đồng (bốn mươi nghìn đồng) đến 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng).

Khoảng 12 giờ ngày 20/3/2025, Đinh Văn T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu nâu truy cập vào ứng dụng Mesenger tên “T xăm” của T nhắn tin đến tài khoản tên “Nguyễn Nguyễn Q2” của Nguyễn Đình Q2 để hỏi mua 02 (hai) gói ma túy với giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) thì Q2 đồng ý. Sau đó, Q2 nhắn tin số tài khoản ngân hàng của Q2 cho T với nội dung “Chuyển khoản đi rồi anh lấy cho”. Sau khi nhận được tin nhắn, T nhờ chị Đinh Thúy A (sinh năm 2008, trú tại: xóm T, xã V, tỉnh Nghệ An) chuyển số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) đến tài khoản Ngân hàng TMCP K (T2) số 0978992428 mang tên Nguyễn Đình Q2 thì chị T1 A đồng ý và chuyển số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) từ tài khoản Ngân hàng Q3 (M1) của Thúy A đến tài khoản Ngân hàng của Nguyễn Đình Q2. Sau khi nhận được tiền, Q2 nói Nguyễn Hồng Q1 “Bán cho thằng T xăm 02 (hai) gói, hắn chuyển khoản cho anh đây rồi” thì Q1 đồng ý và lấy 02 (hai) gói ma túy và đặt ở gần bể nước trước quán B1 của Q2 tại khu V, xã H, huyện N, tỉnh Nghệ An (nay là xã K, tỉnh Nghệ An) rồi thông báo cho Q2 biết. Sau đó, Quang thông B vị trí cất ma túy cho Đinh Văn T thì T đến lấy 02 (hai) gói ma túy rồi đưa về nhà sử dụng hết số ma túy này.

Khoảng 13 giờ ngày 22/3/2025, Đinh Văn T tiếp tục hỏi Nguyễn Đình Q2 để mua 02 (hai) gói ma tuý nhưng trả tiền sau thì Q2 đồng ý. Sau đó, Q2 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 15 Promax, màu xám xanh truy cập vào ứng dụng M gọi điện đến tài khoản tên “Nguyễn Hồng Q1” của Q1 nói “T lấy nợ 02 gói” thì Q1 đồng ý và lấy 02 (hai) gói ma tuý để ở buồng rửa của quán B1 rồi thông báo cho Q2 biết vị trí cất giấu ma túy. Sau đó, Quang thông B vị trí cho T thì T đến lấy 02 (hai) gói ma túy rồi đưa về nhà sử dụng hết số ma túy này.

Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 23/3/2025, Đinh Văn T tiếp tục liên lạc với Nguyễn Đình Q2 để hỏi mua 02 (hai) gói ma tuý thì Q2 đồng ý. Sau đó, Q2 sử dụng ứng dụng Messenger liên lạc với Q1 với nội dung “có thằng T ở N hắn lấy hai thẻ, em bán cho hắn đi” thì Q1 đồng ý và nói “anh nói hắn đến cầu L mà lấy”. Sau đó, Quang thông B địa điểm để T đến lấy ma túy. Đến khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, T đến khu vực Cầu L, xã K, tỉnh Nghệ An thì gặp Nguyễn Hồng Q1. Tại đây, Q1 hỏi “anh lấy phải không?”, T nói: “ừm, em lấy hai cái thôi” nên Q1 đưa cho T 02 (hai) gói ma tuý và T đưa cho Quân số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) (trong đó: 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) T trả tiền mua 02 (hai) gói ma túy nói trên và 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) trả nợ tiền mua ma túy của Nguyễn Đình Q2 vào ngày 22/3/2025). Sau khi mua xong ma túy, T đi theo Nguyễn Hồng Q1 thì thấy Q1 đi đến khu vực cầu thang sát cầu L thì dừng lại. Lúc này, T nghĩ Q1 đang cất giấu ma túy nên sau khi Q1 rời đi, T đến khu vực trên thì phát hiện có 01 (một) túi zip nilong bên trong có 30 túi zip nilong nhỏ đựng ma túy nên T lấy số ma túy này đưa về nhà và sử dụng hết 09 (chín) gói, còn lại 21 (hai mươi mốt) gói ma túy T cất dấu nhằm mục đích mua bán. Sau khi Nguyễn Hồng Q1 bán ma túy cho Đinh Văn T với số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) thì Q1 đưa cho Nguyễn Đình Q2 số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng).

Khoảng 07 giờ 45 phút ngày 24/3/2025, Đinh Văn T nói với Bùi Hải Đ về việc T bán ma túy Tobaco lúc nào cần thì gọi cho T để mua. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, khi Bùi Hải Đ đang chơi Bi-a cùng Nguyễn Văn V và Lê Việt A2 thì V hỏi Đ và Việt A2 “hai đứa bây biết chỗ mô lấy cỏ không ?” thì Đ nói “em có thằng bạn trong lớp có”. Sau đó, V nhờ Đ mua 04 (bốn) gói ma túy Tobaco để sử dụng thì Đ đồng ý. Đ truy cập vào ứng dụng M gọi đến tài khoản tên “T xăm” của T và hỏi mua 04 (bốn) gói ma túy thì T đồng ý và hẹn gặp ở khu vực ngã 3, đường rẽ vào xóm P, xã N, tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, Đinh Văn T đến địa điểm đã hẹn gặp Đ, V và Việt A2. Tại đây, T đưa cho Nguyễn Văn V 04 (bốn) gói ma túy và V đưa cho T số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua xong ma túy, V đưa cho Lê Việt A2 02 (hai) gói ma túy để về sử dụng còn V sử dụng 02 (hai) gói ma túy còn lại. Lúc này Đ có việc riêng nên không sử dụng ma túy mà đi về nhà của mình. Khi trên đường về nhà thì Đ nói với T “lấy cho tau một trăm nghìn nữa được không?” thì T đồng ý và đưa cho Đ 02 (hai) gói ma túy. Do không có tài khoản ngân hàng nên T vào ứng dụng Messenger Facebook của mình nhắn tin đến tài khoản tên “Duc Anh” của Lê Văn Đức A1 nhờ Đức A1 cung cấp số tài khoản để nhận số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) thì Đức A1 đồng ý. Sau đó, Đ sử dụng tài khoản Ngân hàng M1 số 01407888868 của mình chuyển số tiền 95.000 đồng (chín mươi lăm nghìn đồng) đến tài khoản ngân hàng của Lê Văn Đức A1 cho Đinh Văn T.

Khoảng trưa ngày 25/3/2025, V nhờ Việt A2 nhắn tin cho T để mua ma túy thì Việt A2 đồng ý. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày V, Việt A2 và Đ gặp nhau tại quán B1-a ở xóm Đ. Tại đây, V nói với Đ “em có lấy thì chuyển mà lấy luôn” thì Đ nói “lấy thêm cho em hai thẻ”. Sau đó, Đ sử dụng tài khoản Ngân hàng M1 số 01407888868 mang tên Bùi Hải Đ chuyển số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) đến tài khoản Ngân hàng V1 số 0329474877 của Nguyễn Văn V. Sau đó, Nguyễn Việt A3 nhắn tin cho Đinh Văn T hỏi mua 350.000 đồng (ba trăm năm mươi nghìn đồng) ma túy thì T đồng ý và nhắn số tài khoản ngân hàng mang tên Lê Văn Đức A1 cho Việt A3. Lúc này, V sử dụng tài khoản Ngân hàng của V chuyển số tiền 350.000 đồng (ba trăm năm mươi nghìn đồng) đến tài khoản Ngân hàng số 0566609773 mang tên Lê Văn Đức A1. Sau khi nhận được tiền, T hẹn giao ma túy tại khu vực ngã 3 đường rẽ vào xóm P, xã N, tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, tại địa điểm nêu trên, T gặp V, Việt A3, Đ rồi T đưa cho Nguyễn Văn V 07 (bảy) gói ma túy. Sau khi mua ma túy, V giữ lại 03 (ba) gói ma túy, đưa cho Đ 02 (hai) gói ma túy và cho Việt A3 02 (hai) gói ma túy rồi cả ba cùng sử dụng hết số ma túy trên. Sau đó, V, Việt A3 và Đ đã tự sử dụng riêng số ma túy của từng người.

Đến khoảng 10 giờ 40 phút ngày 26/3/2025, khi Đinh Văn T đi đến khu vực xóm C, xã N, tỉnh Nghệ An, thì bị Công an xã N, tỉnh Nghệ An kiểm tra lập biên bản đồng thời thu giữ 08 (tám) túi zip nilong chứa ma túy dạng thảo mộc khô. Qúa trình điều tra, Đinh Văn T khai nhận tàng trữ 08 (tám) túi zip nilong chứa ma túy dạng thảo mộc khô với tổng khối lượng 6,21gam (sáu phẩy hai mốt gam) nhằm mục đích mua bán.

Tại bản Kết luận giám định số 2899/KL-KTHS ngày 10/4/2025 của V2 - Bộ C1 kết luận: “Đều tìm thấy chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong các mẫu thảo mộc ký hiệu từ M1-M8 gửi giám định, tổng khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong các mẫu là 0,022 gam (không phẩy không hai hai gam)”.

Cáo trạng số 02/CT-VKS-KV5 ngày 07 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Nghệ An truy tố Đinh Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Hồng Q1, Nguyễn Đình Q2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn T, Nguyễn Hồng Q1, Nguyễn Đình Q2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về trách nhiệm hình sự:

- Hình phạt chính:

  • + Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90, 91, 101 BLHS; khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên xử phạt bị cáo Đinh Văn T mức án từ 03 năm 06 tháng - 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/5/2025.
  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Q1 mức án từ 08 năm 06 tháng - 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thì hành án.
  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Q2 mức án từ 07 năm - 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/5/2025.

- Hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 251 BLHS quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 08 (tám) túi zip nilong bên trong có 5,28 gam ma túy dạng thảo mộc khô và phong bì thư niêm phong ban đầu;
  • - Tịch thu sung công điện thoại di động bị can Đinh Văn T, Nguyễn Đình Q2 dùng để thực hiện hành vi phạm tội: điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, mặt sau màu nâu, số Imei 1: 864307078493412; Số Imei 2: 864307078493404 thu giữ của Đinh Văn T; điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, vỏ màu xám xanh đã qua sử dụng, phần mặt sau bị nứt vỡ góc, số Imei: 354550168789747 thu giữ của Nguyễn Đình Q2.
  • - Truy thu bị cáo Đinh Văn T số tiền 645.000 đồng, truy thu bị cáo Nguyễn Hồng Q1 số tiền 200.000 đồng, truy thu bị cáo Nguyễn Đình Q2 số tiền 100.000 đồng.
  • - Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Đinh Văn T:

Đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có công với cách mạng. Tại thời điểm phạm tội bị cáo là người dưới 18 tuổi nên việc nhận thức pháp luật chưa đầy đủ. Do đó cần áp dụng các quy định của Luật tư pháp người chưa thành niên để xem xét theo hướng có lợi cho bị cáo tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân tốt. Đề nghị HĐXX tuyên phạt bị cáo mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa.

Tại phiên tòa, các bị cáo Đinh Văn T, Nguyễn Hồng Q1 và Nguyễn Đình Q2 đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không có tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: các bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, tuy nhiên họ đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ, xét sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[3] Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa các bị cáo Đinh Văn T, Nguyễn Hồng Q1 và Nguyễn Đình Q2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, kết luận giám định, vật chứng được thu giữ và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Trong các ngày 20/3/2025, ngày 22/3/2025 và ngày 23/3/2025, Nguyễn Hồng Q1 và Nguyễn Đình Q2 bán cho Đinh Văn T 03 (ba) lần ma túy mỗi lần 02 (hai) gói ma túy với giá 06 (sáu) gói là 300.000 đồng. Đinh Văn T sau khi chiếm đoạt được 01 (một) túi zip nilong bên trong có 30 túi zip nilong nhỏ đựng ma túy thì bán cho các đối tượng khác, cụ thể: ngày 24/3/2025, T bán cho Bùi Hải Đ, Nguyễn Văn V, Nguyễn Việt A3 04 (bốn) gói ma túy với giá 200.000 đồng và bán riêng cho Bùi Hải Đ 02 (hai) gói ma túy giá 95.000 đồng. Ngày 25/3/2025, T bán cho V, Việt A3 và Đ 07 gói ma túy với giá 350.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo Đinh Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hồng Q1 và Nguyễn Đình Q2 đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Nghệ An truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về hình phạt chính:

[4.1] Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an trên địa bàn, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất gây nghiện. Ma tuý là hiểm hoạ cho gia đình và xã hội, làm băng hoại đạo đức và là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm nên phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4.2] Xét vai trò của các bị cáo: Bị cáo Nguyễn Hồng Q1 và Nguyễn Đình Q2 là đồng phạm nhưng giản đơn, trong đó Q1 là chủ mưu và Q2 là người giúp sức. Nguyễn Hồng Q1 là người đặt mua ma túy, chia ra các túi nhỏ để bán và chọn vị trí cất dấu ma túy khi bán. Nguyễn Đình Q2 giúp Q1 liên hệ với người mua và báo số lượng cho Q1. Như vậy, vai trò của bị cáo Q1 lớn hơn bị cáo Q2 trong vụ án này. Bị cáo T là người mua ma túy để dùng nhưng cũng là người bán ma túy cho người khác để kiếm lời, bị cáo bán số lượng ma túy lớn nhất và với số tiền nhiều nhất nhưng trong vụ án này bị cáo T hành động độc lập không đồng phạm với bị cáo Q1 và Q2.

[4.3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo. Bị cáo Đinh Văn T thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, bị cáo có ông bà nội và ông ngoại có công với cách mạng được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Bị cáo Nguyễn Đình Q2 có thân nhân là liệt sỹ; mẹ là giáo viên đạt nhiều thành tích được tặng thưởng: Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở; giáo viên dạy giỏi; giỏi việc nước đảm việc nhà, bản thân bị cáo được Ban chấp hành đoàn xã H tặng giải nhì cuộc thi vẽ tranh cổ động tuyên truyền năm 2025. Bị cáo Nguyễn Hồng Q1 có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, bà ngoại tham gia dân công hỏa tuyến và được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, mặt sau màu nâu, số Imei 1: 864307078493412; Số Imei 2: 864307078493404 thu giữ của Đinh Văn T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, vỏ màu xám xanh đã qua sử dụng, phần mặt sau bị nứt vỡ góc, số Imei: 354550168789747, thu giữ của Nguyễn Đình Q2 là công cụ sử dụng vào mục đích thực hiện hành vi phạm tội, còn giá trị nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
  • - Truy thu bị cáo Đinh Văn T số tiền 645.000 đồng, truy thu bị cáo Nguyễn Hồng Q1 số tiền 200.000 đồng, truy thu bị cáo Nguyễn Đình Q2 số tiền 100.000 đồng là số tiền các bị cáo có được khi thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần tịch thu, sung công.
  • - Đối với 08 (tám) túi zip nilong kích thước (4,5x7)cm chứa thảo mộc khô màu vàng có tổng khối lượng 6,21 gam thu giữ của Đinh Văn T. Sau khi giám định, còn 5,28 gam ma túy dạng thảo mộc khô và phong bì thư niêm phong ban đầu là vật chứng của vụ án, cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Đối với hành vi của Đinh Văn T chiếm đoạt 30 gói (ba mươi gói) ma túy dạng thảo mộc khô của Nguyễn Hồng Q1 với tổng khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA là (0,022:8)x30=0,0825 gam (không phẩy không tám hai năm gam) chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Chiếm đoạt chất ma túy”.

[8] Đối với các đối tượng Nguyễn Văn V, Bùi Hải Đ, Lê Việt A2 thực hiện hành vi mua ma túy dạng thảo mộc khô của Đinh Văn T để sử dụng. Quá trình điều tra xác định: Trước khi mua ma túy các đối tượng không rủ rê, lôi kéo nhau; sau khi mua được ma túy các đối tượng đều tự sử dụng một mình, không có ai khác tham gia. Do đó, các đối tượng Nguyễn Văn V, Bùi Hải Đ, Lê Việt A2 không phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” hay “Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngoài ra, kết quả xét nghiệm cho thấy các đối tượng đều âm tính với các chất ma túy nên không có căn cứ để xử lý.

[9] Đối với Đinh Thúy A là người giúp Đinh Văn T chuyển tiền liên quan đến hành vi mua ma túy và Lê Văn Đức A1 là người giúp Đinh Văn T nhận tiền liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Qúa trình điều tra xác định, Đinh Thúy A và Lê Văn Đ1 không biết hành vi mua và bán trái phép chất ma túy của Đinh Văn T nên Đinh Thúy A và Lê Văn Đ1 không phạm tội.

[10] Đối với đối tượng bán số ma túy dạng thảo mộc khô cho Nguyễn Hồng Q1. Quá trình điều tra xác định, Nguyễn Hồng Q1 đã xóa tài khoản Facebook nên không nhớ và không cung cấp được thông tin của đối tượng nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[11] Đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Đinh Văn T đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là phù hợp nên HĐXX chấp nhận;

[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[13] Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Nghệ An là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đinh Văn T, Nguyễn Hồng Q1, Nguyễn Đình Q2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
    • - Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 90, 91, 101 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt bị cáo Đinh Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam.
    • - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Q1 (08) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
    • - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Q2 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo, mặt sau màu nâu, số Imei 1: 864307078493412; Số Imei 2: 864307078493404; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, vỏ màu xám xanh đã qua sử dụng, phần mặt sau bị nứt vỡ góc, số I: 354550168789747.
    • - Truy thu bị cáo Đinh Văn T số tiền 645.000 đồng, truy thu bị cáo Nguyễn Hồng Q1 số tiền 200.000 đồng, truy thu bị cáo Nguyễn Đình Q2 số tiền 100.000 đồng.
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 túi niêm phong bên trong chứa 5,28 gam ma túy MDMB-4en-PINACA và vỏ gói ban đầu.
    • (Đặc điểm, tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/10/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Nghệ An).
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Đinh Văn T, Nguyễn Hồng Q1 và Nguyễn Đình Q2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của bị cáo, Người bào chữa của bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND khu vực 5-Nghệ An;
  • - Phòng THADS khu vực 5-Nghệ An;
  • - Bị cáo; người bào chữa cho bị cáo;
  • - Người đại diện của bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Người đại diện của người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Anh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Hà Giang      Nguyễn Thị Phi Yến

Nguyễn Thế Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 23/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger