Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ NINH

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HS-ST

Ngày 23-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh Huyền

Bà Nguyễn Thị Kim Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Minh Châu - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 06 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành Đ; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 14/9/2006 tại Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu A, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Hà Thị P; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 13/9/2022, Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ xử phạt hành chính theo QĐ số 07 về hành vi “Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục XNC”, hình thức phạt: Cảnh cáo.

Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại Tạm giam khu vực thị xã P thuộc tại Tạm giam công an tỉnh P. (có mặt)

- Bị hại: Chị Ly Thị T1, sinh năm 2006

Nơi cư trú: Tổ dân phố số E, thị trấn N, huyện B, tỉnh Lào Cai. (có đơn xin vắng mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 2006

Nơi cư trú: Khu H, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

(Anh A có đơn xin xét xử vắng)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06/10/2024, chị Ly Thị T1, sinh năm 2006, thường trú tại: Tổ dân phố số E, thị trấn N, huyện B, tỉnh Lào Cai, dựng và khóa cổ, khóa càng xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn: xanh - đen - bạc, biển kiểm soát 24T1-102.11 ở sân trước cửa phòng trọ của chị T1 trong khu nhà trọ của gia đình bà Hoàng Thị Thanh H, sinh năm 1981, thuộc khu G, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ, sau đó đi ngủ. Chiếc xe mô tô này do chị T1 mượn của anh Giàng A T2, sinh năm 2005, HKTT: thôn L, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai, khi mượn xe không có yếm nhựa hai bên phía trước và không có gương chiếu hậu. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07/10/2024, Nguyễn Thành Đ đi dọc đường bê tông liên khu tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đến khu nhà trọ của gia đình bà Hoàng Thị Thanh H, Đ thấy cổng phòng trọ mở, nhìn xung quanh không có người, phía trong sân có dựng chiếc xe mô tô Honda Wave nêu trên của chị T1 nên đã nảy sinh ý định trộm cắp. Đ đi lại gần xe mô tô, dùng tay giữ xe, chân đạp vào tay lái bên trái phá khóa cổ xe, rồi dắt xe đến đoạn đường vắng nhặt một đoạn cây sắt ở ven đường, cà xát làm mờ số khung, số máy nhằm tránh bị phát hiện về hành vi trộm cắp; sau đó tháo dây điện phía dưới đầu xe đấu nối đề nổ máy, rồi điều khiển xe đi đến nhà bạn là anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 2006, HKTT: khu H, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ, Đ nói dối là xe của Đ và nhờ anh Tuấn A chỉ chỗ cầm cố xe để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tuấn A gọi điện cho anh Nguyễn Việt H1, sinh năm 2000, HKTT: khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ đặt vấn đề cầm cố xe thì anh H1 đồng ý. Đ chở anh Tuấn A đến nhà anh H1, trên đường đi Đ rẽ vào quán sửa chữa khóa “Dũng T3” của anh Lương Tiến D, sinh năm 1980, ở khu B, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ để làm lại chìa khóa xe máy, sau đó điều khiển xe mô tô chở anh Tuấn A đến thành phố V, tỉnh Phú Thọ để gặp anh H1. Khoảng 15 giờ 00 phút sau thì cả ba gặp nhau tại ven đường gần UBND xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Tại đây Đ nói dối anh H1 đây là xe mô tô của mình, đặt vấn đề cầm cố xe nhưng anh H1 không đồng ý. Thấy vậy Đ hỏi vay anh H1 4.000.000 đồng. Do không quen biết với Đ nên anh H1 yêu cầu Đ để lại xe mô tô làm tin, anh H1 đưa 4.000.000 đồng tiền mặt cho Đ, Đ giao xe mô tô cho anh H1 và cả hai thống nhất một tháng sau Đ quay lại lấy xe, nếu không coi như Đ bán xe cho anh H1. Sau đó, Đ và anh Tuấn A đi về, Đ tiêu xài cá nhân hết số tiền trên không chia hay cho anh Tuấn A hưởng lợi gì. Trên đường về anh Tuấn A nói với Đ: “nếu bạn không lấy xe thì bạn để tôi lấy xe, tôi trả thêm tiền để lấy đăng ký xe”, Đ đồng ý và nói: “nếu lấy xe thì bạn bảo tôi”. Đầu tháng 11/2024, anh H1 gọi điện hỏi anh Tuấn A có lấy xe không, anh Tuấn A gọi điện cho Đ nhiều lần nhưng không liên lạc được, nghĩ Đ không lấy xe nữa nên anh Tuấn A đến gặp anh H1 lấy lại xe mô tô trên. Anh Tuấn A1 trả cho anh H1 4.500.000 đồng rồi mang xe về sử dụng, được anh H1 đồng ý. Quá trình sử dụng xe mô tô, do nhiều chi tiết phụ kiện xe bị gãy, vỡ nên anh Tuấn A1 đã tháo bỏ biển kiểm soát xe và ốp nhựa hai bên sườn xe mô tô. Ngày 17/01/2025, anh Tuấn A1 tự giác giao nộp chiếc xe mô tô nêu trên cho Cơ quan CSĐT Công an huyện P; riêng biển kiểm soát xe và ốp nhựa hai bên sườn xe mô tô bị thất lạc nên không thu giữ được.

Ngày 22/01/2025 Cơ quan CSĐT Công an huyện P trưng cầu Phòng K Công an tỉnh P giám định số khung, số máy của chiếc xe mô tô nêu trên. Tại Kết luận giám định số 126/KL-KTHS ngày 24/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh P, kết luận: Số khung, số máy xe bị tẩy xóa; Số khung nguyên thủy là: RLHJA392XNY239555; Số máy nguyên thủy là: JA39E-273?508. Tại vị trí đánh dấu “?” ở hàng số máy, ký tự bị tẩy xóa, không xác định được ký tự nguyên thủy.

Cơ quan CSĐT Công an huyện P tiến hành xác minh tại Cửa hàng X - khu Đường N, TT. P, huyện P, tỉnh Phú Thọ xác định: Xe mô tô trên nhãn hiệu: HONDA WAVE ANPHA; số máy: JA39E-2736508; số khung: RLHJA392XNY239555; ngày sản xuất: 01/07/2022; ngày bán: 09/08/2022, nơi bán: Đại lý HONDA HEAD Trung Lan - Lào Cai, địa chỉ: Số H H, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 13 ngày 21/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P, kết luận: Trị giá xe mô tô...biển số 24T1-102.00, xe không có yếm nhựa hai bên phía trước, không có gương chiếu hậu hai bên, xe đã qua sử dụng tại thời điểm tháng 10/2024 là 13.000.000 đồng.

Trên cơ sở tài liệu điều tra, xác minh, ngày 25/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Thành Đ về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo Đ đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên; phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Về vật chứng, đồ vật thu giữ trong vụ án:

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave anpha, màu xanh - đen - bạc, biển số 24T1-102.11, xe không có yếm nhựa hai bên phía trước, không có gương chiếu hậu hai bên. Ngày 25/4/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản cho chị T1.

- 01 chiếc quần sooc bằng vải bò màu đen, mặt phía trước ống quần bên trái có chữ “DSQUARED2 ON” màu trắng; mặt phía trước ống quần bên phải có chữ “IC” màu trắng; phía dưới các chữ hai bên ống quần đều có vết vải bị sờn rách thu giữ của Nguyễn Thành Đ để phục vụ cho hoạt động điều tra, xác minh được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh chờ xử lý.

Về dân sự:

- Sau khi xe mô tô bị trộm cắp, chị T1 và anh T2 thỏa thuận thống nhất chị T1 bồi thường, mua lại xe mô tô của anh T2 với giá 15.000.000đ, anh T2 đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì khác.

- Chị Ly Thị T1 đã nhận lại xe mô tô bị trộm cắp, không yêu cầu, đề nghị bồi thường gì về mất biển kiểm soát và ốp nhựa hai bên sườn xe.

- Anh Nguyễn Tuấn A không yêu cầu Nguyễn Thành Đ trả lại số tiền 4.500.000 đồng mà anh Tuấn A chuộc xe từ anh H1 về để sử dụng.

Xác minh về tài sản, thu nhập của bị cáo:

- Bị cáo không có tài sản trị giá ngoài đồ dùng sinh hoạt thiết yếu.

- Xác minh thu nhập đầu người trên địa bàn xã B là 4.500.000 đồng/người/tháng.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Bản Cáo trạng số: 27/CT-VKS ngày 14 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Thành Đ “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

a) Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* Hình phạt chính:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 BLHS và các Điều 331, 333 BLTTH: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ từ 12 đến 15 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 27/5/2025.

* Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản trị giá.

b) Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Hình sự:

- Xác nhận ngày 25/4/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã trả lại cho chị Lý Thị T4 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave anpha, màu xanh - đen - bạc, biển số 24T1-102.11, là hợp pháp.

- Tịch thu để tiêu hủy đồ vật không có giá trị sử dụng:01 chiếc quần sooc bằng vải bò màu đen, mặt phía trước ống quần bên trái có chữ “DSQUARED2 ON” màu trắng; mặt phía trước ống quần bên phải có chữ “IC” màu trắng; phía dưới các chữ hai bên ống quần đều có vết vải bị sờn rách thu giữ của Nguyễn Thành Đ.

c) Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, bị cáo ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đúng thời hạn do pháp luật quy định nên các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Bị hại là chị Lê Thị T5, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Tuấn A vắng mặt tại phiên tòa, chị T5, anh A có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy quá trình điều tra, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã có lời khai đầy đủ, đã trình bày ý kiến của mình về các vấn đề có liên quan trong vụ án nên sự vắng mặt tại phiên tòa của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là không vi phạm các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung:

Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thành Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay đều thống nhất, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 07/10/2024 tại khu nhà trọ của gia đình bà Hoàng Thị Thanh H, thuộc khu G, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Thành Đ đã có hành vi trộm cắp của chị Lý Thị T4 01 mô tô nhãn hiệu HONDA Wave anpha, biển kiểm soát 24T1-102.11, trị giá 13.000.000 đồng. Tài sản đã được trả cho bị hại

Hành vi của bị can là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật.

Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, nội dung điều luật quy định:

Tại Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1, Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quan hệ sở hữu của cá nhân được nhà nước bảo vệ. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, xâm phạm đến quan hệ về sở hữu đối với tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo bằng hình thức lén lút, lợi dụng người sở hữu tài sản sơ ý nhằm tiếp cận tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt mà người sở hữu tài sản không biết. Hậu quả là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 13.000.000 đồng.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Vì vậy, bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng và nhân đạo của pháp luật Nhà nước.

[4] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tuy bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng trong thời gian được tại ngoại tại địa phương bị cáo đã đã vi phạm lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần mức hình phạt tù cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại là chị Ly Thị T1 đã nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave anpha, màu xanh - đen - bạc, biển số 24T1-102.11, xe không có yếm nhựa hai bên phía trước, không có gương chiếu hậu hai bên. Chị Ly Thị T1 đã nhận lại xe mô tô bị trộm cắp, không yêu cầu, đề nghị bồi thường gì về mất biển kiểm soát và ốp nhựa hai bên sườn xe. Sau khi xe mô tô bị trộm cắp, chị T1 và anh T2 thỏa thuận thống nhất chị T1 bồi thường, mua lại xe mô tô của anh T2 với giá 15.000.000đ, anh T2 đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì khác.

- Anh Nguyễn Tuấn A không yêu cầu Nguyễn Thành Đ trả lại số tiền 4.500.000 đồng mà anh Tuấn A chuộc xe từ anh H1 về để sử dụng.

[6] Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 chiếc quần sooc bằng vải bò màu đen, mặt phía trước ống quần bên trái có chữ “DSQUARED2 ON” màu trắng; mặt phía trước ống quần bên phải có chữ “IC” màu trắng; phía dưới các chữ hai bên ống quần đều có vết vải bị sờn rách thu giữ là trang phục bị cáo Đ sử dụng khi phạm tội đến nay bị cáo tự nguyện không nhận lại. Xét thấy số tài sản này không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận, tuy nhiên mức đề nghị của Kiểm sát viên là cao với hành vi phạm tội của bị cáo; khi phạm tội bị cáo mới 18 tuổi 23 ngày và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp hơn đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với tính chất ít nghiêm trọng của vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 QH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/5/2025

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ

  2. Về trách nhiệm dân sự:

    Chị Ly Thị T1 đã nhận lại tài sản và không đề nghị Nguyễn Thành Đ phải bồi thường; anh Nguyễn Tuấn A cũng không yêu cầu Nguyễn Thành Đ bồi thường số tiền 4.500.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét về trách nhiệm dân sự.

  3. Về xử lý vật chứng:

    - Tịch thu tiêu hủy của Nguyễn Thành Đ: 01 chiếc quần sooc bằng vải bò màu đen, mặt phía trước ống quần bên trái có chữ “DSQUARED2 ON” màu trắng; mặt phía trước ống quần bên phải có chữ “IC” màu trắng; phía dưới các chữ hai bên ống quần đều có vết vải bị sờn rách.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Ninh).

  4. Về án phí:

    Buộc bị cáo Nguyễn Thành Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - Văn phòng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Bình Phú, Phù Ninh, Phú Thọ;
  • - Bị cáo,
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyen Thanh D pham toi trom cap tai san
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger