|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
|
|
Bản án số: 25/2025/HS-ST
Ngày 23/6/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Lê Hồng Điệp
Ông Trà Minh Châu
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hiền-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tuấn-Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Ngô Văn B, sinh ngày 01/01/1972 tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; CCCD số: [...] do Cục C về TTXH cấp ngày 26/9/2022; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn V (chết) và bà Phạm Thị K (chết); Có vợ và 03 người con, lớn nhất sinh năm 1997 và nhỏ nhất sinh năm 2004; Tiền án: 01 lần, vào ngày 08/11/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” do bị cáo phạm tội mới nên buộc phải chấp hành hình phạt tù cho hưởng án treo, đến lần phạm tội này chưa được xóa án tích; Tiền sự: 02 lần, lần thứ nhất vào ngày 25/9/2024 bị Trưởng Công an xã M, huyện M xử phạt vi phạm hình chính với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng rượu, bia, các chất kích thích gây mất trật tự công cộng” và lần thứ hai vào ngày 01/10/2024 bị Chủ tịch UBND xã M, huyện M xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 3.000.000 đồng về hành vi “Khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác”, bị cáo đều chưa đóng phạt nên đến lần phạm tội này chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Bị cáo đang chấp hành án trong vụ án khác từ ngày 30/10/2024 cho đến nay. (có mặt)
1
- Bị hại: Ông Nguyễn Công Đ, sinh năm 1972; Nơi cư trú: ấp M, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1957; Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Ông Ngô Văn M, sinh năm 2004; Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Ông Ngô Văn T, sinh năm 1997; Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Ông Diệp Hồng P, sinh năm 1981; Nơi cư trú: ấp X, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Bà Phan Thị Mỹ N, sinh năm 1987; Nơi cư trú: ấp X, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Ông Lê Minh H, sinh năm 1967; Nơi cư trú: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Ông Trần Văn T1, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
- Ông Lâm Thành Q, sinh năm 1969; Nơi cư trú: ấp M, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Ông Nguyễn Nhựt T2, sinh năm 1983; Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ, ngày 10/10/2024 ông Nguyễn Công Đ phát hiện Ngô Văn B điều khiển vỏ lãi màu xanh-trắng, gắn máy Honda 13, trên vỏ lãi có để cái thao và 01 tay lưới bắt cá đi ngang khu vực bến nước nhà của của ông, thấy có biểu hiện nghi vấn nên ông Đ chú ý quan sát. Đến khoảng 02 giờ ngày 11/10/2024, do trời mưa nên ông Đ đi lên nhà để trú mưa. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, ông Đ phát hiện vỏ lãi nhựa Composite, màu xanh có lắp máy dầu nhãn hiệu VYKYNO RV 165 và 50 lú bắt cá bị mất. Nghi Beo là người đã lấy trộm tài sản của mình và trốn về huyện M qua cống Ngã Tư nên ông Đ chạy xuồng máy đi tìm. Khi đến đoạn sông C (cột đèn) thì ông Đ thấy chiếc vỏ lãi của ông nằm ở mé sông, ông Đ vào xem vỏ lãi thì thấy bị thủng 01 lổ, sau đó ông Đ kéo vỏ lãi về, sau đó, ông Đ tiếp tục đi tìm. Trên đường đi tìm, ông Đ thấy B chạy vỏ lãi ngược về hướng C, xã T, vỏ lãi chở nặng, có trùm tấm vãi giống tấm vãi của ông đậy lú nên ông chạy ra hướng cống Cái Quanh để kiếm nhưng không thấy. Qua tìm hiểu thông tin, ông Đ biết được địa chỉ nhà của B. Khoảng 10 giờ ngày 12/10/2024, ông Đ điều khiển xe đến nhà Beo thì phát hiện Beo đang bán lú cho người khác. Nhìn đặc điểm lú thì ông Đ biết là của ông, vì lú của ông có những đặc điểm riêng, buộc đúng một kiểu, lú còn tem nhãn cơ sở sản xuất “LÚ TRUNG TIẾN Một Thương Hiệu Triệu Niềm Tin”. Lúc này, ông
2
Đ nói để ông mua lại thì người mua nhường lại cho ông Đ. Ông Đ kéo lên từng cái lú ra xem thì đúng là 17 cái lú 24 khung, trong đó có 03 cái loại 02 khung nhỏ chỉ ông Đ đặt riêng mới có; 12 cái lú loại 22 khung cùng đặc điểm nút thắt. Sau đó, ông Đ đi trình báo Công an xã M. Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an xã M tiến hành xác minh, thu giữ vật chứng và chuyển nguồn tin cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L thụ lý.
Tại Kết luận định giá tài sản số 29/KL-HĐĐG ngày 25/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện L: 01 chiếc vỏ lãi Composite chiều dài 7,9m, nơi rộng nhất 1,12m, màu sơn xanh, trắng đã qua sử dụng, trị giá 5.600.000 đồng; 01 cái động cơ máy dầu Diesel, nhãn hiệu VIKYNO RV 165, màu sơn đỏ-đen có lắp gáp và chân vịt, đã qua sử dụng, trị giá 6.000.000 đồng; 27 cái lú bắt cá (12 cửa ngục) chiều dài 11m, có 24 khung gấp, mỗi khung có kích thước (30x34x54)cm, trên lú có gắn nhãn hiệu ghi “cơ sở sản xuất LÚ TRUNG TIẾN Một Thương Hiệu Triệu Niềm Tin”, hai đầu miệng lú được buộc bằng dây nylon màu xanh và buộc 03 nút thắt rút, trị giá 10.368.000 đồng; 06 cái lú bắt cá (12 cửa ngục) chiều dài 11m, có 24 khung gấp, 22 khung gấp ở giữa có kích thước (30x34x54)cm, 02 khung gấp ở hai đầu có kích thước (25x35x40)cm trên lú có gắn nhãn hiệu ghi “cơ sở sản xuất LÚ TRUNG TIẾN Một Thương Hiệu Triệu Niềm Tin” hai đầu miệng lú được buộc bằng dây nylon màu xanh và buộc 03 nút thắt rút, trị giá 2.304.000 đồng; 17 cái lú bắt cá (12 cửa ngục) chiều dài 09m, có 22 khung gấp, mỗi khung có kích thước (30x34x54)cm trên lú có nhãn hiệu ghi “cơ sở sản xuất LÚ TRUNG TIẾN Một Thương Hiệu Triệu Niềm Tin” hai đầu miệng lú được buộc bằng dây nylon màu xanh và buộc 03 nút thắt rút, trị giá 5.440.000 đồng; Tổng giá trị tài sản qua định giá là 29.712.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 19/CT-VKS-LP ngày 06/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Phú đã truy tố bị cáo Ngô Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015. (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm h Khoản 1 Điều 52; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 38; Khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Về xử lý vật chứng của vụ án: áp dụng Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao tự chế dài 37cm, cán bằng gỗ dài 13cm, lưỡi bằng kim loại màu đen dài 24cm, đã qua sử dụng; 01 cây dao chiều dài 50cm, cán bằng gỗ dài 25cm, lưỡi bằng kim loại màu đen dài 35cm, đã qua sử dụng; 01 cây dao chiều dài 47cm, cán bằng gỗ dài 13cm, lưỡi bằng kim loại màu đen dài 34cm, đã qua sử dụng.
3
Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: 01 cái vỏ lãi Composite màu trắng xanh, dài 590cm, rộng 73cm, sâu 33cm, đã qua sử dụng; 01 máy Honda GX390 130HP, màu đỏ trắng đen, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được bồi thường xong và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cặp xử lý.
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội, không oan sai cho bị cáo. Bị cáo trình bày lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, người làm chứng là ông Trần Văn T1 có đơn xin xét xử vắng mặt và ông Nguyễn Nhựt T2 vắng mặt không có lý do. Xét thấy, những người làm chứng đã có lời khai rõ ràng về các tình tiết của vụ án và việc vắng mặt cũng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ vào Điều 293, Điều 299 của Bộ luật Tố tụng Hình sự để xét xử vắng mặt đối với những người làm chứng nêu trên.
[3]. Xét lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định:
Bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định, do muốn có tiền tiêu xài nên đã lợi dụng đêm khuya, chạy vỏ lãi dọc theo các tuyến đường sông ở các địa bàn vắng vẻ nhằm mục đích tìm tài sản của người khác để chiếm đoạt của người dân mà cụ thể là các loại lú bắt cá (12 cửa ngục). Vào khoảng thời gian từ ngày 10/10/2024 đến ngày 11/10/2024, bị cáo đã điều khiển vỏ lãi chạy dọc theo tuyến sông đến địa bàn ấp M, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng rồi lợi dụng đêm khuya và sự sơ hở trong quản lý tài sản của bị hại lén lút chiếm đoạt các tài sản gồm: 27 cái lú bắt cá chiều dài 11m, có 24 khung gấp mỗi khung gấp có kích thước (30x34x54) cm; 06 cái lú bắt cá chiều dài 11m, có 24 khung gấp, 22 khung gấp ở giữa có kích thước (30x34x54) cm, 02 khung gấp ở hai đầu có kích thước (25x34x40) cm; 17 cái lú bắt cá chiều dài 09m, có 22 khung gấp mỗi khung có kích thước (30x34x54) cm; 01 chiếc vỏ lãi Composite, 01 cái động cơ máy dầu Diesel, nhãn hiệu VIKYNO RV165, màu sơn đỏ-đen có gắn láp và chân vịt, tổng giá trị tài sản đã chiếm đoạt qua định là 29.712.000 đồng.
4
Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại một cách trái pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Ngô Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Từ hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra, cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo thì mới phù hợp và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[4]. Tuy nhiên, khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo cần phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 lần tiền án và 02 lần tiền sự (như phần lý lịch đã nêu). Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng vì đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại Khoản 1 Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo.
Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai cáo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại xong và bị hại cũng xin miễn trách nhiệm hình sự. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5]. Về xử lý vật chứng của vụ án: Đối với 03 cây dao tự chế là vật cấm tàng trữ, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 vỏ lãi và 01 máy Honda là của bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được bồi thường xong và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hồng đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7]. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[8]. Xét lời đề nghị Kiểm sát viên về tội danh và việc áp dụng pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về hình phạt cần xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm như Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; điểm h Khoản 1 Điều 52; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 38; Khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015. (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”
5
- Xử phạt bị cáo Ngô Văn B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2023/HS-ST ngày 08/11/2023 cùng Quyết định giải quyết đề nghị buộc người được hưởng án treo phải thi hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo số 06/2024/HSST-QĐ ngày 14/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Nguyễn Công Đ đã được bồi thường xong và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về xử lý vật chứng của vụ án: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015. (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao tự chế dài 37cm, cán bằng gỗ dài 13cm, lưỡi bằng kim loại màu đen dài 24cm, đã qua sử dụng; 01 cây dao chiều dài 50cm, cán bằng gỗ dài 25cm, lưỡi bằng kim loại màu đen dài 35cm, đã qua sử dụng; 01 cây dao chiều dài 47cm, cán bằng gỗ dài 13cm, lưỡi bằng kim loại màu đen dài 34cm, đã qua sử dụng.
Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: 01 cái vỏ lãi Composite màu trắng xanh, dài 590cm, rộng 73cm, sâu 33cm, đã qua sử dụng; 01 máy Honda GX390 130HP, màu đỏ trắng đen, đã qua sử dụng.
(Theo Phiếu Nhập Kho số NK22 ngày 06/5/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện L, tỉnh Sóc Trăng)
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng là án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Bảo Quốc |
6
7
Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 25/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Ngô Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”
