Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HS-ST

Ngày: 23/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Lư Quốc Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đoàn Thị Huệ.
  2. Bà Hồ Thị Hoa.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025 và Quyết định Hoãn phiên tòa số: 04/2025/HSST-QĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Triệu Kim L4, sinh ngày 15/3/1975, CCCD số [...]; Nơi sinh: tại A, Kiên Giang; Nơi thường trú: Ấp N, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Nơi tạm trú: Số C T, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Chổ ở hiện nay: Ấp N, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Lao đông tự do; Trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn M, sinh năm 1944 và bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1953; chồng: Nguyễn Thanh H, sinh năm 1975 (Đã ly hôn); anh chị em ruột: Có 04 người, lớn nhất sinh năm 1970, nhỏ nhất sinh năm 1982; con: Có 02 người con, sinh năm 1994 và sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo Triệu Kim L4 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/02/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Bà Võ Thị M1, sinh năm 1965.
  2. Chị Trần Thị Diễm M2, sinh năm 1993.
  3. Chị Trần Thị Huyền T, sinh năm1997.

(Chị M2 và chị T ủy quyền cho bà Võ Thị M1 tham gia giải quyết vụ án theo các văn bản ủy quyền lập ngày 26/6/2023)

  1. Bà Triệu Mỹ H1, sinh năm 1976.
  2. Chị Võ Thị H2, sinh năm 1980.
  3. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1968.
  4. Bà Phạm Thị L, sinh năm 1969.
  5. Chị Võ Thúy K, sinh năm 1981.
  6. Chị Nguyễn Thị Cẩm N (N), sinh năm 1990.

Cùng địa chỉ: Ấp N, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

  1. Chị Nguyễn Thị M3, sinh năm 1986.
  2. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1961

(Bà Nguyễn Thị T1 ủy quyền cho ông Dương Thành N1, sinh năm 1955, chồng bà T1 tham gia giải quyết vụ án theo văn bản ủy quyền lập ngày 17/6/2025)

Cùng địa chỉ: Ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

(Có mặt các người bị hại và đại diện của người bị hại: Bà Võ Thị M1, bà Triệu Mỹ H1, chị Võ Thị H2, bà Nguyễn Thị X, bà Phạm Thị L, bà Nguyễn Thị T1, chị Võ Thúy K, chị Nguyễn Thị M3; vắng mặt người bị hại chị Nguyễn Thị Cẩm N)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào năm 2020, bị cáo Triệu Kim L4 có mở nhiều dây hụi và rủ nhiều người tham gia, gồm các dây hụi 1.000.000đ, 2.000.000đ, 3.000.000đ, 5.000.000đ và quy ước thời gian, địa điểm xổ hụi, người nào bỏ thăm cao thì được hốt, sau khi gom tiền trong 07 ngày thì giao cho người hốt, bị cáo L4 hưởng hoa hồng 50% trên số tiền của mỗi dây hụi. Thời gian đầu bị cáo thực hiện đúng quy ước, nhưng dần về sau bị cáo gặp khó khăn về kinh tế nên có ý định gian dối, lấy tên khống ghi vào danh sách hoặc tự ý lấy tên hụi viên để bỏ thăm và hốt hụi. Với thủ đoạn trên bị cáo đã thực hiện để hốt nhiều phần hụi trong các dây hụi, cụ thể như sau:

  1. Dây hụi 1.000.000đ, mở ngày 15/8/2020 âm lịch, có 28 phần, bị cáo L4 tham gia 01 phần (đã hốt xong), mỗi tháng xổ 01 lần. Đến lần xổ thứ 4 (ngày 15/11/2020 âm lịch) bị cáo L4 tự ý lấy phần hụi viên tên “Hạnh” bỏ thăm 300.000đ, hốt được 700.000đ/ của 25 phần hụi sống và 02 phần hụi chết (đã trừ 01 phần hụi chết của bị cáo) chiếm đoạt số tiền 19.500.000₫ (25 phần hụi sống x 700.000₫) + (02 phần hụi chết x 1.000.000đ = 19.500.000₫). Dây hụi này bị cáo L4 đã thỏa thuận xong với hụi viên Võ Thị M1 (Trân, Chắc, M4) 01 phần hụi đã hốt nhưng bị cáo chưa giao đủ, còn nợ lại 26.000.000đ; nợ hụi viên Triệu Mỹ H1 01 phần, đóng được 27 lần theo thỏa thuận với số tiền 18.900.000đ. Còn lại những hụi viên khác không yêu cầu giải quyết.
  2. Dây hụi 1.000.000đ mở ngày 15/8/2020 âm lịch, có 28 phần, bị cáo L4 tham gia 01 phần (đã hốt xong), mỗi tháng xổ 01 lầni. Đến lần thứ 19 (ngày 15/02/2023 Âm L1) bị cáo L4 tự ý lấy tên “H1” bỏ thăm 370.000đ, hốt 630.000đ của 10 phần hụi sống và 17 phần hụi chết (đã trừ 01 phần hụi chết của bị cáo) chiếm đoạt số tiền 23.300.000₫ (10 phần hụi sống x 630.000đ) + (17 phần hụi chết x 1.000.000đ = 23.300.000đ). Dây hụi này, bị cáo L4 còn nợ lại hụi viên Triệu Mỹ H1 01 phần, đóng được 27 lẫn thỏa thuận với số tiền là 18.900.000đ; bà Nguyễn Thị X hốt nhưng bị cáo chưa giao chưa đủ còn nợ lại 4.000.000đ; còn nợ lại bà Võ Thị M1 theo thỏa thuận với số tiền 62.000.000₫ (02 phần hụi sống 52.000.000đ + 01 phần hụi chết giao chưa đủ còn nợ 10.000.000đ) các hụi viên khác đã tự nguyện thỏa thuận, không có đơn yêu cầu giải quyết.
  3. Dây hụi 3.000.000đ mở ngày 02/4/2021 âm lịch, có 26 phần, bị cáo L4 tham gia 03 phần, ghi tên L4, D, Như L2 (đã hốt xong), xổ được 17 lần thì úp hụi. Ở lần xổ thứ 8 (ngày 02/11/2021 âm lịch) bị cáo L4 tự ý lấy tên của hụi viên “Em Mười” bỏ thăm 750.000đ hốt 2.250.000đ của 19 hụi sống và 04 phần hụi chết (đã trừ 03 phần hốt của bị cáo) chiếm đoạt số tiền 54.750.000₫ (19 phần hụi sống x 2.250.000đ + 04 phần hụi chết x 3.000.000đ = 54.750.000đ). Dây hụi này bị cáo L4 còn nợ lại 05 hụi viên gồm: Võ Thị H2, Nguyễn Thị T1, Võ Thúy K, Phạm Thị L3, Nguyễn Thị M3, mỗi người 01 phần, đóng được 17 lần.
  4. Dây hụi 3.000.000đ, mở ngày 20/11/2021 âm lịch, có 27 phần, bị cáo L4 tham gia 01 phần (đã hốt xong), xổ được 08 lần thì úp hụi. Ở lần xổ thứ 2 (ngày 20/12/2021 âm lịch) bị cáo L4 lấy tên khống “Lon” bỏ thăm 550.000đ hốt 2.450.000đ của 25 hụi sống, chiếm đoạt số tiền 61.250.000đ (25 phần hụi sống x 2.450.000₫ = 61.250.000đ). Dây hụi này bị cáo L4 còn nợ lại các hụi viên gồm: H2 - H3 02 phần; H1 - Mộng Ny 02 phần; N2 - Tiệm 02 phần; T1 01 phần; Em Mười 01 phần, mỗi phần đóng được 08 lần.

Như vậy, tổng cộng bị cáo Triệu Kim L4 có 04 lần thực hiện hành vi gian dối để hốt hụi, chiếm đoạt của các hụi viên tổng số tiền là 158.800.000đ (Một trăm năm mươi tám triệu, tám trăm nghìn đồng).

- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã thu giữ các giấy tờ, tài liệu liên quan đến các dây hụi trong vụ án, đã đưa vào hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự, bị cáo Triệu Kim L4 còn nợ các hụi viên trong 04 dây hụi có hành vi chiếm đoạt tài sản nêu trên với số tiền cụ thể như sau:

  1. Bà Võ Thị M1 đã hốt 04 phần hụi của hai dây hụi thứ nhất và thứ hai với tổng số tiền là 104.000.000đ, bị cáo đã giao cho bà M1 16.000.000đ, còn nợ số tiền 88.000.000₫.
  2. Bà Triệu Mỹ H1 đã hốt 03 phần hụi của ba dây hụi thứ nhất, dây hụi thứ hai và dây hụi thứ tư với tổng số tiền theo thỏa thuận là 74.600.000đ nhưng bị cáo chưa giao tiền cho bà H1.
  3. Bà Nguyễn Thị X đã hốt dây hụi thứ hai, bị cáo đã giao nhưng còn nợ lại số tiền là 4.000.000đ.
  4. Chị Võ Thị H2: Dây hụi 3.000.000đ ngày 02/4/2021 đóng được 17 lần, yêu cầu bị cáo trả theo giá hụi chết với số tiền là 51.000.000đ; dây hụi 3.000.000đ ngày 20/11/2021 tham gia 2 phần đóng được 8 lần yêu cầu tính theo giá hụi chết với số tiền là 48.000.000đ; tổng cộng hai dây hụi là 99.000.000đ nhưng bị cáo chưa thống nhất, yêu cầu tính theo số tiền đóng thực tế bình quân là 2.300.000₫ lần với số tiền nợ là 75.900.000đ (đã khắc phục được 9.000.000đ) còn nợ lại 66.900.000đ. Do hai bên chưa thống nhất nên đề nghị giải quyết tại phiên tòa.
  5. Bà Phạm Thị L: Hụi dây 3.000.000đ ngày 02/4/2021 đóng được 17 lần. yêu cầu tính theo giá hụi chết 3.000.000đ/lần với số tiền là 51.000.000đ nhưng bị cáo chưa thống nhất, yêu cầu tính theo số tiền đóng thực tế bình quân là 2.300.000/ lần với số tiền là 39.000.000đ (đã khắc phục được 9.000.000đ) còn nợ lại 30.000.000đ. Do hai bên chưa thống nhất nên đề nghị giải quyết tại phiên tòa.
  6. Bà Nguyễn Thị M3: Dây hụi 3.000.000đ ngày 02/4/2021 đóng được 17 lần yêu cầu tính theo giá hụi chết (17 lần x 3.000.000đ x 01 phần = 51.000.000đ và dây hụi 3.000.000đ ngày 20/11/2021 đóng được 8 lần yêu cầu tính theo giá hụi chết với số tiền là (8 lần x 3.000.000₫ x 01 phần = 24.000.000đ). Tổng cộng 02 dây hụi số tiền là 75.000.000đ nhưng bị cáo chưa thống nhất yêu cầu tính theo số tiền đóng theo hụi sống bình quân là 2.300.000đ/lần, tổng cộng là 57.500.000đ (đã khắc phục được 11.000.000₫) còn nợ lại 46.500.000đ. Do hai bên chưa thống nhất nên đề nghị giải quyết tại phiên tòa.
  7. Bà Nguyễn Thị T1: Dây hụi 3.000.000đ ngày 02/4/2021 đóng được 17 lần yêu cầu tính theo giá hụi chết (17 lần x 3.000.000₫ x 01 phần = 51.000.000đ) và dây hụi 3.000.000₫ ngày 20/11/2021 đóng được 8 lần (8 lần x 3.000.000đ x 01 phần = 24.000.000₫). Tổng cộng là = 75.000.000đ nhưng bị cáo yêu cầu tính theo số tiền thực tế sống bình quân là 2.300.000₫ lần. Tổng cộng với số tiền là 57.500.000đ (đã khắc phục được 5.000.000₫) còn nợ lại 52.500.000đ. Do hai bên chưa thống nhất nên đề nghị giải quyết tại phiên tòa.
  8. Chị Võ Thúy K: dây hụi 3.000.000đ đóng được 17 lần yêu cầu tính theo giá hụi chết (17 lần x 3.000.000đ x 01 phần = 51.000.000₫) nhưng bị cáo không thống nhất yêu cầu trả theo giá hụi sống bình quân là 2.300.000đ /lần = 39.000.000đ (đã khắc phục được 13.000.000đ) còn nợ lại 26.00.000đ. Do hai bên chưa thống nhất nên đề nghị giải quyết tại phiên tòa.
  9. Chị Nguyễn Thị Cẩm N: Dây hụi 3.000.000đ ngày 20/11/2021 đóng được 8 lần yêu cầu tính theo giá hụi chết (8 lần x 3.000.000đ x 02 phần = 48.000.000đ) nhưng bị cáo yêu cầu trả theo giá hụi sống (8 lần x 2.300.000đ x 02 phần = 36.800.000₫). Do hai bên chưa thống nhất nên đề nghị giải quyết tại phiên tòa.

Tại bản Cáo trạng số 83/CT-VKS-AM ngày 31/8/2024 và văn bản số 01/VKS-HS ngày 02/4/2025 và văn bản số 02/VKS-HS ngày 30/5/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Triệu Kim L4 về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

- Tuyên bố bị cáo Triệu Kim L4 phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Triệu Kim L4 mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa bị cáo và những người bị hại, đại diện của những người bị hại có mặt tại phiên tòa về việc khắc phục số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt và còn nợ.

Bị cáo thừa nhận đã chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Cẩm N số tiền là 48.000.000₫ và đã khắc phục được cho chị N số tiền là 3.000.000đ nhưng bị cáo không chứng minh được việc khắc phục này. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý khắc phục số tiền 48.000.000₫ này cho chị N nên đề nghị HĐXX xem xét buộc bị cáo hoàn trả cho chị N số tiền là 48.000.000₫.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh đã truy tố, bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo ở ngoài xã hội đi làm để có thu nhập tiếp tục hoàn trả lại số tiền cho những người bị hại.

- Những người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại có mặt xin giảm nhẹ hình phạt và xem xét cho bị cáo được ở ngoài xã hội để đi làm có thu nhập, khắc phục hậu quả cho những người bị hại.

- Về trách nhiệm dân sự, bị cáo và những người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại có mặt đã thống nhất thỏa thuận về số tiền, thời gian và phương thức hoàn trả số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt và còn nợ như sau:

Hoàn trả lại cho bà Võ Thị M1 và các con của bà M1 là chị Trần Thị Diễm M2, Trần Thị Huyền T số tiền tổng cộng là 116.100.000đ, trong đó tiền của bà Võ Thị M1 là 38.100.000đ, tiền của chị Trần Thị Huyền T là 52.000.000, tiền của chị Trần Thị Diễm M2 là 26.000.000₫.

Hoàn trả lại cho bà Triệu Mỹ H1 số tiền là 74.600.000đ; hoàn trả cho chị Võ Thị H2 số tiền là 90.000.000đ; hoàn trả cho bà Nguyễn Thị X số tiền là 4.000.000đ; hoàn trả cho bà Phạm Thị L số tiền là 39.000.000đ; hoàn trả cho bà Nguyễn Thị T1 số tiền là 70.000.000đ; hoàn trả cho chị Võ Thúy K số tiền là 38.000.000đ; hoàn trả cho bà Nguyễn Thị M3 số tiền là 64.000.000đ; hoàn trả cho chị Nguyễn Thị Cẩm N số tiền là 48.000.000₫.

Về thời gian và phương thức hoàn trả: Mỗi tháng bị cáo Triệu Kim L4 hoàn trả cho các bị hại bà Võ Thị M1, chị Trần Thị Diễm M2, Trần Thị Huyền T, bà Triệu Mỹ H1, bà Nguyễn Thị X, bà Phạm Thị L, bà Nguyễn Thị T1 số tiền là 500.000đ/tháng/người; hoàn trả cho những người bị hại bà Võ Thị H2, bà Nguyễn Thị M3, chị Võ Thúy K số tiền là 1.000.000đ/tháng/người cho đến khi trả xong số tiền đã thỏa thuận.

Thời gian bắt đầu trả là vào ngày 23/9/2025, trường hợp bị cáo Triệu Kim L4 vi phạm thời gian hoàn trả lại số tiền theo thỏa thuận nêu trên thì các bị hại bà Võ Thị M1, chị Trần Thị Diễm M2, Trần Thị Huyền T, bà Triệu Mỹ H1, bà Nguyễn Thị X, bà Phạm Thị L, bà Nguyễn Thị T1, bà Võ Thị H2, bà Nguyễn Thị M3, chị Võ Thúy K có quyền yêu cầu thi hành án một lần đối với toàn bộ số tiền có nghĩa vụ hoàn trả còn lại.

Bị cáo đồng ý hoàn trả lại cho người bị hại chị Nguyễn Thị Cẩm N số tiền là 48.000.000₫

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến năm 2023, do làm chủ nhiều dây hụi bị thâm hụt nhiều tiền nên bị cáo Triệu Kim L4 đã dùng thủ đoạn gian dối là dùng tên của một số hụi viên không thường xuyên đi bỏ thăm hoặc đưa tên khống vào danh sách hụi viên, để bỏ thăm và hốt hụi chiếm đoạt của nhiều bị hại với tổng số tiền là 158.800.000đ (Một trăm năm mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng).

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định bị cáo Triệu Kim L4 đã dùng thủ đoạn gian dối trong quá trình làm chủ các dây hụi để chiếm đoạt số tiền của các bị hại là 158.800.000đ. Từ đó đủ cơ sở kết luận bị cáo Triệu Kim L4 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Do quá trình làm chủ hụi bị thâm hụt nhiều tiền nên Triệu Thị Kim L4 đã dùng các thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều bị hại với số tiền tổng cộng là 158.800.000đ. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người trưởng thành, ý thức được việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài, trang trải cuộc sống trong thời gian nhanh nhất mà không phải bỏ công ra lao động chân chính, bị cáo đã bất chấp thức hiện với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xử bị cáo một mức án thật nghiêm, tương xứng với tính chất và hậu quả hành vi phạm tội, để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt sống có ích cho xã hội, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời có tác dụng phòng ngừa chung trong xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đề HĐXX xem xét áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Triệu Kim L4 mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù giam là đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, xét thấy rằng bị cáo phạm tội lần đầu, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã khắc phục được một phần số tiền chiếm đoạt cho người bị hại, tại phiên tòa bị cáo cũng đã thống nhất thỏa thuận được số lượng và thời gian khắc phục số tiền chiếm đoạt của những người bị hại, những người bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo chấp hành án ở ngoài xã hội để đi làm có thu nhập khắc phục hậu quả nên không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo một thời gian cũng đủ răn đe đối với bị cáo, đồng thời cũng tạo điều kiện cho bị cáo sớm khắc phục số tiền chiếm đoạt của người bị hại.

Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với các dây hụi khác, gồm: Dây thứ năm, hụi 2.000.000đ, áp ngày 09/3/2020 âm lịch; dây hụi thứ sáu, hụi 3.000.000đ, áp ngày 15/8/2020 âm lịch; dây hụi thứ bảy, hụi 2.000.000đ, áp ngày 02/5/2021 âm lịch; dây hụi thứ tám, hụi 5.000.000đ, hụi áp ngày 02/4/2021 âm lịch; dây hụi thứ chín, hụi 2.000.000đ, áp ngày 09/02/2022 âm lịch. Qua điều tra xác định các dây hụi không có dấu hiệu tội phạm nên Cơ quan điều tra đã thông báo cho những người có liên quan khởi kiện vụ án dân sự nên HĐXX không đề cập xem xét giải quyết trong vụ án này.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Triệu Kim L4 có một tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự là phạm tội 02 lần trở lên.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã khắc phục được một phần số tiền chiếm đoạt cho người bị hại, tại phiên tòa bị cáo cũng đã thống nhất thỏa thuận được số lượng và thời gian khắc phục số tiền chiếm đoạt của những người bị hại, những người bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử cho bị cáo được ở ngoài xã hội để đi làm có thu nhập tiếp tục khắc phục lại số tiền cho người bị hại. Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát huyện A về đề nghị áp dụng tội danh và hình phạt, Hội đồng xét xử thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tuyên bố bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, về hình phạt Hội đồng xét xử không đồng ý với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát như phần nhận định đã nêu.

[6] Về các vấn đề khác:

- Về trách nhiệm dân sự, ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và người bị hại, người đại diện theo ủy quyền của người bị hại có mặt tại phiên tòa: Bị cáo có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà Võ Thị M1 và các con của bà M1 là chị Trần Thị Diễm M2, Trần Thị Huyền T số tiền tổng cộng là 116.100.000đ, trong đó số tiền của bà Võ Thị M1 là 38.100.000đ, số tiền của chị Trần Thị Huyền T là 52.000.000đ, số tiền của chị Trần Thị Diễm M2 là 26.000.000đ; hoàn trả lại cho bà Triệu Mỹ H1 số tiền là 74.600.000đ; hoàn trả cho bà Võ Thị H2 số tiền là 90.000.000đ; hoàn trả cho bà Nguyễn Thị X số tiền là 4.000.000đ; hoàn trả cho bà Phạm Thị L số tiền là 39.000.000đ; hoàn trả cho bà Nguyễn Thị T1 số tiền là 70.000.000đ; hoàn trả cho chị Võ Thúy K số tiền là 38.000.000đ; hoàn trả cho bà Nguyễn Thị M3 số tiền là 64.000.000đ; hoàn trả cho chị Nguyễn Thị Cẩm N số tiền là 48.000.000₫.

Về thời gian và phương thức hoàn trả: Mỗi tháng bị cáo Triệu Kim L4 hoàn trả cho các bị hại bà Võ Thị M1, chị Trần Thị Diễm M2, Trần Thị Huyền T, bà Triệu Mỹ H1, bà Nguyễn Thị X, bà Phạm Thị L, bà Nguyễn Thị T1 số tiền là 500.000đ/tháng/người; hoàn trả cho những người bị hại bà Võ Thị H2, bà Nguyễn Thị M3, chị Võ Thúy K số tiền là 1.000.000đ/tháng/người cho đến khi trả xong số tiền đã thỏa thuận.

Thời gian bắt đầu trả là vào ngày 23/9/2025, trường hợp bị cáo Triệu Kim L4 vi phạm thời gian hoàn trả lại số tiền theo thỏa thuận nêu trên thì các bị hại bà Võ Thị M1, chị Trần Thị Diễm M2, Trần Thị Huyền T, bà Triệu Mỹ H1, bà Nguyễn Thị X, bà Phạm Thị L, bà Nguyễn Thị T1, bà Võ Thị H2, bà Nguyễn Thị M3, chị Võ Thúy K có quyền yêu cầu thi hành án một lần đối với toàn bộ số tiền có nghĩa vụ hoàn trả còn lại.

Buộc bị cáo hoàn trả lại cho người bị hại chị Nguyễn Thị Cẩm N số tiền là 48.000.000₫

- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm đối với tiền mà bị cáo có trách nhiệm hoàn trả lại cho những người bị hại với số tiền tổng cộng là 543.700.000đ (Năm trăm bốn mươi ba triệu bảy trăm ngàn đồng).

Số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 543.700.000đ sẽ là [400.000.000₫ là 20.000.000đ + (143.700.000₫ x 4% = 5.748.000₫)] = 25.748.000₫ (Hai mươi lăm triệu, bảy trăm bốn mươi tám ngàn đồng)

Tổng số tiền án phí buộc bị cáo phải nộp là 25.948.000đ (Hai mươi lăm triệu, chín trăm bốn mươi tám ngàn đồng)

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Triệu Kim L4 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Triệu Kim L4 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/6/2025).

Giao bị cáo Triệu Kim L4 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Triệu Kim L4 có trách nhiệm hoàn trả cho bà Võ Thị M1 số tiền là 38.100.000₫ (Ba mươi tám triệu, một trăm ngàn đồng), hoàn trả cho chị Trần Thị Huyền T số tiền là 52.000.000đ (Năm mươi hai triệu đồng), hoàn trả cho chị Trần Thị Diễm M2 số tiền là 26.000.000₫ (Hai mươi sáu triệu đồng); hoàn trả cho bà Triệu Mỹ H1 số tiền là 74.600.000₫ (Bảy mươi bốn triệu, sáu trăm ngàn đồng); hoàn trả cho bà Võ Thị H2 số tiền là 90.000.000đ (Chín mươi triệu đồng); hoàn trả cho bà Nguyễn Thị X số tiền là 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng); hoàn trả cho bà Phạm Thị L số tiền là 39.000.000₫ (Ba mươi chín triệu đồng); hoàn trả cho bà Nguyễn Thị T1 số tiền là 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng); hoàn trả cho chị Võ Thúy K số tiền là 38.000.000₫ (Ba mươi tám triệu đồng); hoàn trả cho bà Nguyễn Thị M3 số tiền là 64.000.000₫ (Sáu mươi bốn triệu đồng).

Về thời gian và phương thức hoàn trả: Mỗi tháng bị cáo Triệu Kim L4 hoàn trả cho các bị hại bà Võ Thị M1, chị Trần Thị Diễm M2, Trần Thị Huyền T, bà Triệu Mỹ H1, bà Nguyễn Thị X, bà Phạm Thị L, bà Nguyễn Thị T1 số tiền là 500.000đ/tháng/người; hoàn trả cho những người bị hại bà Võ Thị H2, bà Nguyễn Thị M3, chị Võ Thúy K số tiền là 1.000.000đ/tháng/người cho đến khi trả xong số tiền đã thỏa thuận.

Thời gian bắt đầu trả là vào ngày 23/9/2025, trường hợp bị cáo Triệu Kim L4 vi phạm thời gian hoàn trả lại số tiền theo thỏa thuận nêu trên thì các bị hại bà Võ Thị M1, chị Trần Thị Diễm M2, Trần Thị Huyền T, bà Triệu Mỹ H1, bà Nguyễn Thị X, bà Phạm Thị L, bà Nguyễn Thị T1, bà Võ Thị H2, bà Nguyễn Thị M3, chị Võ Thúy K có quyền yêu cầu thi hành án một lần đối với toàn bộ số tiền có nghĩa vụ hoàn trả còn lại.

Buộc bị cáo hoàn trả lại cho người bị hại chị Nguyễn Thị Cẩm N số tiền là 48.000.000₫ (Bốn mươi tám triệu đồng), thời gian và phương thức hoàn trả được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

  1. Án phí sơ thẩm vụ án: Buộc bị cáo Triệu Kim L4 phải nộp án phí sơ thẩm vụ án với số tiền tổng cộng là 25.948.000₫ (Hai mươi lăm triệu, chín trăm bốn mươi tám ngàn đồng). Trong đó, án phí hình sự là 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) và án phí dân sự là 25.748.000₫ (Hai mươi lăm triệu, bảy trăm bốn mươi tám ngàn đồng)
  2. Quyền kháng cáo: Bị cáo và những người bị hại, người đại diện của người bị hại có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/6/2025). Bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - TAND tỉnh;
  • - Sở Tư Pháp;
  • - NTG, CA huyện;
  • - THADS huyện, THAHS;
  • - Bị cáo;
  • - Những người TGTT;
  • - UBND phường, xã,
  • thị trấn nơi bị cáo cư trú
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lư Quốc Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Triệu Kim L về tội lửa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger