Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HS-ST

Ngày 21 - 11 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Chúc và bà Lò Thị Minh.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Điệp, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh T, sinh ngày: 05/02/1982 tại phường M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh T1 và bà Đỗ Thị L; có vợ là Nguyễn Thị O (đã ly hôn), có 01 con; Tiền án: Không;

Tiền sự:

  • Ngày 23/7/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 23/7/2021 (chưa được xóa tiền sự);
  • Ngày 14/3/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 14/3/2025 (chưa được xóa tiền sự);

Nhân thân:

  • Tại Bản án số 18/HS-ST ngày 28/3/2001 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La bị xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích);
  • Tại Bản án số 100/HS-ST ngày 15/9/2004 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La bị xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích);
  • Tại Bản án số 189/2006/HS-ST ngày 29/9/2006 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La bị xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích);
  • Tại Bản án số 65/2009/HS-PT ngày 18/6/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La bị xử phạt 18 tháng tù về tội Đánh bạc (đã được xóa án tích);
  • Tại Bản án số 23/2012/HS-ST ngày 21/02/2012 Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La bị xử phạt 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích);
  • Ngày 20/6/1998, bị Ủy ban nhân dân tỉnh S quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường G với thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 10/3/2000 (đã được xóa tiền sự).

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2025 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 21/8/2025, Công an phường M, tỉnh Sơn La tiến hành kiểm tra, test ma túy định kỳ đối với Nguyễn Minh T là đối tượng đang thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú (Theo Quyết định số: 108/QĐ-QLSC ngày 25/4/2025 của Ủy ban nhân dân phường M, tỉnh Sơn La, thời hạn quản lý từ ngày 25/4/2025 đến ngày 25/4/2026), kết quả Nguyễn Minh T dương tính với chất ma tuý. Vì vậy, cùng ngày 21/8/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S tiến hành test ma tuý lần 2 đối với Nguyễn Minh T, kết quả Nguyễn Minh T dương tính với chất ma tuý, loại Methamphetamine và Heroine nên đã tổ chức thu mẫu nước tiểu của Nguyễn Minh T, mẫu có ký hiệu T1 gửi giám định chất ma túy và lập biên bản sự việc để điều tra xử lý.

Tại Kết luận giám định độc chất số 656/937/25/KLGĐĐC-PYQG ngày 27/8/2025 của V kết luận: “Mẫu nước tiểu có tìm thấy M, A và M1”.

Quá trình điều tra, Nguyễn Minh T khai nhận: Bản thân đang trong quá trình quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú. Khoảng 09 giờ ngày 19/8/2025, T thuê xe ôm đi vào xã L, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến địa phận xã L, T một mình đi bộ đến khu vực biên giới V - Lào thuộc bản H, xã L thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, khoảng 40 tuổi, nhìn giống người nghiện ma túy, T hỏi và mua được của người đàn ông đó 05 viên hồng phiến với giá 150.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T vào một bụi cây ven đường rồi lấy 03 viên hồng phiến cho vào một mảnh giấy bạc, sử dụng chiếc bật lửa màu đỏ đã chuẩn bị sẵn từ trước đốt hít trực tiếp vào cơ thể. Sau khi sử dụng ma túy xong, T gói 02 viên hồng phiến vào mảnh nilon cất giấu cùng chiếc bật lửa ga màu đỏ và mảnh giấy bạc vào túi quần bên phải rồi đi về nhà. Đến khoảng 05 giờ ngày 20/8/2025, T đi bộ ra khu vực hồ B thuộc Tổ dân phố E, phường M, tỉnh Sơn La sử dụng hết 02 viên hồng phiến còn lại, sau khi sử dụng ma túy xong T đã ném bỏ mảnh nilon, mảnh giấy bạc và chiếc bật lửa ga màu đỏ xuống hồ rồi đi về nhà. Đến ngày 21/8/2025, Công an phường M yêu cầu T đến trụ sở để kiểm tra chất ma tuý định kỳ đối với người đang trong diện quản lý sau cai nghiện, kết quả T dương tính với chất ma túy nên đã tiến hành lấy mẫu nước tiểu của T để giám định chất ma túy theo quy định.

Ngày 22/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Minh T, kết quả không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Ngày 03/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S tiến hành xác định hiện trường nơi Nguyễn Minh T sử dụng trái phép chất ma túy. Hiện trường được xác định là khu vực hồ B thuộc Tổ dân phố E, phường M, tỉnh Sơn La. Vị trí Nguyễn Minh T thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trên đường bao quanh bờ hồ. Phía Đông Bắc giáp khu dân cư. Phía Tây Nam tiếp giáp bờ hồ B. Phía T tiếp giáp đường nội thị hướng ra quốc lộ F thuộc Tổ dân phố E, phường M, tỉnh Sơn La. Tại hiện trường, vị trí nơi Nguyễn Minh T sử dụng ma túy là đường bê tông bao quanh khu vực bờ hồ, mặt đường rộng 3,6 m; cách đường nội thị ra đường Q là 37,40 m; cách bờ hồ 0,7 m; cách tường sau nhà Cường C 2,90 m. Cơ quan điều tra truy tìm mảnh giấy bạc, mảnh nilon màu hồng cùng chiếc bật lửa ga màu đỏ nhưng không phát hiện thu giữ được.

Ngày 03/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã cho Nguyễn Minh T diễn lại hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 19/8/2025, kết quả Nguyễn Minh T diễn lại phù hợp với lời khai của T tại Cơ quan điều tra.

Tại Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 29/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La truy tố bị can Nguyễn Minh T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

* Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Minh T trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

* Tranh luận tại phiên tòa:

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
    • Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
    • Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Nguyễn Minh T.
    • Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
  • Bị cáo Nguyễn Minh T nhất trí với toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

* Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo khai ngày 20/8/2025 là lần gần nhất bị cáo có hành vi sử dụng ma túy bằng hình thức đốt hít vào cơ thể tại khu vực khu vực hồ B thuộc Tổ dân phố E, phường M, tỉnh Sơn La; đến ngày 21/8/2025 bị Cơ quan Công an mời đến kiểm tra chất ma túy định kỳ, kết quả kiểm tra dương tính với chất ma túy.

Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Minh T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy (theo Quyết định số: 108/QĐ-QLSC ngày 25/4/2025 về quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú của Ủy ban nhân dân phường M, tỉnh Sơn La, thời hạn quản lý từ ngày 25/4/2025 đến ngày 25/4/2026), đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, được thể hiện: Thông qua kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Nguyễn Minh T ngày 21/8/2025, có kết quả dương tính với ma túy; phù hợp với lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa là ngày 20/8/2025 bị cáo đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, phù hợp với biên bản làm việc về việc test thử chất ma túy ngày 21/8/2025; biên bản sự việc ngày 21/8/2025; kết luận giám định; biên bản xác định hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường; biên bản, bản ảnh thực nghiệm điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên, có căn cứ xác định Nguyễn Minh T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy khi đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy, đủ yếu tố cấu thành tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025), quy định bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm.

Do đó, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân rất xấu, có nhiều tiền án (đã được xóa án tích) về các tội Trộm cắp tài sản, Đánh bạc, Tàng trữ trái phép chất ma túy; có nhiều tiền sự bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; mới chấp hành xong cai nghiện bắt buộc trở về địa phương ngày 14/3/2025, đang chịu sự quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú nhưng bị cáo vẫn tiếp tục tái nghiện ma túy dẫn đến có hành vi phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật.

[5] Về mức hình phạt áp dụng: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với mẫu nước tiểu ký hiệu T1 đã sử dụng hết trong quá trình giám định; đối với mẫu nước tiểu dự phòng ký hiệu T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành tiêu hủy theo quy định là phù hợp.

Đối với 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Nguyễn Minh T, xét thấy là vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Nguyễn Minh T, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

Thời hạn tạm giam đối với bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 21/8/2025.

2. Về xử lý vật chứng của vụ án:

Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Nguyễn Minh T.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 34/BBVC-THA ngày 14/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Sơn La).

3. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/11/2025).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - Công an tỉnh Sơn La;
  • - VKSND khu vực 6 – Sơn La;
  • - Phòng THADS khu vực 6 - Sơn La;
  • - Trại giam Công an tỉnh;
  • - THAHS;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đỗ Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA về sử dụng trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy khi đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger