Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 – THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HS-ST

Ngày 29/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÁI NGUYÊN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ÔngNguyễn Thái Công

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lục Thị Xinh và ông Nông Quang Mỹ.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Thuật - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên xét xử công khai theo hình thức trực tuyến tại 02 điểm cầu: Điểm cầu Trung tâm Phòng xét xử Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên và điểm cầu thành phần Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh T vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2025/TLST- HS ngày 05/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST- HS ngày 15/12/2025 đối với bị cáo:

Dương Văn T (tên gọi khác không), sinh ngày21 tháng 01 năm 1991 tại xã P, tỉnh Thái Nguyên; Căn cước công dân số: [...]; Nơi thường trú: Thôn B, xã P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn T1, sinh năm 1971 và bà Hoàng Thị H, sinh năm 1973; Bị cáo có vợ là Cà Thị C, sinh năm 1995 (đã ly hôn) và 02 con, con thứ nhất sinh năm 2016, con thứ hai sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số 32/2010/HSST ngày 28/6/2010 bị Tòa án nhân dân khu vực 6 - Thái Nguyên (Tòa án nhân dân thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn cũ) xử phạt 07 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Tại bản án số 27/2010/HSST ngày 17/9/2010 bị Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên (Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn cũ) xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Cả hai bản án trên đến ngày 21/7/2011 chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án; Tại bản án số 32/2013/HSST ngày 16/8/2013 bị Tòa án nhân dân khu vực 6 - Thái Nguyên (Tòa án nhân dân thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn cũ) xử phạt 15 tháng tù về tội cướp giật tài sản, đến ngày 14/6/2014 đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2025 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Dương Văn T2, sinh năm 1997. Trú tại: Thôn B, xã P, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Anh Bùi Xuân B, sinh năm 1992.Trú tại: 2 N, phường B, thành phố Hà Nội (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 30 phút ngày 14/8/2025, Tổ công tác Công an xã P, tỉnh Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ gần trạm y tế xã thuộc thôn N, xã P, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện và bắt quả tang Dương Văn T, sinh năm 1991, trú tại thôn B, xã P, tỉnh Thái Nguyên tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra, thu giữ trong lòng bàn tay trái của Dương Văn T 01 gói được gói bằng giấy sách tiếng Anh, bên trong có 04 gói nhỏ, trong đó có 03 gói đều có chứa chất bột màu trắng dạng bột và cục được gói bằng giấy sách tiếng anh và 01 gói còn lại được gói bằng giấy sách học sinh màu xanh bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng bột và cục. Công an xã P tiến hành niêm phong các gói trên vào phong bì ký hiệu “T1”. Ngoài ra còn tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO bên trong có sim số 0338.868.628; 01 ví da màu nâu bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Dương Văn T; 01 giấy phép lái xe mang tên Dương Văn T; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Air Blade, biển kiểm soát 97B2 - 313.88. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Dương Văn T tại thôn B, xã P, tỉnh Thái Nguyên nhưng không phát hiện, thu giữ gì.

Cùng ngày Cơ quan Công an xã tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng chất ma túy tạm giữ của Dương Văn T cho kết quả: Chất bột màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu “T1” có khối lượng là 0,925g (không phẩy chín hai năm gam) niêm phong vào trong phong bì ký hiệu “T5” gửi giám định, gói giấy cũ được niêm phong vào phong bì ký hiệu “T4” để xử lý theo vụ án.

Tại bản kết luận giám định số 149/KL-KTHS ngày 19/8/2025của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng bột và cục trong phong bì ký hiệu T5 gửi giám định là ma túy, loại heroine (H1), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, khối lượng chất ma túy có trong phong bì ký hiệu T5 gửi giám định là 0,925g.

Quá trình điều tra xác định hành vi phạm tội như sau: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 14/8/2025 Dương Văn T mượn xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe AIRBLADE, biển kiểm soát 97B2-313.88 của Dương Văn T2 (sinh năm 1997, trú tại thôn B, xã P, tỉnh Thái Nguyên là em trai ruột của T) đi từ nhà tại thôn B, xã P, tỉnh Thái Nguyên ra đến khu vực uống M thuộc Phường Đ, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy (Heroine) về sử dụng, khi đến khu vực trên thì gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi T không biết họ tên địa chỉ của người đàn ông đó và T có hỏi và mua được với người đàn ông một gói ma túy với số tiền 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy T điều khiển xe đi về, khi đến khu vực Trạm y tế xã P thuộc thôn N, xã P, tỉnh Thái Nguyên thì bị tổ công tác Công an xã P kiểm tra phát hiện thu giữ trong lòng bàn tay trái T có 01 gói được gói bằng giấy có dòng chữ (nước ngoài), bên trong có có 04 gói nhỏ ma túy (Heroine).

Tại Cáo trạng số: 09/CT - VKSKV7 ngày 03/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Dương Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Thái Nguyên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Dương Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Xử phạt bị cáo Dương Văn T từ 03 năm 09 tháng tù đến 04 năm tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • + Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu T09 bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu T5 còn lại 0,866g (không phẩy tám sáu sáu gam) cùng toàn bộ phong bì, bao gói cũ hoàn trả sau giám định, 01 phong bì niêm phong ký hiệu T4;
  • + Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO loại màn hình cảm ứng, mặt sau màu xanh tím, bên trong có 01 thẻ sim điện thoại số 0338.868.xxx cũ đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “T6;
  • + Trả lại cho bị cáo 01 thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Dương Văn T sinh ngày 21/01/1991 do Cục C1 - Bộ C2 cấp ngày 27/6/2021; 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Dương Văn T được niêm phong trong phong bì ký hiệu “T3"; 01 ví giả da nâu cũ đã qua sử dụng.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và không có ý kiến tranh luận gì tại phần tranh tụng. Lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 14/8/2025, tại thôn N, xã P, tỉnh Thái Nguyên, Dương Văn T sinh năm 1991, trú tại: Thôn B, xã P, tỉnh Thái Nguyên đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,925g (không phẩy chín hai năm gam) ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương và phát sinh các loại tội phạm khác. Do vậy, việc khởi tố, điều tra và truy tố đối với bị cáo Dương Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) là có căn cứ, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.

c) Heroine...........có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Hình phạt, tình tiết giảm nhẹ, các vấn đề khác và Điều luật mà kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án nhiều lần về hành vi trộm cắp tài sản và hành vi cướp giật tài sản.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải".

[4] Về hình phạt:

[4.1] Về hành phạt chính: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù tại trại giam đối với bị cáo mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4.2] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có tài sản riêng và nghề nghiệp ổn định do vậy không xem xét áp dụng.

[5] Về các vấn đề liên quan khác:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Dương Văn T vào ngày 13/8/2025, chưa đủ yếu tố cấu thành tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 256a của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan đến Công an xã P, tỉnh Thái Nguyên đề nghị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định.

Đối với hành vi của Dương Văn T2 mua và sử dụng chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe AIRBLADE màu đen biển kiểm soát 97B2-313.88 là vật chứng trong vụ án khác, khi mua Dương Văn T2 không biết đó là xe do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra Công an tỉnh T đã chuyển toàn bộ tài liệu cùng chiếc xe trên cho Công an phường B, thành phố Hà Nội để điều tra xử lý theo quy định.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo Dương Văn T khai mua với một người đàn ông ở khu vực uống M thuộc Phường Đ, tỉnh Thái Nguyên. Kết thúc điều tra vụ án Trăm không cung cấp được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, điều tra, xử lý.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe AIRBLADE màu đen đã qua sử dụng biển kiểm soát 97B2-313.88 và chìa khóa xe mà Dương Văn T sử dụng đi mua ma túy. Qua xác minh chiếc xe mô tô trên là vật chứng của vụ án trộm cắp tài sản xảy ra tại 2 N, Phường B, thành Phố Hà Nội. Ngày 18/11/2025 Cơ quan điều tra Công an tỉnh T đã có công văn số A535/CV-CSMT về việc chuyển chiếc xe mô tô trên cùng các tài liệu liên quan đến Công an phường B, thành phố Hà Nội để giải quyết theo quy định của pháp luật. Việc xử lý vật chứng như vậy là phù hợp với quy định.

- Đối với 01 phong bì niêm phong ký hiệu T09 bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu T5 còn lại 0,866g (không phẩy tám sáu sáu gam) cùng toàn bộ phong bì, bao gói cũ hoàn trả sau giám định; 01 phong bì niêm phon ký hiệu T4. Xét không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO loại màn hình cảm ứng, mặt sau màu xanh tím, bên trong có 01 thẻ sim điện thoại số 0338.868.xxx cũ đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “T6”. Xét cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

- Đối với 01 thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Dương Văn T sinh ngày 21/01/1991 do Cục C1 - Bộ C2 cấp ngày 27/6/2021; 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Dương Văn T được niêm phong trong phong bì ký hiệu “T3”; 01 ví giả da nâu cũ đã qua sử dụng của Dương Văn T. Xét không liên quan đến vụ án do vậy cần trả lại cho bị cáo.

[7] Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, khoản 1 Điều 47, điểm s khoản 1Điều 51 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:
    1. Về hình phạt chính:

      Xử phạt bị cáo Dương Văn T 03 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo 15/8/2025.

    2. Về hình phạt bổ sung:

      Không áp dụng đối với bị cáo.

  3. Về xử lý vật chứng:
    1. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã được niêm phong ký hiệu “T4”; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “T09";
    2. Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Dương Văn T và 01 căn cước công dân số [...] mang tên Dương Văn T. Toàn bộ giấy tờ trên được niêm phong trong phong bì ký hiệu “T3”;
    3. Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, mặt sau màu tím, màn hình cảm ứng bên trong có 01 sim điện thoại số 0338.868.xxx được niêm phong trong phong bì ký hiệu “T6” và 01 ví da màu nâu cũ đã qua sử dụng.
  4. (Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09 tháng 12 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Thái Nguyên).

  5. Về biện pháp bảo đảm thi hành án: Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án đối với bị cáo.
  6. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.”

  1. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND Khu vực 7 – Thái Nguyên;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh;
  • - Phòng THADSKhu vực 7;
  • - THAHS;
  • - Bị cáo, người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thái Công

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lục Thị Xinh Nông Quang Mỹ

Nguyễn Thái Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Dương Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger