Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC KẠN


Bản án số: 25/2025/HS-ST

Ngày 19 - 6 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Doanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Huyền

Ông Vi Thanh Cầm

Thư ký phiên tòa: Bà Lường Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Đậu Xuân Hà và ông Vũ Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 19/6/2025 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 22/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HS, ngày 05/6/2025 đối với các bị cáo:

DƯƠNG VĂN H (tên gọi khác: Không có); sinh ngày 08/8/1966 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tiểu khu B, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình dộ văn hóa: 10/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Thịnh H1 (đã chết) và bà Dương Thị H2 (sinh năm 1939); vợ là Vy Thị H3; con: có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 21/12/2024 đến 30/12/2024; đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.

LÝ THỊ H6 (tên gọi khác: Không có); sinh ngày 08/9/1974 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT: Thôn K, xã Y, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Lý Văn L (đã chết) và bà Lý Thị N (sinh năm 1939); chồng là Phan Văn S; con có 02 con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ từ ngày 21/12/2024 đến 30/12/2024; đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.

NGUYỄN ĐÌNH T (tên gọi khác: Không có); sinh ngày 15/4/1975 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình T1 (sinh năm 1950) và bà Lê Thị S1 (đã chết); vợ là Hoàng Thị P; con: có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 21/12/2024 đến 30/12/2024; đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.

TRẦN THỊ N1 (tên gọi khác: Không có); sinh ngày 01/7/1964 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Nùng; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L1 và bà Hoàng Thị P1 (đều đã chết); chồng là Lường Văn L2 (đã chết); con: Có 04 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 21/12/2024 đến 30/12/2024; đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.

ĐINH THỊ HỒNG V1 (tên gọi khác: Không có); sinh ngày 26/12/1966 tại huyện D, tỉnh Hà Nam; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ F, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn T2 và bà Nguyễn Thị M (đều đã chết); chồng là Dương Trọng D (sinh năm 1963); con: Có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 01/02/2007 bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”; đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.

ĐÀO XUÂN H8 (tên gọi khác: Không có); sinh ngày 22/12/1970 tại thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ B, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Mạnh H4 (đã chết) và bà Phạm Thị V (sinh năm 1944); vợ là Nguyễn Thị L3 (đã ly hôn); con: Có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Vi Thị T3, sinh năm 1956; địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Nông Thị L4, sinh năm 1962; địa chỉ: Tiểu khu F, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Triệu Thị T4, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Ma Thị X, sinh năm 1969, địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Nguyễn Thị T5, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Lương Thị X1, sinh năm 1968; địa chỉ: Tiểu khu I, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Lâm Thị T6, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Hoàng Văn C, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Tô Văn T7, sinh năm 1962, địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Vi Thị H5, sinh năm 1965; địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Phan Văn S, sinh năm 1967; Thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ, ngày 19/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc Dương Văn H, sinh năm 1966, trú tại tiểu khu B, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn vào các buổi chiều hàng ngày thường xuyên tổ chức cho nhiều đối tượng trên địa bàn huyện B đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề trái phép qua điện thoại di động. Buổi chiều ngày 19/12/2024, Dương Văn H sẽ tiếp tục hoạt động. Sau khi nhận tin báo, Phòng Cảnh sát hình sự Cong an tỉnh B đã thành lập các tổ công tác phối hợp với chính quyền địa phương tiến hành xác minh, kiểm tra và triệu tập làm việc với các đối tượng có hành vi đánh bạc hoặc nghi vấn thực hiện hành vi đánh bạc thông qua hình thức mua bán số lô, số đề.

Kết quả kiểm tra, làm việc các đối tượng nêu trên đều thừa nhận bản thân được đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề qua điện thoại di động. Trong đó, Dương Văn H khai được nhận số lô, số đề từ người khác rồi tổng hợp lại và chuyển cho Đinh Thị Hồng V1, sinh năm 1966, trú tại tổ F, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên để hưởng tiền chênh lệch; riêng các số lô, số đề nhận trong ngày 19/12/2024 thì H chưa chuyển cho V1 thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện.

Trong các ngày 19 và 20/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra lệnh khám xét khẩn cấp đối với Dương Văn H, Lý Thị H6, sinh năm 1974, trú tại thôn P, xã Đ, huyện B và Đinh Thị Hồng V1. Quá trình triệu tập làm việc và khám xét phát hiện đã tạm giữ 23 điện thoại di động các loại, tổng số tiền 34.400.000đ (ba mươi tư triệu bốn trăm nghìn đồng) cùng một số đồ vật, tài liệu có liên quan đến hành vi đánh bạc của các đối tượng.

Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã xác định được:

* Về phương thức đánh bạc:

Các bị cáo và người tham gia đánh bạc đã thỏa thuận sử dụng điện thoại di động nhắn tin cho nhau để mua bán số lô, số đề. Sau khi bên bán nhận được tin nhắn thì sẽ nhắn tin trả lời lại là “Ok” hoặc “số lượng tin nhắn” để thể hiện là đồng ý việc mua bán số lô, số đề.

Các bị cáo và người chơi thống nhất hình thức đánh bạc thông qua mua bán số lô, số đề như: người mua số lô, số đề có thể chọn những hình thức đánh là đề hoặc lô và các hình thức cụ thể sẽ có quy định tỷ lệ thắng, thua như sau:

  • Đối với số đề: Người mua chọn con số bất kỳ từ 00 đến 99, khi có kết quả xổ số miền B mở thưởng trong ngày thì đối chiếu, nếu số đã mua trùng với hai chữ số cuối của giải đặc biệt thì là trúng đề, còn lại là không trúng. Nếu trúng đề thì người bán số đề phải trả thưởng cho người mua theo tỉ lệ 1 ăn 70, tức là trả thưởng số tiền 70.000đ (bảy mươi nghìn đồng), nếu số trúng thưởng được người chơi mua với số tiền là 1.000đ (một nghìn đồng).
  • Đối với số lô: Người mua chọn con số bất kỳ từ 00 đến 99, khi có kết quả xổ số miền B mở thưởng trong ngày thì đối chiếu, nếu số đã mua trùng với hai chữ số cuối của bất kỳ giải nào (từ giải đặc biệt đến giải bảy) thì là trúng lô, còn lại là không trúng. Nếu trúng một điểm lô (tiền mua mỗi điểm lô do bên bán và bên mua tự thỏa thuận) thì người bán số lô phải trả thưởng cho người mua là 80.000đ (tám mươi nghìn đồng).

Tất cả các hình thức đánh lô, đề nếu không trúng thưởng thì người mua phải trả toàn bộ số tiền đánh cho người bán số lô, số đề, trường hợp nào được chiết khấu tiền mua các số đề thì người mua phải trả toàn bộ số tiền thực tế sau khi đã trừ tiền phần trăm (%) được chiết khấu từ số tiền đánh cho người bán các số đề.

* Đối với hành vi mua bán số lô, số đề của bị cáo Dương Văn H.

Khoảng giữa năm 2023, do có quen biết với Đinh Thị Hồng V1, biết V1 có nhận mua bán số lô, số đề nên Dương Văn H hỏi mua số lô, số đề với V1 và được V1 đồng ý. Hằng ngày, H sử dụng số thuê bao 0989416127 gắn trên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobell và số thuê bao 0345366294 gắn trên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6 để nhận tin nhắn mua số lô, số đề của nhiều người rồi tổng hợp lại. Khi người chơi mua các số lô, số đề trong ngày với số lượng tiền lớn, H sẽ gửi tin nhắn chứa nội dung mua số lô, số đề đến số điện thoại 0344.883.xxx của Đinh Thị Hồng V1 để hưởng lợi phần trăm tiền chênh lệch. Trường hợp số lượng tiền mua các số lô, số đề của người chơi trong ngày nhỏ, H sẽ giữ lại để tự trả thưởng cho người chơi nếu trúng thưởng.

Cơ quan điều tra đã làm rõ ngày 19/12/2024, Dương Văn H đã sử dụng các số điện thoại: 0989.416.xxx và 0345366294 để nhận các tin nhắn mua số lô, số đề của 08 (tám) người, cụ thể:

- Qua số điện thoại 0989.416.xxx, H nhận tin nhắn mua các số lô, số đề từ số điện thoại 0399.485.xxx của bà Vi Thị T3, sinh năm 1956, trú tại tiểu Khu B, thị trấn C, huyện B, bao gồm:

  • + Các số lô: 46, 64, 30, 03 mỗi con 05 điểm; 90, 19, 91 mỗi con 03 điểm, tổng là 29 điểm tương ứng số tiền là 638.000₫ (sáu trăm ba mươi tám nghìn đồng).
  • + Các số đề: 24, 26 mỗi con 50.000đ; 42, 62, 97, 79, 30, 03, 33, 23, 32 mỗi con 30.000₫ . Tổng số tiền mua các số đề là 370.000đ (ba trăm bảy mươi nghìn đồng).

Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024, bà T3 trúng thưởng số đề 32 x 30.000đ tương ứng số tiền 2.100.000đ (hai triệu, một trăm nghìn đồng); trúng thưởng số lô: 19, 91 mỗi số 03 điểm tương ứng số tiền 480.000₫ (bốn trăm tám mươi nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc (gồm cả tiền đánh và tiền trúng số) giữa bà T3 và H trong ngày 19/12/2024 là: 3.588.000₫ (ba triệu năm trăm tám mươi tám nghìn đồng).

- Qua số điện thoại 0989.416.xxx, H nhận tin nhắn mua số lô, số đề từ số điện thoại 0335.029.xxx của bà Nông Thị L4, sinh năm 1962, trú tại tiểu khu F, thị trấn C, huyện B, bao gồm:

  • + Các số lô: 43, 11 mỗi con 10 điểm, tổng 20 điểm tương ứng số tiền là 440.000đ (bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).
  • + Các số đề: 04, 16, 28, 40, 52, 64, 76, 88, 22 mỗi con 15.000đ; 22 x 55.000đ; 29, 92, 24, 42, 79, 97, 74, 47, 11, 95, 59, 90, 09, 45, 54, 40, 04, 01, 10, 06, 60, 51, 15, 56, 65, 97, 77 mỗi con 5.000đ; các số đề đầu 9 (gồm 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99) mỗi con 3.000đ; các số đề đuôi 9 (gồm 09, 19, 29, 39, 49, 59, 69, 79, 89, 99) mỗi con 2.000đ; các số đề đầu 5 (gồm 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59) mỗi con 5.000đ; các số đề đuôi 5 (gồm 05, 15, 25, 35, 45, 55, 65, 75, 85, 95) x 5.000đ = 50.000đ; 48 x 20.000đ; 11 x 55.000đ; 41, 25, 45 mỗi con 5.000đ; 01, 10, 02, 20, 03, 30, 12, 21, 13, 31, 23, 32, 25, 55 mỗi con 5.000đ; 31, 33, 82, 89 mỗi con 5.000đ; 55, 65, 33, 44, 11 mỗi con 10.000đ. Tổng số tiền mua các số đề là: 705.000đ (bảy trăm linh năm nghìn đồng).

Đối chiếu với kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024, bà L4 trúng thưởng số đề 32 x 5.000đ tương ứng số tiền 350.000₫ (ba trăm năm mươi nghìn đồng); trúng thưởng số lô 43 x 10 điểm tương ứng số tiền 800.000₫ (tám trăm nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc (gồm cả tiền đánh và tiền trúng số) giữa bà L4 và H trong ngày 19/12/2024 là: 2.295.000đ (hai triệu hai trăm chín mươi năm nghìn đồng).

- Qua số điện thoại 0989.416.xxx, H nhận tin nhắn mua các số đề từ số điện thoại 0377.056.xxx của bà Triệu Thị T4, sinh năm 1972, trú tại thôn C, xã Q, huyện B, bao gồm: 88 x 100.000đ; 89 x 50.000đ, tổng số tiền mua các số đề là: 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng).

Đối chiếu với kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024, bà T4 không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc giữa H và Triệu Thị T4 trong ngày 19/12/2024 là: 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng).

- Qua số điện thoại 0989.416.xxx, H nhận tin nhắn mua các số lô từ số điện thoại 0817.989.xxx của Trần Thị N1, sinh năm 1964, trú tại thôn K, xã T, huyện B, bao gồm: 33, 88, 19, 91 mỗi số 20 điểm; 30, 03 mỗi số 05 điểm; 40, 04 mỗi số 50 điểm. Tổng số: 190 điểm lô tương ứng với số tiền 4.180.000đ (bốn triệu một trăm tám mươi nghìn đồng).

Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024, N1 trúng thưởng số lô 19, 91 mỗi số 20 điểm, tổng trúng thưởng 40 điểm lô tương ứng số tiền 3.200.000đ (ba triệu hai trăm nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc (gồm cả tiền đánh và tiền trúng số) giữa N1 và H trong ngày 19/12/2024 là: 7.380.000₫ (bảy triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng).

- Qua số điện thoại 0989.416.xxx, H nhận tin nhắn mua các số đề từ số điện thoại 0326.569.xxx của bà Ma Thị X, sinh năm 1969, trú tại tiểu khu B, thị trấn C, huyện B, bao gồm: 14, 41, 18, 81, 84, 48, 11 mỗi con 30.000đ; 25, 52 mỗi con 50.000đ; đầu 4 (gồm 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49) mỗi con 10.000đ; đuôi 4 (gồm 04, 14, 24, 34, 44, 54, 64, 74, 84, 94) mỗi con 10.000đ; 45, 54 mỗi con 50.000đ. Tổng số tiền bà X mua các số đề với ông H là: 610.000₫ (sáu trăm mười nghìn đồng).

Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024 bà X không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc giữa H và Ma Thị X trong ngày 19/12/2024 là: 610.000₫ (sáu trăm mười nghìn đồng).

- Qua số điện thoại 0345.366.xxx, H nhận tin nhắn mua các số lô, số đề từ số điện thoại 0325.747.xxx của Lý Thị H6, sinh năm 1974, trú tại thôn K, xã Y, huyện B, trú tại thôn P, xã Đ, huyện B, bao gồm:

  • + Số lô: 80 x 5 điểm tương ứng số tiền 110.000đ (một trăm mười nghìn đồng).
  • + Các số đề: 48, 84, 88 mỗi con 10.000đ; các số đề đầu 5, các số đề đuôi 5 bỏ một con 55. Tổng 19 con mỗi con 25.000đ; các số đề kép (gồm 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99) mỗi con 155.000đ; số đề 85 x 40.000đ; Tổng số tiền mua các số đề là 2.095.000đ (hai triệu không trăm chín mươi năm nghìn đồng).

Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024, H6 không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc giữa H và H6 trong ngày 19/12/2024 là: 2.205.000đ (hai triệu hai trăm linh năm nghìn đồng).

- Qua số điện thoại 0345.366.xxx, H nhận tin nhắn mua các số lô, số đề từ số điện thoại 0865.167.xxx của bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1959, trú tại thôn B, xã T, huyện B, bao gồm:

  • + Các số lô: 78, 87 mỗi con 05 điểm; 78, 90 mỗi con 50 điểm; tổng 110 điểm lô tương ứng số tiền 2.420.000đ (hai triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng).
  • + Các số đề: 40, 45, 54, 43, 57, 75, 03, 02, 20 mỗi con 10.000đ; 55x 20.000đ; 05, 15, 25, 35, 45, 55, 65, 75, 85, 95 mỗi con 5.000đ; 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 78, 59 mỗi con 10.000đ; 55 x 20.000đ; 58, 85 mỗi con 5.000đ; 68 x 10.000đ; 95 x 40.000đ; 02 x 100.000đ; 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99 mỗi con 10.000đ; 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99 mỗi con 40.000đ. Tổng số tiền mua các số đề là 940.000đ (chín trăm bốn mươi nghìn đồng).

Đối chiếu với kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024, bà T5 không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc giữa H và Nguyễn Thị T5 trong ngày 19/12/2024 là: 3.360.000đ (ba triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng).

- Qua số điện thoại 0345.366.xxx, H nhận tin nhắn mua các số lô, số đề từ số điện thoại 0389.037.xxx của bà Lương Thị X1, sinh năm 1968, trú tại tiểu khu I, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, gồm:

  • + Các số lô: 35, 53 mỗi con 20 điểm, tổng 40 điểm tương ứng với tiền: 880.000đ (tám trăm tám mươi nghìn đồng).
  • + Các số đề: 88, 85, 86 mỗi con 60.000đ; 83,53 mỗi con 100.000đ; 54 x 80.000đ; 06, 58, 85, 15, 51, 35, 45, 81, 82 mỗi con 50.000đ; 41, 26, 62, 36, 63, 24, 42, 18, 49 mỗi con 30.000đ; 87, 89, 60, 45, 54, 56, 65, 57, 75 mỗi con 20.000đ; 67, 76, 16, 61, 17, 71 mỗi con 10.000đ; tổng 2 (gồm các số: 02, 11, 20, 39, 48, 57, 66, 75, 84, 93), tổng 9 (gồm các số: 09, 18, 27, 36, 45, 54, 63, 72, 81, 90) mỗi con 20.000đ; 34, 43 mỗi con 100.000đ. Tổng số tiền mua các số đề đề là: 2.020.000đ (hai triệu không trăm hai mươi nghìn đồng).

Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024 bà X1 không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc giữa H và Lương Thị X1 trong ngày 19/12/2024 là: 2.900.000₫ (hai triệu chín trăm nghìn đồng).

Tổng số tiền đánh bạc của Dương Văn H với 08 (tám) người trên trong ngày 19/12/2024 là 22.488.000đ (hai mươi hai triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn đồng).

* Ngoài hành vi phạm tội vào ngày 19/12/2024, Cơ quan điều tra còn làm rõ Dương Văn H có 04 (bốn) ngày sử dụng số điện thoại 0345.366.xxx để nhận tin nhắn mua số lô, số đề từ số điện thoại 0325.747.xxx của Lý Thị H6 với tổng số tiền đánh bạc là: 13.780.000đ (mười ba triệu, bảy trăm tám mươi nghìn đồng), trong đó có 01 ngày tham gia đánh bạc đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể:

* Ngày 15/12/2024:

  • Số lô 33 x 25 điểm, tương ứng số tiền 550.000đ (năm trăm năm mươi nghìn đồng).
  • Các số đề: 44 x 25.000đ; 33 x 100.000đ; đầu, đít 4 bỏ một con 44, tổng 19 con x 10.000đ; đầu 9 mỗi con 20.000đ; đít 9 mỗi con 60.000đ. Tổng số tiền mua các số đề là 1.115.000đ (một triệu một trăm mười lăm nghìn đồng).

Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 15/12/2024, H6 không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc của H6 với H trong ngày 15/12/2024 là: 1.665.000đ (một triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

* Ngày 16/12/2024: các số đề: 04, 40, 14, 41, 45, 54, 49, 94, 01, 10, 19, 91, 18, 81, 59, 95, 58, 85, 55, 44, 09, 90, 33 mỗi con 25.000đ; 89, 98 mỗi con 30.000đ; 29 x 50.000đ; đầu 9 mỗi con 25.000đ; đít 9 mỗi con 50.000đ. Tổng số tiền H6 mua số đề với H là 1.435.000đ (một triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 16/12/2024, H6 trúng thưởng số đề 29 x 100.000đ tương ứng số tiền 7.000.000₫ (bảy triệu đồng). Tổng số tiền đánh bạc (gồm cả tiền đánh và tiền trúng số) của H6 với H trong ngày 16/12/2024 là 8.435.000đ (tám triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

* Ngày 17/12/2024: các số đề: 14, 41 mỗi con 25.000đ; đầu 4, đít 4 mỗi con 5.000đ. Tổng số tiền H6 mua số đề với H là 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng).

Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 17/12/2024, H6 không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc của của H6 với H trong ngày 16/12/2024 là: 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng).

* Ngày 18/12/2024: các số đề: 24, 42, 04, 40, 03, 30, 00 mỗi con 25.000đ; 85 x 10.000đ; số đề 58 x 20.000đ; 33 x 100.000đ; các số đề kép (gồm 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99) mỗi con 100.000đ; đầu 0, đít 0 bỏ một con 00, tổng 19 con mỗi con 25.000đ. Tổng số tiền số đề là: 1.780.000đ (một triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng).

Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 18/12/2024, H6 trúng thưởng số đề 70 x 25.000đ tương ứng số tiền 1.750.000đ (một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc (gồm cả tiền đánh và tiền trúng số) của H6 với H trong ngày 18/12/2024 là 3.530.000đ (ba triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng).

Dương Văn H khai, sau khi nhận được các tin nhắn mua số lô, số đề từ bị can Huê vào các ngày 15, 16, 17 và 18/12/2024, H đều chuyển toàn bộ các số lô, số đề đến số điện thoại 0344.883.xxx của Đinh Thị Hồng V1 để hưởng lợi tiền chênh lệch, cụ thể tiền mua số đề được triết khấu 27%, tiền mua số lô 01 điểm lô giá là 21.800đ. Ngày 19/12/2024, khi Cơ quan điều tra kiểm tra phát hiện H chưa chuyển các số lô, số đề cho V1, tổng số tiền tổ chức đánh bạc của Dương Văn H là 22.488.000đ (hai mươi hai triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn đồng).

2. Đối với hành vi mua bán số lô, số đề của bị cáo Lý Thị H6.

Do có quen biết với nhau, Lý Thị H6 đặt vấn đề mua các số lô, số đề với Dương Văn H và được H đồng ý. Hằng ngày, H6 sử dụng tài khoản mạng xã hội Zalo “A” được đăng ký từ số điện thoại 0332.450.xxx và số điện thoại 0325.747.xxx để bán số lô, số đề cho người khác rồi tổng hợp lại. Sau đó, H6 sử dụng số điện thoại 0325.747.xxx nhắn tin chuyển một phần số lô, số đề đến số điện thoại 0345.366.xxx của H; một phần các số đề còn lại, H6 sử dụng tài khoản Zalo “A” chuyển đến tài khoản Zalo “J” được đăng ký từ số điện thoại 0382.745.xxx của một người phụ nữ tên H10, không rõ thông tin, địa chỉ cụ thể.

Cơ quan điều tra đã làm rõ trong tháng 12/2024, H6 có 05 (năm) ngày được thực hiện hành vi mua bán số lô, số đề trái phép với người khác, trong đó có 02 ngày tham gia đánh bạc đủ điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể:

* Ngày 15/12/2024, H6 sử dụng số điện thoại 0325.747.xxx nhắn tin đến số điện thoại 0345.366.xxx của Dương Văn H để mua các số lô, số đề bao gồm:

  • Số lô 33 x 25 điểm, tương ứng số tiền 550.000₫ (năm trăm năm mươi nghìn đồng).
  • Các số đề: 44 x 25.000đ; 33 x100.000đ; đầu, đít 4 bỏ một con 44, tổng 19 con x10.000đ; đầu 9 mỗi con 20.000đ; đít 9 mỗi con 60.000đ. Tổng số tiền mua các số đề là 1.115.000đ (một triệu một trăm mười năm nghìn đồng).

Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 15/12/2024, H6 không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc của của H6 với H trong ngày 15/12/2024 là: 1.665.000đ (một triệu sáu trăm sáu mươi năm nghìn đồng).

* Ngày 16/12/2024:

  • - Lý Thị H6 sử dụng tài khoản Zalo “A” nhận tin nhắn từ tài khoản Zalo “Nguyễn Đình T”, được đăng ký từ số điện thoại 0368.819.xxx để mua các số đề: 04, 40, 14, 41, 45, 54, 49, 94, 01, 10, 19, 91, 18, 81, 59, 95, 58, 85, 55, 44, 09, 90, 89, 98, 33 x 50.000đ; 29 x 100.000đ. Tổng số tiền T mua các số đề với H6 là: 1.350.000đ (một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).

Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 16/12/2024, T trúng thưởng số đề 29 x 100.000đ tương ứng số tiền 7.000.000đ (bảy triệu đồng). Tổng số tiền đánh bạc (gồm cả tiền đánh và tiền trúng số) của H6 với T trong ngày 16/12/2024 là 8.350.000đ (tám triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).

  • Sau khi nhận các số đề của T, H6 tổng hợp lại rồi sử dụng số điện thoại 0325.747.xxx nhắn tin đến số điện thoại 0345.366.xxx của H mua các số đề: 04, 40, 14, 41, 45, 54, 49, 94, 01, 10, 19, 91, 18, 81, 59, 95, 58, 85, 55, 44, 09, 90, 33 mỗi con 25.000đ; 89, 98 mỗi con 30.000đ; 29 x 50.000đ; các số đề đầu 9 (gồm 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99) mỗi con 25.000đ; Các số đề đít 9 (gồm 09, 19, 29, 39, 49, 59, 69, 79, 89, 99) mỗi con 50.000đ. Tổng số tiền H6 mua số đề với H là 1.435.000đ (một triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 16/12/2024, H6 trúng thưởng số đề 29 x 100.000₫ tương ứng số tiền 7.000.000đ (bảy triệu đồng). Tổng số tiền đánh bạc (gồm cả tiền đánh và tiền trúng số) của H6 với H trong ngày 16/12/2024 là 8.435.000đ (tám triệu bốn trăm ba mươi năm nghìn đồng).

* Ngày 17/12/2024:

  • Lý Thị H6 sử dụng số điện thoại di động 0325.747.xxx nhắn tin đến số điện thoại 0345.366.xxx của Dương Văn H mua các số đề: 14, 41 mỗi con 25.000đ; các số đề đầu 4, các số đề đít 4 mỗi con 5.000đ. Tổng số tiền mua số đề là 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng).

Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 17/12/2024, H6 không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc của của H6 với H trong ngày 16/12/2024 là: 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng).

  • - Lý Thị H6 sử dụng tài khoản Zalo “A” được đăng ký từ số điện thoại 0332.450.xxx nhắn tin đến tài khoản Zalo “J” được đăng ký từ số điện thoại 0382.745.xxx của một người phụ nữ tên H10 để mua các số đề: 94, 99 mỗi con 10.000đ; 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99 mỗi con 5.000đ; đầu 9 mỗi con 5.000đ, tổng số tiền mua các số đề là: 120.000₫ (một trăm hai mươi nghìn đồng). Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 17/12/2024, H6 không trúng thưởng.

* Ngày 18/12/2024:

  • - Lý Thị H6 sử dụng tài khoản Zalo “A” nhận tin nhắn từ tài khoản Zalo “Nguyễn Đình T”, được đăng ký từ số điện thoại 0368.819.xxx để mua các số đề: Đầu 0 (gồm 00, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09), đuôi 0 (gồm 00, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09) bỏ một con 00, tổng 19 con mỗi con 50.000đ; 24, 42, 04, 40, 30, 03, 00 mỗi con 50.000đ; 33 x 200.000đ; 58 x 40.000đ; 85 x 10.000đ. Tổng số tiền T mua các số đề với H6 là: 1.550.000đ (một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).

Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 18/12/2024, T trúng thưởng số đề 70 x 50.000đ tương ứng số tiền 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc (gồm cả tiền đánh và tiền trúng số) của T với H6 trong ngày 18/12/2024 là: 5.050.000đ (năm triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

  • Sau khi nhận các số đề của T, H6 tổng hợp lại rồi sử dụng số điện thoại 0325.747.xxx nhắn tin đến số điện thoại 0345.366.xxx của bị can Dương Văn H mua các số đề: 24, 42, 04, 40, 03, 30, 00 mỗi con 25.000đ; số đề 85 x 10.000đ; số đề 58 x 20.000đ; 33 x 100.000đ; các số đề kép (gồm 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99) mỗi con 100.000đ; các số đề đầu 0, các số đề đít 0 bỏ một con 00, tổng 19 con mỗi con 25.000đ. Tổng số tiền số đề là: 1.780.000đ (một triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng).

Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 18/12/2024, H6 trúng thưởng số đề 70 x 25.000đ tương ứng số tiền 1.750.000₫ (một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc của H6 với H trong ngày 18/12/2024 là 3.530.000đ (ba triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng).

Một phần các số đề còn lại, bị can H6 sử dụng tài khoản Zalo “A” được đăng ký từ số điện thoại 0332.450.xxx nhắn tin đến tài khoản Zalo “J” người phụ nữ tên H10.

* Ngày 19/12/2024:

  • Lý Thị H6 sử dụng tài khoản Zalo “A” đăng ký bằng số điện thoại 0332.450.xxx để nhận tin nhắn mua số đề từ:
  • + Tài khoản Zalo “Nguyễn Đình T”, được đăng ký từ số điện thoại 0368.819.xxx để mua các số đề: Đầu 5, đuôi 5 bỏ một con 55 còn 19 con, mỗi con 50.000đ; 48, 58, 84 mỗi con 10.000đ; 88 x 20.000đ; 85 x 80.000đ. Tổng số tiền T mua các số đề với H6 là: 1.080.000đ (một triệu không trăm tám mươi nghìn đồng). Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024, T không trúng thưởng.
  • + Tài khoản Zalo “Tô Tăng”, được đăng ký từ số điện thoại 0985.966.xxx của ông Tô Văn T7, sinh năm 1962, trú tại thôn L, xã Y, huyện B, tỉnh Bắc Kạn để mua các số đề: 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99 mỗi con 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng). Tổng số tiền T7 mua các số đề với H6 là: 3.000.000đ (ba triệu đồng). Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024, T7 không trúng thưởng.

Tổng số tiền đánh bạc của bị can Nguyễn Đình T và Tô Văn T7 với Lý Thị H6 vào ngày 19/12/2024 là: 1.080.000đ + 3.000.000₫ = 4.080.000₫ (bốn triệu không trăm tám mươi nghìn đồng).

Sau khi nhận các số đề của T và T7, H6 tổng hợp lại rồi sử dụng số điện thoại 0325.747.xxx nhắn tin đến số điện thoại 0345.366.xxx của Dương Văn H mua các số lô, số đề sau:

  • + Số lô: 80 x 5 điểm tương ứng số tiền 110.000đ (một trăm mười nghìn đồng).
  • + Các số đề: 48, 84, 88 mỗi con 10.000đ; đầu 5, đuôi 5 bỏ một con 55 còn 19 con, mỗi con 25.000đ; các số đề kép (gồm 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99) mỗi con 155.000đ; 85 x 40.000đ; Tổng số tiền mua các số đề là 2.095.000₫ (hai triệu không trăm chín mươi lăm nghìn đồng).

Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024, H6 không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc giữa H6 và H trong ngày 19/12/2024 là: 2.205.000đ (hai triệu hai trăm linh năm nghìn đồng).

Một phần các số đề còn lại, H6 sử dụng tài khoản Zalo “A” được đăng ký từ số điện thoại 0332.450.xxx nhắn tin đến tài khoản Zalo “J” người phụ nữ tên H10.

Tổng số tiền Lý Thị H6 tham gia đánh bạc là: 21.835.000 đồng (hai mươi mốt triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

3. Đối với hành vi mua số đề của bị cáo Nguyễn Đình T.

Do có quen biết với nhau, Nguyễn Đình T đặt vấn đề mua các số lô, số đề với Lý Thị H6, được H6 đồng ý và cung cấp cho T tài khoản Zalo “A”, được đăng ký từ số điện thoại 0332.450.xxx. Sau đó, hằng ngày T sử dụng tài khoản Zalo “Nguyễn Đình T”đăng ký bằng số điện thoại 0368.819.xxx nhắn tin đến tài khoản Zalo của bị can H6 để mua các số đề với H6.

Cơ quan điều tra đã làm rõ Nguyễn Đình T có 03 (ba) ngày nhắn tin mua số đề với Lý Thị H6 với tổng số tiền đánh bạc là 14.480.000đ (mười bốn triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng). Trong đó, có 02 ngày tham gia đánh bạc đủ điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể:

* Ngày 16/12/2024, các số đề: 04, 40, 14, 41, 45, 54, 49, 94, 01, 10, 19, 91, 18, 81, 59, 95, 58, 85, 55, 44, 09, 90, 89, 98, 33 mỗi con 50.000đ; 29 x 100.000đ; tổng số tiền T mua các số đề với H6 là: 1.350.000đ (một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).

Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 16/12/2024, T trúng thưởng số đề 29 x 100.000đ tương ứng số tiền 7.000.000đ (bảy triệu đồng). Tổng số tiền đánh bạc của T với H6 trong ngày 16/12/2024 là 8.350.000đ (tám triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).

* Ngày 18/12/2024, các số đề: Đầu 0 (gồm 00, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09), các số đề đuôi 0 (gồm 00, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09) bỏ một con 00, tổng 19 con mỗi con 50.000đ; 24, 42, 04, 40, 30, 03, 00 mỗi con 50.000đ; 33 x200.000đ; 58 x40.000đ; 85 x10.000đ. Tổng số tiền T mua các số đề với H6 là: 1.550.000đ (một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).

Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 18/12/2024, T trúng thưởng số đề 70 x 50.000đ tương ứng số tiền 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc (gồm cả tiền đánh và tiền trúng số) của T với H6 trong ngày 18/12/2024 là: 5.050.000₫ (năm triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

* Ngày 19/12/2024, các số đề: Đầu 5, đuôi 5 bỏ một con 55 còn 19 con mỗi con 50.000đ; 48, 58, 84 mỗi con 10.000đ; 88 x 20.000đ; 85 x 80.000đ. Tổng số tiền T mua các số đề với H6 là: 1.080.000₫ (một triệu không trăm tám mươi nghìn đồng).

Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024, T không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc của T với H6 trong ngày 19/12/2024 là: 1.080.000đ (một triệu không trăm tám mươi nghìn đồng). Tổng số tiền Nguyễn Đình T đánh bạc là 14.480.000đ (mười bốn triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng).

Tổng số tiền Nguyễn Đình T tham gia đánh bạc là: 13.400.000 đồng (mười ba triệu bốn trăm nghìn đồng).

4. Đối với hành vi mua số lô của bị cáo Trần Thị N1.

Do có quen biết với nhau, quá trình quen biết N1 được Dương Văn Hoàng cung C1 số điện thoại 0989.416.xxx để mua số lô với H. Sau đó, N1 sử dụng số điện thoại 0817.989.xxx nhắn tin đến số điện thoại 0989.416.xxx của H để mua các số lô với H.

Cơ quan điều tra đã làm rõ ngày 19/12/2024, Trần Thị N1 sử dụng số điện thoại 0817.989.xxx nhắn tin đến số điện thoại 0989.416.xxx của Dương Văn H để mua các số lô gồm: 33, 88, 19, 91 mỗi số 20 điểm; 30, 03 mỗi số 05 điểm; 40, 04 mỗi số 50 điểm. Tổng 190 điểm lô tương ứng với số tiền 4.180.000đ (bốn triệu một trăm tám mươi nghìn đồng).

Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024, N1 trúng thưởng số lô 19, 91 mỗi số 20 điểm, tổng trúng thưởng 40 điểm lô tương ứng số tiền 3.200.000đ (ba triệu hai trăm nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc của N1 với H trong ngày 19/12/2024 là 7.380.000đ (bảy triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng).

5. Đối với hành vi mua bán số lô, số đề của bị cáo Đinh Thị Hồng V1.

Từ khoảng đầu năm 2024, do không có việc làm ổn định, Đinh Thị Hồng V1 được một người phụ nữ tên H7, nhà ở thành phố T, không rõ họ, địa chỉ cụ thể cho số điện thoại 0382.914.xxx để sử dụng nhắn tin mua bán số lô, số đề với H7 và cho V1 làm thư ký. Hằng ngày, V1 sử dụng số điện thoại 0344.883.xxx để bán các số lô, số đề cho người khác rồi chuyển qua tài khoản Telegram được đăng ký từ số điện thoại 0382.914.xxx của Hiên để hưởng lợi phần trăm tiền chênh lệch.

Cơ quan điều tra đã làm rõ ngày 19/12/2024, Đinh Thị Hồng V1 sử dụng số điện thoại 0344.883.xxx để nhận tin nhắn từ số điện thoại 0975.852.xxx của Đào Xuân H8 để mua các số lô, số đề, bao gồm:

  • - Các số lô: 85, 58, 72, 27, 07, 57, 39, 98 mỗi số 10 điểm; 17, 71 mỗi số 15 điểm; 98, 46, 64 mỗi số 10 điểm; 04, 40, 03, 30, 54 mỗi số 05 điểm; 65, 56 mỗi số 10 điểm, tổng 185 điểm tương ứng số tiền 4.162.500đ (bốn triệu một trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm đồng).
  • - Các số đề: Hệ 14 (gồm 08 số: 14, 41, 19, 91, 64, 46, 69, 96) mỗi số 30.000đ; các số đề 46, 64, 14, 41, 59, 95, 90, 09, 26, 62, 28, 82, 36, 63, 45, 54, 47, 74 mỗi số 20.000đ; các số đề hệ 14 (gồm 08 số: 14, 41, 19, 91, 64, 46, 69, 96) mỗi số 50.000đ; hệ 40 (gồm 08 số: 40, 04, 45, 54, 90, 09, 95, 59) mỗi số 50.000đ; hệ 44 (gồm 04 số: 44, 49, 94, 99) mỗi số 50.000đ; Tổng tiền mua các số đề là: 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng).

Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024, H8 không trúng thưởng đề; trúng thưởng các số lô: 58, 57, 39, 65, 56 mỗi số 10 điểm, số 17 trúng 15 điểm. Tổng trúng thưởng 65 điểm lô tương ứng số tiền 5.200.000₫ (năm triệu hai trăm nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc của H8 với V1 trong ngày 19/12/2024 là: 10.926.500đ (mười triệu chín trăm hai mươi sáu nghìn năm trăm đồng).

6. Đối với hành vi mua số lô, số đề của bị cáo Đào Xuân H8.

Do có quen biết với nhau, Đào Xuân H8 đặt vấn đề mua các số lô, số đề với Đinh Thị Hồng V1 và được V1 đồng ý. Sau đó, H8 sử dụng số điện thoại 0975.852.xxx để nhắn tin đến số điện thoại 0344.883.xxx của V1 để mua các số lô, số đề với V1.

Cơ quan điều tra đã làm rõ ngày 19/12/2024, Đào Xuân H8 mua các số lô, số đề sau với Đinh Thị Hồng V1 bao gồm:

  • Các số lô: 85, 58, 72, 27, 07, 57, 39, 98 mỗi số 10 điểm; 17, 71 mỗi số 15 điểm; 98, 46, 64 mỗi số 10 điểm; 04, 40, 03, 30, 54 mỗi số 05 điểm; 65, 56 mỗi số 10 điểm, tổng 185 điểm tương ứng số tiền 4.162.500đ (bốn triệu một trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm đồng).
  • Các số đề: Hệ 14 (gồm 08 số: 14, 41, 19, 91, 64, 46, 69, 96) mỗi số 30.000đ; các số đề 46, 64, 14, 41, 59, 95, 90, 09, 26, 62, 28, 82, 36, 63, 45, 54, 47, 74 mỗi số 20.000đ; các số đề hệ 14 (gồm 08 số: 14, 41, 19, 91, 64, 46, 69, 96) mỗi số 50.000đ; các số đề hệ 40 (gồm 08 số: 40, 04, 45, 54, 90, 09, 95, 59) mỗi số 50.000đ; các số đề hệ 44 (gồm 04 số: 44, 49, 94, 99) mỗi số 50.000đ; Tổng tiền mua các số đề là: 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng).

Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024, H8 không trúng thưởng đề; trúng thưởng các số lô: 58, 57, 39, 65, 56 mỗi số 10 điểm, số 17 trúng 15 điểm. Tổng trúng thưởng 65 điểm lô tương ứng số tiền 5.200.000₫ (năm triệu hai trăm nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc (gồm cả tiền đánh và tiền trúng số) của H8 với V1 trong ngày 19/12/2024 là: 10.926.500đ (mười triệu chín trăm hai mươi sáu nghìn năm trăm đồng).

Cơ quan điều tra đã tiến hành mở, kiểm tra điện thoại của các bị cáo và các đối tượng liên quan để xác định rõ hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc; Quyết định trưng cầu giám định điện thoại của các bị cáo và những người có liên quan theo quy định.

Kết luận giám định số 3704/KLGĐ-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận việc khôi phục, trích xuất dữ liệu điện thoại của Đinh Thị Hồng V1, nội dung kết luận: “Trên mẫu cần giám định, tìm thấy: 589 (năm trăm tám mươi chín) tin nhắn SMS; 70 (bảy mươi) tin nhắn iMessages; 79 (bảy mươi chín) tin nhắn Telegram và 806 (tám trăm linh sáu) tin nhắn Zalo.”

Kết luận giám định số 3703/KLGĐ-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận việc khôi phục, trích xuất dữ liệu điện thoại của Lâm Thị T6, nội dung kết luận:

  • “- Chụp được 09 (chín) ảnh màn hình nội dung tin nhắn đi, đến lưu trên điện thoại cần giám định. Chi tiết thể hiện trong phụ lục kèm theo.
  • Không tìm thấy dữ liệu lưu trên hai thẻ sim in hàng số: 8984048000927619202 và 89840200010930900717 gắn trong mẫu cần giám định.”

Kết luận giám định số 485/KL-KTHS ngày 18/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận việc khôi phục, trích xuất dữ liệu điện thoại của Lý Thị H6, Nguyễn Đình T, Nguyễn Thị T5, Ma Thị X, Nông Thị L4, Triệu Thị T4, Lương Thị X1, Vi Thị T3 và Trần Thị N1, nội dung kết luận:

  • “- Mẫu vật A1 có: 33 tin nhắn SMS. Không tìm thấy tin nhắn ứng dụng Zalo, M1, T8.
  • Mẫu vật A2: Không trích xuất được dữ liệu là tin nhắn trong mẫu vật gửi giám định.
  • Mẫu vật A3 có: 1.735 tin nhăn SMS, 110.772 tin nhắn ứng dụng Zalo, 3.163 tin nhắn ứng dụng Messenger và 474 tin nhắn ứng dụng Telegram.
  • Mẫu vật A4 có: 82 tin nhắn SMS. Không tìm thấy tin nhắn ứng dụng Zalo, M1, T8.
  • Mẫu vật A5 có: 195 tin nhắn SMS. Không tìm thấy tin nhắn ứng dụng Zalo, M1, T8.
  • Mẫu vật A6 có: 92 tin nhắn SMS, 372.279 tin nhắn ứng dụng Zalo, 7.806 tin nhắn ứng dụng Messenger. Không tìm thấy tin nhắn ứng dụng Messenger, T8.
  • Mâu vật A7 có: 36 tin nhắn SMS, 252 tin nhắn ứng dụng Zalo. Không tìm thấy tin nhắn ứng dụng Messenger, T8.
  • Mẫu vật A8: Không trích xuất được dữ liệu là tin nhắn trong mẫu vật gửi giám định.
  • Mẫu vật A9 có: 03 tin nhắn SMS. Không tìm thấy tin nhắn ứng dụng Zalo, M1, T8.”

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Dương Văn H, Lý Thị H6, Nguyễn Đình T, Trần Thị N1, Đinh Thị Hồng V1 và Đào Xuân H8 đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của bản thân như đã nêu trên. Lời khai của các bị can phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 23/CT-VKST-P1 ngày 20/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Dương Văn H về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Lý Thị H6, Nguyễn Đình T, Trần Thị N1, Đinh Thị Hồng V1, Đào Xuân H8 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự

Điều 322 Bộ luật Hình sự có nội dung:

“1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 tháng đến 05 năm.

a)...

c) Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên;

...

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Điều 321 Bộ luật Hình sự có nội dung:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

...

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

* Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

* Tuyên bố:

  • - Bị cáo Dương Văn H về tội “Tổ chức đánh bạc”.
  • Các bị cáo Lý Thị H6, Nguyễn Đình T, Trần Thị N1, Đinh Thị Hồng V1 và Đào Xuân H8 cùng phạm tội “Đánh bạc”.
  • - Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 322; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Dương Văn H số tiền từ 60.000.000 đồng đến 65.000.000 đồng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lý Thị H6 số tiền từ 35.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T số tiền từ 35.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thị N1 số tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Áp dụng khoản 1, khoản 3, Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Thị Hồng V1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng, giao bị cáo cho UBND phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
  • - Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đào Xuân H8 số tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • * Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, buộc các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền ghi số lô, số đề, cụ thể như sau:
  • - Bị cáo Đào Xuân H8 phải nộp số tiền 5.520.000 đồng.
  • Bị cáo Đinh Thị Hồng V1 phải nộp số tiền 5.442.500 đồng.
  • Bị cáo Trần Thị N1 phải nộp số tiền 4.180.000 đồng.
  • - Bị cáo Lý Thị H6 phải nộp tổng số tiền: 4.935.000 đồng.
  • Bị cáo Nguyễn Đình T phải nộp tổng số tiền: 2.900.000 đồng.
  • Bị cáo Dương Văn H phải nộp tổng số tiền: 13.930.000 đồng
  • * Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 BLTTHS:
  • Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước:
  • + 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu iPhone Xs Max, màu hồng, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 sim số điện thoại 0977.599.xxx (tạm giữ của Đinh Thị Hồng V1).
  • + 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu iPhone Xs, màu vàng đồng, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 sim số điện thoại 0975.852.xxx (tạm giữ của Đào Xuân H8).
  • + 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Mobell, màu xanh đen, loại bàn phím số, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 sim số điện thoại 0989.416.xxx (tạm giữ của Dương Văn H).
  • + 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu iPhone 6, màu vàng, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 sim số điện thoại 0345.366.xxx (tạm giữ của Dương Văn H).
  • + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu trắng, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong máy có gắn 02 sim số thuê bao 0325747287 và 0332450347 (tạm giữ của Lý Thị H6).
  • + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong máy có gắn 01 sim số thuê bao 0368819266 (tạm giữ của Nguyễn Đình T).
  • + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh dương, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong máy có gắn 01 sim số thuê bao 0817989321 (tạm giữ của Trần Thị N1).
  • Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho các bị cáo:
  • + 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu iPhone 6s Plus, màu hồng, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 sim số điện thoại 0344.883.xxx và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu iPhone 6s Plus, màu hồng, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong không lắp sim để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Đinh Thị Hồng V1.
  • + 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màu đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 sim số điện thoại 0983.621.xxx và 0862490244 để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Trần Thị N1.
  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số điện thoại 0383.680.xxx để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Lý Thị H6.
  • + Số tiền 18.000.000đ (mười tám triệu đồng) để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Dương Văn H và số tiền 16.400.000đ (mười sáu triệu bốn trăn nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Lý Thị H6.
  • Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) đĩa DVD chứa dữ liệu theo kết luận giám định số 3702/KLGĐ-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh V và 01 (một) USB chứa dữ liệu theo kết luận giám định số 485/KL-KTHS, ngày 18/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh V.
  • - Trả lại cho bà Vi Thị H5: 01 (một) thẻ ATM do ngân hàng V3 phát hành, trên thẻ có hàng số 9704 1502 0054 9718, mang tên VY THI HUONG và 01 (một) thẻ ATM do ngân hàng A phát hành, trên thẻ có hàng số 9704 0510 0948 2004, mang tên VY THI HUONG.
  • Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số điện thoại 0983.894.xxx và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu đỏ đen, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong máy có gắn 02 sim số thuê bao 0865167692 và 0352558953 cho Nguyễn Thị Tuyết.
  • Trả lại 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu CHP2483, vỏ màu tím, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong máy có gắn 02 (hai) sim số thuê bao 0827740883 và 0326544637 cho Lâm Thị T6.
  • Trả lại 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong máy có gắn 01 sim số thuê bao 0326569874 cho Ma Thị X.
  • Trả lại 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu HHC, màu trắng, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong máy có gắn 01 sim số thuê bao 0335029786 cho Nông Thị L4.
  • Trả lại 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, màu trắng, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong máy có gắn 01 sim số thuê bao 0377056048 cho Triệu Thị T4.
  • Trả lại 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, màu trắng, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, mặt trước có nhiều vết nứt vỡ, bên trong máy có gắn 01 sim số thuê bao 0389037740 cho Lương Thị X1.
  • Trả lại 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, loại bàn phím số, đã qua sử dụng, bên trong máy có gắn 01 sim số thuê bao 0399485477 cho Vi Thị T3.
  • Trả lại cho các bị cáo Đinh Thị Hồng V1:
  • + 01 (một) quyển sổ bìa có chữ Notebook bên trong có nhiều chữ và số tự nhiên.
  • + 01 (một) quyển sổ bìa có chữ SUBJECT mã số 4536, 300 trang, bên trong có nhiều chữ và số tự nhiên.
  • + 01 (một) quyển sổ bìa có chữ Campus bên trong có nhiều chữ và số tự nhiên.
  • + 01 (một) quyển sổ nhật ký loại 160 trang - MS 3637 bên trong có nhiều chữ và số tự nhiên.
  • + 04 (bốn) tờ giấy được viết nhiều chữ và số tự nhiên.
  • - Trả lại cho các bị cáo Dương Văn H: 01 (một) quyển vở bìa màu trắng, ngoài bìa có chữ “BTS”.

* Về trách nhiệm dân sự: Không.

* Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận số liệu trong Kết luận điều tra và Cáo trạng là đúng; thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội đúng quy định của pháp luật, không oan, đề nghị HĐXX xem xét xử phạt các bị cáo mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định:

Trong khoảng từ ngày 15 đến ngày 19/12/2024 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn và thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Dương Văn H có hành vi tổ chức đánh bạc; Lý Thị H6, Nguyễn Đình T, Trần Thị N1, Đinh Thị Hồng V1 và Đào Xuân H8 có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề qua ứng dụng tin nhắn SMS và ứng dụng Zalo trên điện thoại di động, cụ thể:

Ngày 19/12/2024, bị cáo Dương Văn H tổ chức đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề với tổng số tiền là 22.488.000đ (hai mươi hai triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn đồng). Cụ thể với Vi Thị T3 là: 3.588.000đ (ba triệu năm trăm năm mươi tám nghìn đồng), với Nông Thị L4 tổng số tiền là: 2.295.000₫ (hai triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn đồng), với Triệu Thị T4 tổng số tiền là: 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng). Trần Thị N1 tổng số tiền là: 7.380.000đ (bảy triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng), với Ma Thị X với tổng số tiền là: 610.000₫ (sáu trăm mười nghìn đồng), với Lý Thị H6 tổng số tiền là: 2.205.000đ (hai triệu hai trăm linh năm nghìn đồng), với Nguyễn Thị T5 tổng số tiền là: 3.360.000đ (ba triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng), với Lương Thị X1 tổng số tiền là: 2.900.000₫ (hai triệu chín trăm nghìn). Ngoài ra, ngày 16/12/2024 bị cáo H còn nhận tin nhắn số lô, số đề với bị cáo Lý thị H6 số tiền đánh bạc là 8.435.000đ (tám triệu bốn trăm ba mươi năm nghìn đồng).

Lý Thị H6 tham gia đánh bạc bằng hình thức mua và bán các số đề với tổng số tiền là 21.835.000 đồng (hai mươi mốt triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn đồng). Cụ thể ngày 16/12/2024, với Nguyễn Đình T tổng số tiền là 8.350.000₫ (tám triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng), với Dương Văn H tổng số tiền là 8.435.000đ (tám triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng). Ngày 18/12/2024, với Nguyễn Đình T với tổng số tiền là: 5.050.000₫ (năm triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

Nguyễn Đình T tham gia đánh bạc bằng hình thức mua các số đề với tổng số tiền là: 13.400.000 đồng (mười ba triệu bốn trăm nghìn đồng). Cụ thể ngày 16/12/2024, với Lý Thị H6 tổng số tiền là 8.350.000đ (tám triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng), ngày 18/12/2024, là: 5.050.000₫ (năm triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

Trần Thị N1 tham gia đánh bạc bằng hình thức mua số lô ngày 19/12/2024 với Dương Văn H tổng số tiền là: 7.380.000đ (bảy triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng).

Đinh Thị Hồng V1 tham gia đánh bạc bằng hình thức mua các số đề ngày 19/12/2024 với Đào Xuân H8 tổng số tiền là: 10.926.500đ (mười triệu chín trăm hai mươi sáu nghìn năm trăm đồng).

Đào Xuân H8 tham gia đánh bạc bằng hình thức mua các số đề 19/12/2024 với Đinh Thị Hồng V1 tổng số tiền là: 10.926.500đ (mười triệu chín trăm hai mươi sáu nghìn năm trăm đồng).

Hành vi của bị cáo H thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo H6, T, N1, V1, H8 thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương.

Bị cáo Dương Văn H thực hiện hành vi mới mục đích là hưởng tiền hoa hồng theo thỏa thuận với bị cáo V1 nhưng chưa tổng hợp để chuyển cho V1 thì bị phát hiện. Tại phiên tòa bị cáo Đinh Thị Hồng V1 xác nhận trước ngày 19/12/2024 bị cáo H đã nhiều lần chuyển bảng số lô, số đề cho V1 để hưởng hoa hồng. Bị cáo V1 cũng xác nhận ngày 16/12/2024 có nhận được tin nhắn số lô, đề của H nhưng không nhớ các số cụ thể. Như vậy có đủ căn cứ để nhận định bị cáo H thực hiện hành vi với vai trò là thư ký cho người khác nhằm mục đích hưởng lợi số tiền chênh lệch hoặc sẽ tự mình giữ lại các số lô, số đề để trả thưởng cho những người chơi nếu người chơi trúng thưởng. Hành vi của bị cáo H thực hiện ngày 16/12/2024 tương tự như hành vi tổ chức đánh bạc vào ngày 19/12/2024 nên bị cáo H độc lập về tội “Đánh bạc”, cùng một lúc thực hiện nhiều hành vi đều thỏa mãn dấu hiệu cấu thành của nhiều tội, nên xem xét bị cáo H phải chịu trách nhiệm về tội nặng hơn với tổng số tiền đánh bạc từ ngày 15/12/2024 đến ngày 19/12/2024. Do đó, hành vi của bị can H đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc”. Do vậy, cáo trạng số 23/CT-VKST-P1 ngày 20/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Dương Văn H về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Lý Thị H6, Nguyễn Đình T, Trần Thị N1, Đinh Thị Hồng V1, Đào Xuân H8 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất, hành vi các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quy định của Nhà nước về trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh - trật tự, an toàn - xã hội tại địa phương, gây bức xúc trong dư luận quần chúng. Do đó, cần thiết phải xử lý nghiêm khắc mới đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo.

[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo:

4.1 Về nhân thân:

Bị cáo Đinh Thị Hồng V1 có nhân thân xấu: Bản án số 17/2007/HSST ngày 01/02/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử tuyên phạt Đinh Thị Hồng V1 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 248 BLHS năm 1999 nhưng đã được xóa án tích.

Các bị cáo còn lại đều có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

4.2 Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Lý Thị H6, Nguyễn Đình T phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

4.3 Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thừa nhận toàn bộ hành vi của mình vì vậy các bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Các bị cáo Trần Thị N1, Đào Xuân H8 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra: Bị cáo Dương Văn H có bố đẻ là ông Dương Thịnh H1 được chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì; mẹ đẻ là bà Dương Thị H2 được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì; bố vợ là ông Vy Văn D1 (Bí danh Vi Văn T9) được Bộ Q tặng thưởng Huy chương hạng Nhất, đều trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bản thân bị cáo H được Sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh B tặng giấy khen do đã có thành tích xuất sắc, góp phần phát triển phong trào thể dục, thể thao của tỉnh Bắc Kạn năm 2011; Giấy chứng nhận giải Nhất đôi nam lứa tuổi 45-49 và giấy chứng nhận giải Nhất đôi nam nữ lứa tuổi 45-49 do ban tổ chức giải cầu lông tỉnh Bắc Kạn cấp năm 2011. Bị cáo Nguyễn Đình T được Ban chấp hành Hội nông dân tỉnh B công nhận đạt tiêu chuẩn hộ sản xuất kinh doanh giỏi cấp tỉnh năm 2010 và có mẹ nuôi là Nông Thị T10 được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bị cáo Đinh Thị Hồng V1 có bố đẻ là ông Đinh Văn T2 được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bị cáo Đào Xuân H8 có bố đẻ là ông Đào Mạnh H4 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bị cáo Lý Thị H6 đã nộp số tiền 14.000.000 đồng để đảm bảo việc thi hành án. Do vậy, các bị cáo Dương Văn H, Nguyễn Đình T, Đinh Thị Hồng V1, Đào Xuân H8, Lý Thị H6 được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Xét vai trò và mức độ chịu trách nhiệm hình sự của từng bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Hoàng giữ vai trò là chủ đề, các bị cáo khác là người đánh bạc.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội vì vụ lợi nên cần thiết áp dụng hình phạt tiền đối với một số bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xem xét.

[8] Biện pháp tư pháp: Cần buộc các bị cáo phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền đánh bạc. Cụ thể:

  • - Bị cáo Đào Xuân H8 phải nộp số tiền 5.200.000đ tiền đánh lô, đề 19/12/2024 trúng thưởng đã nhận + 320.000₫ (20% V1 chiết khấu từ việc đánh bạc) = 5.520.000₫.
  • - Bị cáo Đinh Thị Hồng V1 phải nộp số tiền 5.442.500đ.
  • - Bị cáo Trần Thị N1 phải nộp số tiền 4.180.000đ.
  • - Bị cáo Lý Thị H6 phải nộp tổng số tiền: 4.935.000đ. (Trong đó: Tiền đánh lô đề với H ngày 16/12/2024 là 1.435.000đ; ngày 18/1/2024 là 3.500.000₫).
  • - Bị cáo Nguyễn Đình T phải nộp tổng số tiền: 2.900.000đ. (Trong đó: tiền đánh lô, đề ngày 16/12/2024 là 1.350.000đ; ngày 18/12/2024 là 1.550.000₫).
  • - Bị cáo Dương Văn H phải nộp tổng số tiền: 13.930.000đ (Trong đó: tiền Truyền trúng thưởng nhưng chưa thanh toán ngày 16/12/2024 là 7.000.000₫ sau đó H6 chuyển tiếp đánh bạc với H nhưng chưa thanh toán; tiền Vi Thị T3 trúng thưởng ngày 19/12/2024 nhưng chưa thanh toán là 2.580.000đ; tiền Nông Thị L4 trúng thưởng ngày 19/12/2024 nhưng chưa thanh toán là 1.150.000đ; tiền Trần Thị N1 trúng lô ngày 19/12/2024 nhưng chưa thanh toán là 3.200.000₫).

Đối với số tiền đánh bạc của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tô Văn T7, Vi Thị T3, Nông Thị L4, Triệu Thị T4, Ma Thị X, Nguyễn Thị T5, Lương Thị X2 đã được cơ quan quản lý nhà nước ra Quyết định xử phạt hành chính buộc tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước nên không xem xét.

[9] Về xử lý vật chứng:

  • - Những chiếc điện thoại các bị cáo sử dụng để liên lạc phục vụ việc tổ chức, đánh bạc là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước, bao gồm:
  • + 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu iPhone Xs Max, màu hồng, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 sim số điện thoại 0977.599.xxx (tạm giữ của Đinh Thị Hồng V1).
  • + 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu iPhone Xs, màu vàng đồng, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 sim số điện thoại 0975.852.xxx (tạm giữ của Đào Xuân H8).
  • + 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Mobell, màu xanh đen, loại bàn phím số, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 sim số điện thoại 0989.416.xxx (tạm giữ của Dương Văn H).
  • + 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu iPhone 6, màu vàng, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 sim số điện thoại 0345.366.xxx (tạm giữ của Dương Văn H).
  • + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu trắng, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong máy có gắn 02 sim số thuê bao 0325747287 và 0332450347 (tạm giữ của Lý Thị H6).
  • + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong máy có gắn 01 sim số thuê bao 0368819266 (tạm giữ của Nguyễn Đình T).
  • + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh dương, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong máy có gắn 01 sim số thuê bao 0817989321 (tạm giữ của Trần Thị N1).
  • - Các tài sản đang tạm giữ của các bị cáo nhưng không liên quan đến hành vi phạm tội cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho các bị cáo, bao gồm:
  • + 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu iPhone 6s Plus, màu hồng, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 sim số điện thoại 0344.883.xxx và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu iPhone 6s Plus, màu hồng, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong không lắp sim để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Đinh Thị Hồng V1.
  • + 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màu đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 sim số điện thoại 0983.621.xxx và 0862490244 để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Trần Thị N1.
  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số điện thoại 0383.680.xxx để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Lý Thị H6.
  • + Số tiền 18.000.000đ (mười tám triệu đồng) để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Dương Văn H và số tiền 16.400.000đ (mười sáu triệu bốn trăn nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Lý Thị H6.
  • + Số tiền bị cáo H6 đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn gồm 10.000.000đ (mười triệu đồng) theo Biên lai thu số 0000311 ngày 11/6/2025 và số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) theo Biên lai thu số 0000314 ngày 16/6/2025 cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo H6.
  • - Đối với 01 (một) đĩa DVD chứa dữ liệu theo kết luận giám định số 3702/KLGĐ-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh V và 01 (một) USB chứa dữ liệu theo kết luận giám định số 485/KL-KTHS, ngày 18/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh V cần lưu theo hồ sơ vụ án.
  • 01 (một) thẻ ATM do ngân hàng V3 phát hành, trên thẻ có hàng số 9704 1502 0054 9718, mang tên VY THI HUONG và 01 (một) thẻ ATM do ngân hàng A phát hành, trên thẻ có hàng số 9704 0510 0948 2004, mang tên VY THI HUONG không có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bà H5.
  • Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số điện thoại 0983.894.xxx và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu đỏ đen, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong máy có gắn 02 sim số thuê bao 0865167692 và 0352558953 cho Nguyễn Thị Tuyết.
  • Trả lại 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu CHP2483, vỏ màu tím, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong máy có gắn 02 (hai) sim số thuê bao 0827740883 và 0326544637 cho Lâm Thị T6.
  • Trả lại 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong máy có gắn 01 sim số thuê bao 0326569874 cho Ma Thị X.
  • Trả lại 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu HHC, màu trắng, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong máy có gắn 01 sim số thuê bao 0335029786 cho Nông Thị L4.
  • Trả lại 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, màu trắng, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong máy có gắn 01 sim số thuê bao 0377056048 cho Triệu Thị T4.
  • Trả lại 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, màu trắng, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, mặt trước có nhiều vết nứt vỡ, bên trong máy có gắn 01 sim số thuê bao 0389037740 cho Lương Thị X1.
  • Trả lại 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, loại bàn phím số, đã qua sử dụng, bên trong máy có gắn 01 sim số thuê bao 0399485477 cho Vi Thị T3.

Đối với Nguyễn Đình T, kết quả điều tra đã làm rõ: ngoài ngày 16/12/2024 và ngày 18/12/2024 nhắn tin mua bán số đề với Lý Thị H6 đủ điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 19/12/2024, T còn sử dụng tài khoản Zalo “Nguyễn Đình T” đăng ký bằng số điện thoại 0368.819.xxx nhắn tin đến tài khoản Zalo “An An” đăng ký bằng số điện thoại 0332.450.xxx của Lý Thị H6 để mua các số đề với tổng số tiền đánh bạc là 1.080.000đ (một triệu không trăm tám mươi nghìn đồng). Số tiền đánh bạc dưới 5.000.000đ (năm triệu đồng) không đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã chuyển các tài liệu liên quan đến Phòng C Công an tỉnh B để xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Vi Thị T3, sinh năm 1956, trú tại tiểu khu B, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, kết quả điều tra đã làm rõ: ngày 19/12/2024, Vi Thị T3 được nhắn tin mua các số lô, số đề với bị can Dương Văn H với tổng số tiền đánh bạc là 3.588.000đ (ba triệu năm trăm tám mươi tám nghìn đồng). Do số tiền đánh bạc của Vi Thị T3 trong ngày 19/12/2024 dưới 5.000.000đ (năm triệu đồng), kết quả xác minh T3 không có tiền án, tiền sự. Do đó, hành vi của đối tượng thực hiện không đủ yếu tố cấu thành tội phạm tội “Đánh bạc”. Cơ quan điều tra Công an tỉnh B đã chuyển các tài liệu liên quan đến Phòng C Công an tỉnh B để xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Nông Thị L4, kết quả điều tra đã làm rõ: ngày 19/12/2024, Nông Thị L4 được nhắn tin mua các số lô, số đề với bị can Dương Văn H với tổng số tiền đánh bạc là 2.295.000đ (hai triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn đồng). Do số tiền đánh bạc của Nông Thị L4 trong ngày 19/12/2024 dưới 5.000.000₫ (năm triệu đồng), kết quả xác minh Liệp không có tiền án, tiền sự. Do đó, hành vi của đối tượng thực hiện không đủ yếu tố cấu thành tội phạm tội “Đánh bạc”. Cơ quan điều tra Công an tỉnh B đã chuyển các tài liệu liên quan đến Phòng C Công an tỉnh B để xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Triệu Thị T4, kết quả điều tra đã làm rõ: ngày 19/12/2024, Triệu Thị T4 được nhắn tin mua các số đề với Dương Văn H với tổng số tiền đánh bạc là 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng). Do số tiền đánh bạc của Triệu Thị T4 trong ngày 19/12/2024 dưới 5.000.000₫ (năm triệu đồng), kết quả xác minh Tiệm không có tiền án, tiền sự. Do đó, hành vi của đối tượng thực hiện không đủ yếu tố cấu thành tội phạm tội “Đánh bạc”. Cơ quan điều tra Công an tỉnh B đã chuyển các tài liệu liên quan đến Phòng C Công an tỉnh B để xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Ma Thị X, kết quả điều tra đã làm rõ: ngày 19/12/2024, Ma Thị X được nhắn tin mua các số đề với Dương Văn H với tổng số tiền đánh bạc là 610.000₫ (sáu trăm mười nghìn đồng). Do số tiền đánh bạc của Ma Thị X trong ngày 19/12/2024 dưới 5.000.000₫ (năm triệu đồng), kết quả xác minh Xuyển không có tiền án, tiền sự. Do đó, hành vi của đối tượng thực hiện không đủ yếu tố cấu thành tội phạm tội “Đánh bạc”. Cơ quan điều tra Công an tỉnh B đã chuyển các tài liệu liên quan đến Phòng C Công an tỉnh B để xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Thị T5, kết quả điều tra đã làm rõ: ngày 19/12/2024, Nguyễn Thị T5 được sử dụng tài khoản Zalo được đăng ký từ số điện thoại 0983.894.xxx gắn trên chiếc điện thoại Redmi 12 màu đen để nhận tin nhắn mua các số lô từ tài khoản Zalo “Cát Bụi” đăng ký bằng số điện thoại 0983.582.xxx của Hoàng Văn C, sinh năm 1988, trú tại thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. C mua với T5 số lô: 78, 90x 50 điểm tương ứng số tiền 2.300.000đ (hai triệu ba trăm nghìn đồng). Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 19/12/2024, C không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc của C với T5 trong ngày 19/12/2024 là 2.300.000đ (hai triệu ba trăm nghìn). Sau khi nhận các số đề của C, T5 tổng hợp lại rồi sử dụng số điện thoại 0865.167.xxx nhắn tin đến số điện thoại 0345.366.xxx của Dương Văn H mua các số lô, số đề với bị can Dương Văn H với tổng số tiền đánh bạc là 3.360.000đ (ba triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng). Do số tiền đánh bạc của Nguyễn Thị T5 trong ngày 19/12/2024 dưới 5.000.000₫ (năm triệu đồng), kết quả xác minh ngày 15/01/2021, Nguyễn Thị T5 bị UBND xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc; phạt số tiền 1.500.000đ; ngày 25/02/2021, Nguyễn Thị T5 đã chấp hành xong quyết định trên. Do đó, hành vi của đối tượng thực hiện không đủ yếu tố cấu thành tội phạm tội “Đánh bạc”. Cơ quan điều tra Công an tỉnh B đã chuyển các tài liệu liên quan đến Phòng C Công an tỉnh B để xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền.

Đối với Lương Thị X1, kết quả điều tra đã làm rõ: ngày 19/12/2024, Lương Thị X1 được nhắn tin mua các số lô, số đề với bị can Dương Văn H với tổng số tiền đánh bạc là 2.900.000đ (hai triệu chín trăm nghìn đồng). Số tiền đánh bạc của Lương Thị X1 trong ngày 19/12/2024 dưới 5.000.000đ (năm triệu đồng), kết quả xác minh tại Bản án số 15/2020/HS-ST ngày 31/8/2020, của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể xử phạt Lương Thị X1 30 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”; hình phạt bổ sung: phạt tiền 25.000.000đ (hai mươi năm triệu đồng); truy thu sung quỹ nhà nước số tiền: 61.730.000₫ (sáu mươi mốt triệu, bảy trăm ba mươi nghìn đồng); án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng). Lương Thị X1 đã chấp hành xong án phạt cải tạo không giam giữ từ ngày 09/4/2023 và chấp hành xong các khoản phí phải thi hành vào ngày 18/7/2023, không còn án tích. Do đó, hành vi của đối tượng thực hiện không đủ yếu tố cấu thành tội phạm tội “Đánh bạc”. Cơ quan điều tra Công an tỉnh B đã chuyển các tài liệu liên quan đến Phòng C Công an tỉnh B để xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Hoàng Văn C, kết quả điều tra đã làm rõ: ngày 19/12/2024, C được sử dụng tài khoản Zalo “Cát Bụi” đăng ký bằng số điện thoại 0983.582.xxx nhắn tin đến số tài khoản Zalo được đăng ký từ số điện thoại 0983.894.xxx của bà Nguyễn Thị T5 mua số lô: 78, 90 x 50 điểm tương ứng số tiền 2.300.000₫ (hai triệu ba trăm nghìn đồng). Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 19/12/2024, C không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc của C với T5 trong ngày 19/12/2024 là 2.300.000đ (hai triệu ba trăm nghìn đồng). Số tiền đánh bạc của Hoàng Văn C trong ngày 19/12/2024 dưới 5.000.000đ (năm triệu đồng), kết quả xác minh C không có tiền án, tiền sự. Do đó, hành vi của đối tượng thực hiện không đủ yếu tố cấu thành tội phạm tội “Đánh bạc”. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã chuyển các tài liệu liên quan đến Phòng C Công an tỉnh B để xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Tô Văn T7, sinh năm 1962, trú tại thôn L, xã Y, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, kết quả điều tra đã làm rõ: ngày 19/12/2024, T13 được sử dụng tài khoản Zalo “Tô Tăng” đăng ký bằng số điện thoại 0985.966.xxx nhắn tin đến tài khoản Zalo đăng ký bằng số điện thoại 0332.450.xxx của bị can H6 để mua các số đề sau: 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99 mỗi con 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Tổng số tiền T7 mua các số đề với H6 là: 3.000.000₫ (ba triệu đồng). Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024, T7 không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc của T7 với Huê trong ngày 19/12/2024 là 3.000.000₫ (ba triệu đồng). Số tiền đánh bạc của Tô Văn T7 trong ngày 19/12/2024 dưới 5.000.000₫ (năm triệu đồng), kết quả xác minh Tăng không có tiền án, tiền sự. Do đó, hành vi của đối tượng thực hiện không đủ yếu tố cấu thành tội phạm tội “Đánh bạc”. Cơ quan điều tra Công an tỉnh B đã chuyển các tài liệu liên quan đến Phòng C Công an tỉnh B để xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật.

[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn H phạm tội "Tổ chức đánh bạc". Các bị cáo Lý Thị H6, Nguyễn Đình T, Trần Thị N1, Đinh Thị Hồng V1, Đào Xuân H8 phạm tội "Đánh bạc".

1.1. Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 58; Điểu 65 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Dương Văn H 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Dương Văn H cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Dương Văn H số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.

1.2. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 38, Điều 58; Điểu 65 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Đinh Thị Hồng V1 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đinh Thị Hồng V1 cho Ủy ban nhân dân phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Đinh Thị Hồng V1 số tiền 10.000.000₫ (mười triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của của Bản án trước và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

1.3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Lý Thị H6 số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

1.4. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T số tiền 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

1.5. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Thị N1 số tiền 25.000.000₫ (hai mươi lăm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

1.6. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đào Xuân H8 số tiền 25.000.000₫ (hai mươi lăm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Buộc các bị cáo phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền, cụ thể:

  • Bị cáo Đào Xuân H8 phải nộp số tiền 5.520.000đ (năm triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng).
  • Bị cáo Đinh Thị Hồng V1 phải nộp số tiền 5.442.500đ (năm triệu bốn trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm đồng).
  • Bị cáo Trần Thị N1 phải nộp số tiền 4.180.000đ (bốn triệu một trăm tám mươi nghìn đồng).
  • Bị cáo Lý Thị H6 phải nộp tổng số tiền: 4.935.000đ (bốn triệu chín trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
  • Bị cáo Nguyễn Đình T phải nộp tổng số tiền: 2.900.000đ (hai triệu chín trăm nghìn đồng).
  • Bị cáo Dương Văn H phải nộp tổng số tiền: 13.930.000đ (mười ba triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng).

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

3.1. Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước:

  • 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu hồng, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng bên trong có lắp sim điện thoại 0977.599.xxx tạm giữ của Đinh Thị Hồng V1 được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT Vân 2”.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs màu vàng đồng, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 sim điện thoại 0975.852.xxx tạm giữ của Đào Xuân H8 được niêm phong trong 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “ĐT H8”.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu xanh đen, loại bàn phím số, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số điện thoại 0989.416.xxx tạm giữ của Dương Văn H được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong của Phòng K Công an tỉnh V, ký hiệu “H31".
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số điện thoại 0345.366.xxx tạm giữ của Dương Văn H được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong của Phòng K Công an tỉnh V, ký hiệu “H41".
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu trắng, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn 02 sim số thuê bao 0325747287 và 0332450347 tạm giữ của Lý Thị H6 được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong của Phòng K Công an tỉnh V ký hiệu “A1”.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 sim số thuê bao 0368819266 tạm giữ của Nguyễn Đình T được niêm phong 01 (một) túi niêm phong của Phòng K Công an tỉnh V ký hiệu “A2”.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh dương, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 sim số thuê bao 0817989321 tạm giữ của Trần Thị N1 được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong của Phòng K Công an tỉnh V ký hiệu “A9”.

3.2. Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho các bị cáo:

  • 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu hồng, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng bên trong không lắp sim tạm giữ của Đinh Thị Hồng V1 niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT Vân 2”; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu hồng, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng bên trong có lắp sim điện thoại 0344.883.xxx tạm giữ của Đinh Thị Hồng V1 được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong của Phòng K Công an tỉnh V để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Đinh Thị Hồng V1.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số điện thoại 0983.621.xxx và 08662490244 tạm giữ của Trần Thị N1 được niêm phong trong 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “NGA 3” để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Trần Thị N1.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số điện thoại 0383.680.xxx tạm giữ của Lý Thị H6 được niêm phong trong 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “ĐT HUÊ 1” để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Lý Thị H6.
  • Số tiền 18.000.000đ (mười tám triệu đồng) tạm giữ của bị cáo Dương Văn H để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Dương Văn H.
  • Số tiền 16.400.000đ (mười sáu triệu bốn trăm nghìn đồng) tạm giữ của bị cáo Lý Thị H6 để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Lý Thị H6.

3.3. Trả lại tài sản cho các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Trả lại cho bị cáo Đinh Thị Hồng V1: 01 túi niêm phong ký hiệu PS2, mã số PS2A 064031 bên trong có: 01 (một) quyển sổ bìa có chữ NOTEBOOK bên trong có nhiều chữ và số tự nhiên; 01 (một) quyển sổ bìa có chữ SUBJECT mã số 4536, 300 trang bên trong có nhiều chữ và số tự nhiên; 01 (một) quyển sổ nhật ký loại 160 trang - MS 3637 bên trong có nhiều chữ và số tự nhiên; 04 (bốn) tờ giấy được viết nhiều chữ và số tự nhiên.
  • Trả lại cho bị cáo Dương Văn H: 01 (một) quyển vở bìa màu trắng, ngoài bài có chữ “BTS”. Trả lại cho bà Vi Thị H5: 01 (một) thẻ ATM do ngân hàng V3 phát hành trên thẻ có hàng số 9704 1502 0054 9718, mang tên VY THI HUONG, 01 (một) thẻ ATM do ngân hàng A phát hành trên thẻ có hàng số 9704 0510 0948 2004, mang tên VY THI HUONG. Tất cả được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong ký hiệu PS1, mã số 069204.
  • Trả lại cho Nguyễn Thị T5: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số điện thoại 0983.894.xxx được niêm phong trong 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “T1”.
  • Trả lại cho Lâm Thị T6: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu CHP2483, vỏ màu tím, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn 02 sim sô thuê bao 0827740883 và 0326544637 được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong của Phòng K Công an tỉnh V.
  • Trả lại cho Nguyễn Thị T5: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu đỏ đen, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn 02 sim sô thuê bao 0865167692 và 0352558953 được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong của Phòng K Công an tỉnh V ký hiệu “A3”.
  • Trả lại cho Ma Thị X3: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMMUNG, màu đen, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong găn 01 sim số thuê bao 0326569874 được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong của Phòng K Công an tỉnh V ký hiệu “A4”.
  • Trả lại cho Nông Thị L4: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HHC, màu trắng, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 sim số thuê bao 0355029786 được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong của Phòng K Công an tỉnh V ký hiệu “A5”.
  • Trả lại cho Triệu Thị T4: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 sim số thuê bao 0377056048 được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong của Phòng K Công an tỉnh V ký hiệu “A6”.
  • Trả lại cho Lương Thị X1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, mặt trước có nhiều vết nứt vỡ, bên trong gắn 01 sim số thuê bao 0389037740 được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong của Phòng K Công an tỉnh V ký hiệu “A7”.
  • Trả lại cho Vi Thị T3: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, loại bàn phím số, đã qua sử dụng, mặt trước có nhiều vết nứt vỡ, bên trong gắn 01 sim số thuê bao 0399485477 được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong của Phòng K Công an tỉnh V ký hiệu “A8”.

3.4. Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Lý Thị H6 số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0000311 ngày 11/6/2025 và số tiền 4.000.000₫ (bốn triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0000314 ngày 16/6/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn.

3.5. Lưu theo hồ sơ vụ án:

  • - 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “KLGĐ 3072” bên trong có: 01 (một) đĩa DVD chứa dữ liệu theo kết luận giám định số 3702/KLGĐ-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh V.
  • - 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “USB KLGĐ” bên trong có: 01 (một) USB chứa dữ liệu theo kết luận giám định số 485/KL-KTHS ngày 18/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh V.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 23/5/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh B và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn).

4. Án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Dương Văn H, Lý Thị H6, Nguyễn Đình T, Trần Thị N1, Đinh Thị Hồng V1, Đào Xuân H8 mỗi người phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1;
  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Phòng Hình sự Công an tỉnh;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh;
  • - Cục THADS tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - THAHS;
  • - Các bị cáo, các đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thế Doanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về vụ án hình sự (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Văn H và đồng phạm phạm tội Tổ chức đánh bạc, đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger