Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐAN PHƯỢNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 25/2025/HS-ST

Ngày: 09 - 4 - 2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Độ

Ông Đỗ Xuân Trường

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Như Hoàng Hải- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2025, đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Thành T, sinh năm 1989 tại huyện Đ, thành phố Hà Nội; nơi cư trú và ĐKHKTT: Thôn Đ, xã P, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T1 (đã chết) và bà Trần Thị L; có vợ (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án: Có 02 tiền án; Ngày 26/11/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng xử phạt 09 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/11/2011, chưa chấp hành nghĩa vụ nộp án phí). Ngày 27/12/2024, Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng xử phạt 39 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (bị cáo chưa đi chấp hành hình phạt); tiền sự: Không; danh bản, chỉ bản số 052 do Công an huyện Đ lập ngày 24/01/2025; bị bắt tạm giam từ ngày 24/01/2025; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Trần Thị N, sinh năm 2002; Địa chỉ: Cụm F, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Đức N1, sinh năm 1960; Nơi đăng ký HKTT: Cụm H, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Cầu Ô, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Chị Trần Thị N là nhân viên bán sữa Yalkult trên địa bàn huyện Đ, thành phố Hà Nội. Khoảng 9 giờ ngày 20/01/2025, chị N điều khiển xe moto nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 29X3-614.75 đến khu vực cổng làng T, xã S, huyện Đ và để xe tại đây, khóa bánh xe trước bằng khóa chữ U rồi đi bán sữa. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, chị N quay lại địa điểm trên thì không thấy xe nên đã vào quán B đối diện để kiểm tra thì thấy có 02 người nam giới lạ mặt điều khiển xe moto nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đã lấy trộm chiếc xe nên đã đến Công an xã S, huyện Đ, để trình báo sự việc.

Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát, xác định được một trong hai đối tượng đã lấy xe của chị N là Nguyễn Thành T, sinh năm 1989; trú tại thôn Đ, xã P, huyện Đ. Ngày 23/01/2025, T bị triệu tập đến làm việc.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thành T khai nhận: Khoảng 7 giờ ngày 20/01/2025, T điều khiển xe moto biển kiểm soát 29X5-581.88 mượn của bạn gái là chị Nguyễn Thị H để đi chơi. Khi đi qua khu vực cổng làng T, xã S, huyện Đ, T nhìn thấy chiếc xe của chị Trần Thị N đang bị khóa bánh trước bằng khóa chữ U, xung quanh không có người trông giữ. T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe để đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. T điều khiển xe moto biển kiểm soát 29X5-581.88 đi về xã Đ, huyện H, đến cửa hàng sửa chữa xe của ông Trần Đức N1. T nói với ông N1 là bị rơi mất chìa khóa nên nhờ ông N1 cầm máy đến cắt khóa giúp. Ông N1 đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe chở ông N1 ngồi phía sau cầm máy cắt khóa đi đến nơi có chiếc xe của chị N. T cầm máy cắt tự cắt khóa chữ U nhưng không được nên bảo ông N1 là không biết sử dụng và nhờ ông N1 cắt giúp. Sau khi xong việc, T chập các dây điện ở phần đầu xe với nhau rồi bấm đề nổ máy xe và điều khiển xe đi về lại quán sửa xe của ông N1. Ông N1 điều khiển xe moto 29X5-581.88 của T đi theo sau. T đưa cho ông N1 200.000 đồng để trả tiền công cắt khóa. Sau đó, T gửi lại chiếc xe moto biển kiểm soát 29X5-581.88 tại quán sửa xe của ông N1 còn bản thân điều khiển chiếc xe moto mới trộm cắp được mang đến gửi tại nơi trông giữ xe của Bệnh viện Đa khoa huyện Đ rồi quay lại lấy xe đang gửi tại quán sửa xe của ông N1 và về nhà. Khoảng 15 giờ cùng ngày, T đến Bệnh viện Đa khoa huyện Đ lấy xe đem đến khu vực chân cầu P và bán cho 01 người lạ mặt được 3.000.000 đồng. T sử dụng toàn bộ số tiền trên để chi tiêu cá nhân.

Cơ quan điều tra đã thu giữ của ông Trần Đức N1 01 máy cắt khóa bằng điện, màu đỏ, lưỡi cắt bằng sắt, chiều dài 33 cm và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung galaxy A03 màu đen, bên trong lắp sim thuê bao số 0976.879.867, số Imei 1: 350538280960167, số Imei 2: 359923670960160, đã qua sử dụng. Thu giữ của Nguyễn Thành T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A18 màu đen, bên trong lắp sim thuê bao số 0964.484.190, số Imei 1: 862287060828894, số Imei 2: 862287060828886, đã qua sử dụng. Thu giữ của chị Nguyễn Thị H 01 xe moto nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát 29X5-581.88 và 01 chìa khóa xe, đã qua sử dụng.

Chị Trần Thị N giao nộp 01 USB nhãn hiệu Toshiba, dung lượng 32GB bên trong có chứa 02 đoạn video ghi nhận nội dung sự việc có 02 đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thành T, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ tiến hành thu giữ 01 áo phao màu đen của Nguyễn Thành T. T khai đây là áo mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Tại Bản kết luận định giá số 03/KL-HĐĐGTS ngày 24/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 29X3-614.75, số máy JA70E0084707, số khung RLHJA3935PY623805, đã qua sử dụng, trị giá 16.020.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 27/CT- VKS- ĐP ngày 20 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Thành T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo còn khai, sau khi lấy được chiếc xe, bị cáo sử dụng điện thoại di động cá nhân của bị cáo đăng nhập mạng xã hội facebook để giao bán chiếc xe.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tại phiên tòa trình bày luận tội giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 32 đến 36 tháng tù; Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Vụ án thuộc thẩm quyền điều tra, truy tố và xét xử các cơ quan tố tụng của huyện Đ, thành phố Hà Nội. Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên và Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng đã thực hiện đúng trình tự tố tụng, nội dung và các căn cứ để ban hành các văn bản và quyết định tố tụng đúng qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai bị cáo phù hợp tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: khoảng 9 giờ 26 phút ngày 20/01/2025, tại cổng làng T, xã S, huyện Đ, Nguyễn Thành T đã có hành vi chiếm đoạt của chị Trần Thị N một chiếc xe moto nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 29X3-614.75 giá trị 16.020.000 đồng và bán lấy tiền chi tiêu cho nhu cầu cá nhân.

[3] Hành vi của Nguyễn Thành T lợi dụng sự vắng mặt của chị Trần Thị N là chủ sở hữu tài sản, làm cho người xung quanh hiểu nhầm tài sản đó là của mình để chiếm đoạt như nêu trên đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Năm 2010, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng xử phạt 09 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, bị cáo chưa chấp hành nghĩa vụ nộp án phí nên chưa được xóa án. Ngày 27/12/2024 bị cáo phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, bị Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng xử phạt 39 tháng tù với tình tiết tăng nặng là tái phạm. Trong thời gian bị cáo chưa đi chấp hành hình phạt, bị cáo lại phạm tội. Vì vậy, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 của Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản với tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có nhân thân xấu, đã hai lần bị Tòa án xét xử về các tội phạm khác nhau, trong đó lần gần nhất cách thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội chưa tròn một tháng. Điều đó cho thấy, bị cáo coi thường pháp luật, không có ý thức tu dưỡng bản thân. Vì vậy, cần phải tiếp tục áp dụng với bị cáo mức hình phạt nghiêm, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo. Đồng thời, tổng hợp với hình phạt của bản án trước mà bị cáo chưa chấp hành buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.

[5] Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo thấy: Bị cáo có hai tiền án nhưng đã áp dụng là tình tiết định khung hình phạt nên bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; sau khi hành vi bị phát hiện, bị cáo đã tác động để người thân bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập để đảm bảo thi hành án nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Chiếc xe máy bị cáo chiếm đoạt của bị hại trị giá 16.020.000 đồng. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng. Bị hại đồng ý và không yêu cầu đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Ông Trần Đức N1 được bị cáo thuê cắt khóa để lấy được chiếc xe của chị N nhưng khi đó bị cáo nói với ông N1 là xe của bị cáo. Ông N1 không biết bị cáo trộm cắp xe của người khác nên không phạm tội.

[9] Về xử lý vật chứng: 01 máy cắt khóa bằng điện, màu đỏ, lưỡi cắt bằng sắt, chiều dài 33cm là tài sản của ông N1 nên sẽ trả lại cho ông N1.

[9.1] 01 chiếc áo khoác phao dài tay, màu đen bị cáo mặc trên người khi thực hiện hành vi trộm cắp, là tư trang của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

[9.2] 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A18 màu đen, số Imei 1: 862287060828894, số Imei 2: 862287060828886, bên trong có 01 sim điện thoại, của bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội nên bị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[9.3] 01 xe moto nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát 29X5-581.88 và 01 chìa khóa xe bị cáo sử dụng khi đi phạm tội là của chị Nguyễn Thị H. Quá trình điều tra làm rõ được chị H cho bị cáo mượn nhưng không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H là đúng.

[9.4] 01 USB nhãn hiệu Toshiba, dung lượng 32GB bên trong có chứa 02 đoạn video ghi nhận nội dung sự việc do chị Trần Thị N giao nộp là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên được lưu trong hồ sơ vụ án.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành T 34 (Ba mươi tư) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 39 (ba mươi chín) tháng tù của bản án số 121/2024/HSST ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 73 (Bảy mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 24/01/2025.

- Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại ông Trần Đức N1 01 (một) máy cắt khóa bằng điện, màu đỏ, lưỡi cắt bằng sắt, chiều dài 33cm.

Trả lại bị cáo Nguyễn Thành T 01 (một) chiếc áo khoác phao dài tay, màu đen.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A18 màu đen, số Imei 1: 862287060828894, số Imei 2: 862287060828886, bên trong có 01 sim điện thoại.

(Vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/03/2025 giữa Cơ quan CSĐT- Công an thành phố H với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội).

- Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án, có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Đan Phượng;
  • - CQTHAHS huyện Đan Phượng;
  • - CCTHADS huyện Đan Phượng;
  • - Cơ sở giam giữ;
  • - Bị cáo; bị hại; NLQ........;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 09/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành Tr Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger