Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HS-ST

Ngày: 03-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Cương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Bút

Bà Nguyễn Thị Thủy

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Lê Mai Ly – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tham gia phiên toà:

Ông Trần Minh Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại Hội trường UBND xã H, huyện H, Toà án nhân dân huyện Hòa Vang mở phiên toà công khai xét xử lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2025/TLHS-ST ngày 10 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Lê Viết N (tên gọi khác: Đực) sinh ngày 03/01/1992 tại Quảng Nam; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Khối phố C, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Viết P và bà Lê Thị T (cả 2 đều còn sống); Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 06/3/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Nhân thân: Ngày 14/11/2016 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 28/11/2022 bị UBND xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam xử phạt hành chính 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 14/8/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng.

Bị cáo bị bắt giam ngày 22/9/2024; Có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Đình T1 (tên gọi khác: N1), sinh ngày 14/9/1995 tại Quảng Nam; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Thôn P, xã S, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Đình T2 và bà Nguyễn Thị T3 (cả 2 đều còn sống); Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 07/5/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 16/4/2021.

Ngày 26/8/2022 bị Công an huyện Đ, tỉnh Quảng Nam xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị bắt giam ngày 22/9/2024; Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Võ Thị Liên E, sinh năm 1952; Địa chỉ thường trú: Thôn C, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1970; Địa chỉ thường trú: Thôn P, xã S, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Có mặt.

Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1969; Địa chỉ: F Â, phường H, quận L, TP Đà Nẵng; Có mặt.

Bà Lê Thị Kim L, sinh năm 1993; Địa chỉ: G đường Đ, phường H, quận L, TP Đà Nẵng; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 14/9/2024, Trần Đình T1 điều khiển xe mô tô hiệu Airblade biển kiểm soát 92T1-049.32 chở Lê Viết N đi từ huyện Đ, tỉnh Quảng Nam ra TP.Đà Nẵng chơi. Sau khi đến địa bàn TP.Đà Nẵng, T1 và N đi cầm cố điện thoại di động của N tại 01 tiệm cầm đồ với giá 500.000 đồng rồi cả hai cùng nhau tiêu xài hết. Để có tiền tiếp tục tiêu xài, T1 và N cùng rủ nhau đi tìm nơi sơ hở để trộm cắp tài sản. N điều khiển xe mô tô chở T1 đi dạo trên các tuyến đường tìm kiếm người dân sơ hở trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt nhưng không phát hiện được gì. Đến khoảng 04 giờ 45 phút ngày 15/9/2024, khi cả hai đến đoạn đường Nguyễn Bảo giao nhau với đường T, thuộc xã H, huyện H, TP . thì phát hiện bà Võ Thị Liên E (Sinh năm 1952, trú tại tổ D, thôn C, xã H, huyện H, TP.Đà Nẵng) đang đi thể dục. Nhâm thấy trên cổ bà Liên E có đeo 01 sợi dây chuyền bằng vàng thì nói với T1 “bà kia có đeo dây chuyền” thì T1 nói “mi chạy sát vô đi” rồi N2 điều khiển xe mô tô áp sát vào phía bên phải của bà E để T1 dùng tay trái giật sợi dây chuyền vàng trên cổ bà E rồi cả hai nhanh chóng tẩu thoát. Sau khi cướp giật được tài sản, N chở T1 đem sợi dây chuyền vàng đến tiệm V tại chợ H, thuộc quận L, TP.Đà Nẵng bán với giá 5.125.000 đồng rồi đến tiệm điện thoại chuộc lại điện thoại của N đã cầm cố trước đó với giá 510.000 đồng. Số tiền còn lại, cả hai chia nhau mỗi người được 2.300.000 đồng tiêu xài hết.

Tang vật tạm giữ: 01 mô tô hiệu Airblade BKS 92T1-049.32.

Theo Kết luận định giá tài sản số: 44 ngày 30/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên huyện H xác định: 01 sợi dây chuyền vàng 18K, cân lượng 01 chỉ, có giá trị tại thời điểm cướp giật là 5.125.000 đồng (năm triệu, một trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Với nội dung trên, tại Bản cáo trạng số 14/CT-VKSHV ngày 07/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo Trần Đình T1, Lê Viết N về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo Trần Đình T1, Lê Viết N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng; các bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang đã truy tố các bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự là đúng tội, không oan, xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Bị hại bà Võ Thị Liên E vắng mặt tại phiên tòa, tài liệu hồ sơ thể hiện bà E xác nhận gia đình bị cáo T1 đã bồi thường cho bà số tiền 2.500.000 đồng; gia đình bị cáo N đã bồi thường cho bà số tiền 2.500.000 đồng, tổng là 5.000.000 đồng, bà Liên E không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Trần Đình T1, Lê Viết N về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171; điểm i, h khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Viết N mức án từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm tù.

Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171; điểm i khoản 1 Điều 52; Điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Đình T1 mức án từ 04 năm tù đến 04 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại bà Võ Thị Liên E xác nhận gia đình bị cáo T1 đã bồi thường cho bà số tiền 2.500.000 đồng; gia đình bị cáo N đã bồi thường cho bà số tiền 2.500.000 đồng, tổng là 5.000.000 đồng, bà Liên E không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 mô tô hiệu Airblade BKS 92T1-049.32 qua điều tra xác định chiếc xe này thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị T3 là mẹ ruột của bị cáo Trần Đình T1. Bà T3 cho T1 mượn sử dụng để đi lại, không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho bà T3 và không đề cập xử lý bà T3 là có cơ sở.

Đối với sợi dây chuyền chiếm đoạt của bị hại các bị cáo bán cho tiệm V. Sau khi mua vào thì chủ tiệm vàng đã nung chảy tạo sản phẩm mới bán lại cho khách hàng nên không thu hồi được.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Về xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo Trần Đình T1, Lê Viết N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên Trần Đình T1, Lê Viết N rủ nhau đi dạo trên các tuyến đường tại TP.Đà Nẵng để tìm sơ hở nhằm chiếm đoạt tài sản. Đến khoảng 05 giờ ngày 15/9/2024, Lê Viết N điều khiển xe mô tô 92T1-04932 chở Trần Đình T1 lưu thông trên đường N thuộc địa phận xã H, huyện H, TP.Đà Nẵng thì phát hiện bà Võ Thị Liên E, sinh năm 1952 đang đi bộ sát lề đường, trên cổ có đeo 01 sợi dây chuyền vàng 18K trị giá 5.125.000 đồng (Năm triệu, một trăm hai mươi lăm nghìn đồng). N điều khiển xe chạy áp sát bà E để T1 ngồi sau dùng tay giật lấy sợi dây chuyền rồi tăng ga tẩu thoát. Sau khi giật được sợi dây chuyền, T1, N mang đến bán tại tiệm V Tâm chia nhau tiêu xài.

Như vậy, với hành vi sử dụng xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, cướp giật 01 sợi dây chuyền bằng vàng 18K, trị giá 5.125.000 đồng của các bị cáo Trần Đình T1, Lê Viết N đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự như Bản cáo trạng số 14/CT-VKSHV ngày 07/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy:

Đây là vụ án đồng phạm có tính chất rất nghiêm trọng, các bị cáo T1, N đã thống nhất ý chí cùng nhau khởi xướng tìm bị hại để chiếm đoạt tài sản. Khi phạm tội bị cáo N điều khiển xe mô tô áp sát để bị cáo T1 ngồi sau giật tài sản của bị hại rồi tẩu thoát. Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội của địa phương. Do đó, đối với các bị cáo cần xử phạt thỏa đáng để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo cướp giật tài sản của người bị hại bà Võ Thị Liên E, sinh năm 1952 nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội đối với người từ đủ 70 tuổi trở lên” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo N đã có 01 tiền án chưa được xóa án tích lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các bị cáo đều có nhân thân xấu đã nhiều lần bị xét xử và xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, đối với các bị cáo cần xử phạt mức án nghiêm, cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn như mức án mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo; Các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng, trong đó gia đình bị cáo T1 bồi thường 2.500.000 đồng, gia đình bị cáo N3 bồi thường 2.500.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm cho cả 02 bị cáo để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị áo.

[5] Về quyết định hình phạt: Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo N mức án cao hơn bị cáo T1.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại bà Võ Thị Liên E vắng mặt tại phiên tòa, tài liệu hồ sơ thể hiện bà E xác nhận gia đình bị cáo T1 đã bồi thường cho bà số tiền 2.500.000 đồng; gia đình bị cáo N đã bồi thường cho bà số tiền 2.500.000 đồng, tổng là 5.000.000 đồng, bà Liên E không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 mô tô hiệu Airblade BKS 92T1-049.32 qua tra xác định chiếc xe này thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị T3 là mẹ ruột của bị cáo Trần Đình T1. Bà T3 cho T1 mượn sử dụng để đi lại, không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho bà T3 và không đề cập xử lý bà T3 là có cơ sở.

Đối với sợi dây chuyền chiếm đoạt của bị hại các bị cáo bán cho tiệm V. Sau khi mua vào thì chủ tiệm vàng đã nung chảy tạo sản phẩm mới bán lại cho khách hàng nên không thu hồi được.

[8] Về án phí: Các bị cáo Trần Đình T1, Lê Viết N phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;

[9] Đối với bà Lê Thị Kim L người giúp việc và chủ tiệm V Tâm ông Nguyễn Văn T4 có liên quan đến việc mua dây chuyền vàng do các bị cáo cướp giật được, qua điều tra xác định chủ tiệm vàng và người giúp việc không biết trước dây chuyền vàng mua được do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Trần Đình T1, Lê Viết N phạm tội “Cướp giật tài sản”.

1.1 Căn cứ: điểm d khoản 2 Điều 171; điểm i, h khoản 1 Điều 52; Điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Viết N 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, ngày 22/9/2024.

1.2 Căn cứ: điểm d khoản 2 Điều 171; điểm i khoản 1 Điều 52; Điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Đình T1 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, ngày 22/9/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Võ Thị Liên E xác nhận gia đình các bị cáo T1, N đã bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Trần Đình T1, Lê Viết N, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND huyện Hòa Vang;
  • - Tòa án nhân dân TP Đà Nẵng;
  • - CATPĐN – Cơ sở Hòa Vang;
  • - Cơ quan THAHS CATP (PC10);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CATPĐN (PV06)
  • - Chi cục THADS huyện Hòa Vang;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Văn Cương

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Đình T, Lê Viết N phạm tội cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger