Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Số: 25/2025/HS-ST

Ngày: 25-02-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Vinh
  • Thẩm phán: Ông Phan Vĩnh Chuyển
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Thuận Nhi
  • Bà Đặng Thị Liễu
  • Ông Đoàn Ngọc Đăng
  • Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Quốc Huy - Thư ký Toà án nhân dân Tp. Đà Nẵng.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thảo Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 158/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2024/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

LÊ THỪA S, sinh ngày 11/12/1975 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thừa T (sinh năm: không rõ) và bà Lê Thị X (sinh năm 1956); Có vợ là Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1976) và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2016).

Tiền án, tiền sự: Ngày 27/09/1999 bị Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tuyên phạt 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Chứa chấp tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo bản án số 57/HSST(Chưa nộp án và bồi thường dân sự).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/11/2023 đến ngày 20/01/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh.

* Người bào chữa cho bị cáo Lê Thừa S: Luật sư Lê Thị Hồng T2 – Công ty L và Cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ. Địa chỉ: H H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; có mặt.

* Bị hại:

  1. Nguyễn Thị N, sinh năm 1988; Nơi cư trú: 1 N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
  2. Phùng Thị H, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Số A H, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ngân hàng TMCP T5 (T6); Địa chỉ: Tầng D, C Hậu Giang, phường B, quận F, thành phố Hồ Chí Minh;
  2. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Song D – Trung tâm xử lí nợ 2 – Khối xử lý và thu hồi nợ - T7; Có mặt.

  3. Ông Vũ Trường S1, sinh năm 1991; Nơi cư trú: H C, Tổ G, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Có mặt.
  4. Ông Lê Phạm Nhất T3, sinh năm 1989; Nơi cư trú: G P, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Có mặt.
  5. Công ty TNHH Q; Địa chỉ: Tầng A, tòa nhà T điều hành và trung tâm thương mại V, số B C, phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh;
  6. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Trinh T4, sinh năm 1991; Nơi cư trú: B P, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế;

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Văn Trần N1, sinh năm 1981; Nơi cư trú: C, chung cư P, phường P, quận G, thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

  7. Nguyễn Thị D1, sinh năm 1991; Nơi cư trú: B L, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Chiếm đoạt số tiền 2.000.000.000 đồng của bà Phùng Thị H:

Tháng 04/2023, Lê Thừa S từ tỉnh Thanh Hóa vào thành phố Đà Nẵng để mua bán đồ gỗ mỹ nghệ và quen biết với bà Nguyễn Thị D1. Thông qua bà D1, S quen biết với bà Phùng Thị H và bà Nguyễn Thị N. Trong quá trình quen biết, S chụp thẻ chứng minh Công an nhân dân giả qua Zalo gửi cho bà N tự giới thiệu bản thân S là Công an, cấp hàm Đại tá, làm việc tại Bộ C và làm thêm nghề quan hệ với các quan chức cấp cao. mua bán đồ gỗ mỹ nghệ, S có rất nhiều mối.

Tháng 5/2023, bà Phùng Thị H nói chuyện với S về việc bà H đang bị người khác thiếu một khoản nợ tại thành phố Hồ Chí Minh và em gái của bà H là Phùng Thị N2 đang bị Công an thành phố H tạm giam. Bà H muốn nhờ S can thiệp giúp bà H đòi lại nợ, giúp em bà H tại ngoại thì S đồng ý. Mặc dù bản thân S chỉ là người mua bán đồ gỗ mỹ nghệ bình thường, không phải là Công an, không có nhiệm vụ, quyền hạn gì nhưng S hứa với bà H sẽ đòi lại nợ cho bà H, giúp em bà H tại ngoại và làm hồ sơ kêu oan. S yêu cầu bà H phải chuẩn bị khoản tiền: 2.000.000.000 đồng để S lo việc trên và cam kết với bà H trong vòng thời gian hai tháng S sẽ thực hiện xong.

Từ ngày 06/5/2023 đến 10/5/2023 bà H đã chuyển cho S tổng cộng số tiền: 2.000.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ Ngân hàng TMCP V1, số tài khoản: 148640408 mang tên Phùng Thị H đến Ngân hàng TMCP Á, số tài khoản: 817966666 mang tên Lê Thừa S, cụ thể như sau:

  • Lần 1: Ngày 06/5/2023, bà H chuyển khoản cho S số tiền: 700.000.000 đồng.
  • Lần 2: Ngày 08/5/2023, bà H chuyển khoản cho S số tiền: 300.000.000 đồng.
  • Lần 3: Ngày 10/5/2023, bà H chuyển khoản cho S số tiền: 1.000.000.000 đồng.

Tuy nhiên, từ khi nhận tiền đến cuối tháng 7/2023 S không thực hiện theo đúng cam kết nên bà H yêu cầu S trả lại tiền cho bà H nhưng S không trả. S hứa hẹn và ký giấy ghi nợ với bà H đến ngày 25/10/2023 sẽ hoàn trả lại số tiền: 2.000.000.000 đồng nhưng S không thực hiện và đã chiếm đoạt số tiền nêu trên sử dụng vào mục đích trả nợ ngoài xã hội và tiêu xài cá nhân.

* Chiếm đoạt số tiền 6.000.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị N:

S có quan hệ tình cảm với bà Nguyễn Thị N nên tháng 6/2023, S biết được bà N mua một thửa đất nông nghiệp tại phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Bà N hỏi S về việc có thể giúp bà N nâng mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp lên đất ở hay không thì S trả lời với bà N: “Món này anh làm được”. S yêu cầu bà N đưa bản photo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất trên và hứa hẹn với bà N đến cuối năm 2023 S thực hiện xong việc nâng mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp lên đất ở.

S nói với bà N tổng số tiền để nâng mục đích sử dụng đất lên đất ở là: 1.300.000.000 đồng. Tuy nhiên, S yêu cầu bà N phải đưa trước số tiền 700.000.000 đồng để S làm thủ tục. Bà N đồng ý, ngày 20/7/2023 bà N chuyển cho S số tiền: 700.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ Ngân hàng TMCP N3, số tài khoản: 1123797979 mang tên Nguyễn Thị N đến Ngân hàng TMCP Á, số tài khoản: 817966666 mang tên Lê Thừa S. Sau khi nhận tiền của bà N thì S không thực hiện và đã chiếm đoạt số tiền nêu trên sử dụng vào mục đích trả nợ ngoài xã hội và tiêu xài cá nhân.

Ngoài ra, S nói với bà N về việc S mua 14.000 mét vuông đất ruộng tại xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa từ trước và đang cần tiền để san lấp mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất ruộng lên đất ở và phân lô bán nền. Tiếp tục, S nói với bà N chuyện S làm thêm khai thác mỏ đất tại xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa và cần tiền để xin giấy phép khai thác. S hỏi mượn tiền của bà N, vì tin tưởng là thật nên bà N đồng ý. Từ tháng 6/2023 tháng 8/2023, bà N tiếp tục nhiều lần cho S mượn tiền bằng hình thức đưa tiền mặt và chuyển khoản ngân hàng để S thực hiện các việc nêu trên. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền từ bà N thì S chiếm đoạt và không trả lại cho bà N. Qua điều tra xác định tất cả các thông tin nêu trên mà S nói với bà N là không có thật, do S tự bịa đặt ra để mượn và chiếm đoạt tiền của bà N.

Tổng số tiền S chiếm đoạt của bà N là: 6.000.000.000 đồng, S sử dụng vào mục đích trả nợ ngoài xã hội và tiêu xài cá nhân.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Thừa S đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Quá trình điều tra, kiểm tra phương tiện xe ôtô hiệu Ford Explorer màu đen BKS: 51G – 565.49 do S điều khiển. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ phát hiện:

  • - 01 (Một) giấy chứng minh Công an nhân dân số: 201 – 179 mang tên Lê Thừa S.
  • - 02 (Hai) biển kiểm soát xe ôtô, loại biển màu xanh BKS: 80 – 565.49.

S thừa nhận những đồ vật, tài liệu nêu trên đều là giả, S đặt mua trên mạng xã hội Facebook với giá 1.600.000 đồng. Mục đích S mua giấy chứng minh Công an nhân dân để S giả danh thân phận làm cán bộ Công an, làm giả biển số xe để đi lại đường dài và thể hiện mình đi xe của Bộ C.

* Tang, tài vật tạm giữ:

  • - 01 (Một) xe ôtô hiệu Ford Explorer màu đen BKS: 51G - 565.49 có số khung: 1FM5K8FH6HGD71142, số máy: HGD71142H.
  • - 01 (Một) giấy chứng minh Công an nhân dân số: 201 – 179 mang tên Lê Thừa S.
  • - 02 (Hai) biển số xe ôtô màu xanh BKS: 80A - 565.49.
  • - 01 (Một) điện thoại Iphone 14 pro gắn sim số 0817944444.

* Tại Kết luận giám định số 1016 ngày 29/11/2023 của Phòng K công an thành phố Đ kết luận:

  1. “GIẤY CHỨNG MINH CÔNG AN NHÂN DÂN" mẫu cần giám định ký hiệu A so với “GIẤY CHỨNG MINH CÔNG AN NHÂN DÂN" mẫu so sánh ký hiệu M1 và M2 không phải do cùng một bản in ra.
  2. Hình dấu tròn có nội dung “CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM * BỘ TƯ LỆNH CẢNH SÁT CƠ ĐỘNG” trên mẫu cần giám định ký hiệu A được in ra.

* Tại Kết luận giám định số 1045 ngày 08/12/2023 của Phòng K công an thành phố Đ kết luận:

  1. 01 (Một) biển kiểm soát xe ô tô nền màu xanh, số: 80A – 565.49 (Ký hiệu A1)
  2. 01 (Một) biển kiểm soát xe ô tô nền màu xanh, số: 80A – 565.49 (Ký hiệu A2)

Biển kiểm soát xe ô tô mẫu cần giám định ký hiệu A1 và A2 là giả.

Tại Cáo trạng số 192/CT-VKS-P2 ngày 20 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Thừa S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Lê Thừa S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để sớm trở về với gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm đã truy tố tại bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Thừa S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng con dấu và tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm h,g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Lê Thừa S mức án 13 – 14 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Lê Thừa S mức án 03 – 04 năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng con dấu và tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành 16 - 18 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự, căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 589 Bộ luật Dân sự đề nghị Hội đồng xét xử buộc Lê Thừa S bồi thường số tiền còn lại đã chiếm đoạt cho bị hại Nguyễn Thị N.

Về xử lý vật chứng, căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên như đã đề xuất tại bản Cáo trạng.

Quan điểm bào chữa của Luật sư Lê Thị Hồng T2 cho bị cáo Lê Thừa S: Thống nhất với tội danh, điểm, khoản, điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo cũng như thống nhất về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án thấp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Bị hại bà Phùng Thị H và bà Nguyễn Thị N đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, Luật sư bào chữa và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. [2] Quá trình điều tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, bị cáo Lê Thừa S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thu thập trong quá trình điều tra. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

    Đối với hành vi chiếm đoạt số tiền 2.000.000.000 đồng của bà Phùng Thị H:

    Từ 06/5/2023 đến ngày 10/5/2023, bị cáo đã dùng thủ đoạn đưa ra nhiều thông tin gian dối khi bị cáo tự giới thiệu mình là Công an, cấp hàm Đại tá, làm việc tại Bộ C, có nhiều mối quan hệ với các quan chức cấp cao. Bị cáo đã đồng ý giúp những yêu cầu bà H đưa ra như: “can thiệp giúp bà H đòi lại nợ, giúp em bà H hiện tại đang bị giam có thể được tại ngoại, làm hồ sơ kêu oan. Bà Phùng Thị H đã chuyển cho S tổng cộng số tiền: 2.000.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản. Sau khi nhận được tiền, S đã sử dụng để trả nợ ngoài xã hội và tiêu xài cá nhân.

    Đối với hành vi chiếm đoạt số tiền 6.000.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị N:

    Tháng 5/2023 đến tháng 7/2023 thông qua bà Phùng Thị H và bà Nguyễn Thị D1, bà Nguyễn Thị N đã quen biết với bị cáo Lê Thừa S và phát sinh mối quan hệ tình cảm với nhau. Bị cáo Lê Thừa S biết được thông tin về việc bà N mua một thửa đất nông nghiệp tại phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Lợi dụng sự tin tưởng của bà N, bằng cách đưa ra những thông tin không đúng sự thật về việc bị cáo có chức năng nhiệm vụ trong việc nâng mục đích sử dụng đất từ hoa màu lên đất ở. Bị cáo đã chiếm đoạt số tiền 700.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị N. Bị cáo đưa ra thông tin sai sự thật về việc mua 14.000 mét vuông đất ruộng tại xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa và bị cáo còn làm thêm về khai thác mỏ đất tại xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, nhằm chiếm đoạt tài sản của bà N. Bà N đã tin tưởng và giao tổng cộng 6.000.000.000 đồng, bị cáo đã sử dụng vào mục đích trả nợ ngoài xã hội và tiêu xài cá nhân. Ngoài ra, để xây dựng vỏ bọc cho mình bị cáo đã làm giả giấy chứng minh Công an nhân dân, biển kiểm soát xe ô tô, loại biển màu xanh.

    Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự nhưng lại đề nghị chung một mức hình phạt là chưa phù hợp, không áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo, bởi bị cáo không trực tiếp làm giả những con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức mà chỉ thông qua một đối tượng khác có hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên bị cáo lại yêu cầu người khác làm, trả chi phí, cung cấp thông tin cá nhân cho người khác làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức nên nếu xác định được người thực hiện làm giả thì bị cáo phải là chủ mưu trong việc làm giả. Mặt khác, xét thấy hành vi “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” của bị cáo là hành vi gian dối đây là yếu tố, là điều kiện cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và trong vụ án này bị cáo đã bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

    Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Hành vi trên của bị cáo Lê Thừa S đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự và chỉ phạm tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

  3. [3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Đây là vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Bị cáo đã gian dối dùng giấy tờ giả để lừa đảo chiếm đoạt tiền của người bị hại nhiều lần, với tổng số tiền nhằm chiếm đoạt là 8.000.000.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác; xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính về con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Đối với bị cáo cần xử phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.
  4. [4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo đã nhiều lần đưa ra những thông tin gian dối như cần tiền để nâng mục đích sử dụng đất, can thiệp giúp em bà H bị tạm giam được tại ngoại, giúp bà H đòi lại nợ,... đều là những thông tin không đúng sự thật để chiếm đoạt tiền của bị hại nhiều lần. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, ngày 27/09/1999 bị cáo bị Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tuyên phạt 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Chứa chấp tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo bản án số 57/HSST. Đến ngày 14/01/2025 bị cáo mới nộp tiền án phí và trách nhiệm dân sự. Bị cáo cho rằng, không biết phải có nghĩa vụ nộp án phí và thực tế đã liên hệ nhiều nơi để nộp nhưng không được. Tuy nhiên, pháp luật thi hành án dân sự có quy định nhiều phương thức để thực hiện nghĩa vụ thi hành án bản án, trong đó có cả tạo điều kiện cho thân nhân nộp thay và Điều 70 Bộ luật Hình sự không quy định lý do loại trừ người bị kết án chưa thi hành án xong bản án, trong đó có nghĩa vụ nộp án phí và trách nhiệm dân sự. Vì vậy, bị cáo chưa được đương nhiên xoá án tích nên phạm tội lần này được xem là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  5. [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã tác động vợ là bà Nguyễn Thị T1 bồi thường cho bị hại là bà Phùng Thị H 2.000.000.000 đồng và bà Nguyễn Thị N 5.700.000.000 đồng, được người bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt, hoàn cảnh gia đình bị cáo đang khó khăn, bị cáo cũng đang bị bệnh nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đẻ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
  6. [6] Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị N xác nhận đã nhận lại số tiền 5.700.000.000 đồng, yêu cầu bị cáo Lê Thừa S bồi thường số tiền còn lại là 300.000.000 đồng. Hội đồng xét xử đánh giá yêu cầu của bà N là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 46 Bộ luật Hình sự, Điều 584 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Lê Thừa S phải bồi thường số tiền 300.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị N.
  7. [7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) giấy chứng minh Công an nhân dân số: 201– 179 mang tên Lê Thừa S; 02 (Hai) biển số xe ô tô màu xanh BKS: 80A – 565.49.
    • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 pro gắn sim số 0817944444 dùng vào việc phạm tội tịch thu sung công quỹ.
    • - Xe ô tô hiệu Ford Explorer màu đen mang biển kiểm soát: 51G – 565.49 hiện đang là tài sản thế chấp theo hợp đồng cho vay số: 667/2018/HDTD/TTB MN2/01 ngày 13/02/2018 giữa Công ty TNHH Q do ông Đỗ Văn Trần N1 là đại diện theo uỷ quyền với Ngân hàng TMCP T5 với số tiền vay 1.840.000.000 đồng. Thời hạn vay vốn đến ngày 16/02/2024. Xét thấy, giao dịch thế chấp giữa chủ sở hữu hợp pháp xe ô tô hiệu Ford Explorer màu đen mang biển kiểm soát: 51G – 565.49 với Ngân hàng TMCP T5 là hợp pháp nên ưu tiên thanh toán cho các giao dịch có đảm bảo hợp pháp. Vì vậy, cần phát mãi để Ngân hàng TMCP T5 thu hồi nợ theo quy định pháp luật.
    • Các bên liên quan đến xe ô tô này có quyền khởi kiện một vụ án dân sự khác để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
  8. [8] Những vấn đề khác liên quan đến vụ án:
    • - Đối với đối tượng làm giả giấy chứng minh Công an nhân dân số 201-179 mang tên Lê Thừa S và 02 (hai) biển số xe ô tô màu xanh BKS 80A – 565.49, bị cáo liên hệ qua mạng xã hội, Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân lai lịch của đối tượng này, nên không đủ cơ sở để xử lý.
    • - Đối với Vũ Trường S1 và Lê Thừa S người có hành vi bán xe ô tô hiệu Ford Explorer màu đen mang biển kiểm soát: 51G – 565.49 cho bị cáo S, nhưng ông Vũ Trường S1 không biết việc mua bán xe cho bị cáo, bị cáo đã sử dụng để thay đổi biển số xe nhằm mục đích làm giả xe của cơ quan. Hành vi trên của bị cáo do phạm tội mà có, không bàn bạc, thống nhất cùng thực hiện tội phạm với bị cáo nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự, do đó Hội đồng xét xử không đề cập đến.
  9. [9] Về án phí: Bị cáo Lê Thừa S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền chưa bồi thường cho bị hại: 15.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thừa S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
    1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g,h khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
    2. Xử phạt: Lê Thừa S 13 (Mười ba) năm tù.

    3. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 341; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
    4. Xử phạt: Lê Thừa S 03 (Ba) năm tù.

    5. Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội, buộc bị cáo Lê Thừa S phải chấp hành là 16 (Mười sáu) năm tù. Trừ đi thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/11/2023 đến ngày 20/01/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh (02 tháng 20 ngày) thì bị cáo còn phải chấp hành 15 (mười lăm) năm 9 (chín) tháng 10 (mười) ngày tù. Thời hạn tạm giam tính từ ngày 25/02/2025.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự, Điều 584 Bộ luật Dân sự.

    Buộc bị cáo Lê Thừa S phải tiếp tục bồi thường dân sự cho bà Nguyễn Thị N số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng).

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên:
    • - Đối với 01 (Một) giấy chứng minh Công an nhân dân số: 201-179 mang tên Lê Thừa S; 02 (Hai) biển số xe ô tô màu xanh BKS: 80A – 565.49 tịch thu tiêu huỷ.
    • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 pro gắn sim số 0817944444 dùng vào việc phạm tội tịch thu sung công quỹ.
    • - Phát mãi xe ôtô hiệu Ford Explorer màu đen biển kiểm soát: 51G – 565.49 có số khung 1FM5K8FH6HGD71142, số máy: HGD71142H, ưu tiên thanh toán cho Ngân hàng TMCP T5 để thu hồi nợ.
    • Các vật chứng đang được tạm giữ tại Cục thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 13/12/2024.
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Lê Thừa S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc kể từ ngày Toà án niêm yết) bản án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

- VKSND TP Đà Nẵng;

- VKSND CC tại Đà Nẵng;

- Phòng HSNV CATPĐN;

- Cơ quan CSĐT CATPĐN;

- Cơ quan THAHS - CATPĐN;

- Cục THADS TP Đà Nẵng;

- Nhà tạm giam CATP Đà Nẵng;

- TANDKT I – TANDTC;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hữu Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 158/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2024/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger