Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HS-ST

Ngày 19 tháng 6 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Cẩu và ông Liêu Văn Lộc

-Thư ký phiên tòa: Bà Cù Thị Ngọc Hân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Nhị Kiều - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/ QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:

1/Trần Công Hậu (tên gọi khác là H); sinh năm: 1993 tại tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Công H1 và bà Huỳnh Thị M; vợ là Võ Thị Huỳnh N, sinh năm: 1997.

Tiền án:

+Ngày 24/6/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xử phạt 3 năm tù về tội “Giao cấu với trẻ em” (Bản án số 28/2015/HSST ngày 14/6/2015).

+Ngày 23/9/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xử phạt 7 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp với Bản án số 28/2015/HSST ngày 24/6/2015 phải chấp hành hình phạt chung là 10 năm tù đến ngày 13/10/2022 chấp hành xong.

-Tiền sự: không

Bị cáo Trần Công Hậu B bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/01/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Phân Trại tạm giam khu vực C thuộc Trại tạm giam – Công an tỉnh A (có mặt).

2/Trần Công Hạo, sinh ngày 29/4/2007 tại tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Công H2 và bà Nguyễn Thị Kim L; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, Tiền sự: không

Bị cáo Trần Công H3 bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/01/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Phân Trại tạm giam khu vực C thuộc Trại tạm giam – Công an tỉnh A (có mặt).

-Người đại diện hợp pháp của Trần Công H3 là ông Trần Công H2, sinh năm: 1979. Nơi cư trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (Có mặt).

3/Trần Tấn Khang, sinh ngày 12/3/2008 tại tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C và bà Trần Thị T; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, Tiền sự: không

Bị cáo Trần Tấn K bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/01/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Phân Trại tạm giam khu vực C thuộc Trại tạm giam – Công an tỉnh A (có mặt).

-Người đại diện hợp pháp của Trần Tấn K là bà Trần Thị T, sinh năm: 1982. Nơi cư trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

D3 (tên gọi khác là Tường L1), sinh ngày 6/2/2008 tại tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H4 và bà Phan Thị Bích L2; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, Tiền sự: không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/01/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Phân Trại tạm giam khu vực C thuộc Trại tạm giam – Công an tỉnh A (có mặt).

-Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Nhật T1 là ông Nguyễn Văn H4, sinh năm: 1984. Nơi cư trú: Áp T, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

-Người bào chữa cho các bị cáo Trần Công H3, Trần Tấn K có ông Lương Minh H5, sinh năm: 1983- thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A (có mặt).

-Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Nhật T1 có ông Đỗ Khoa K1, sinh năm: 1982- thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A (có mặt).

Bị hại:

1/ Bùi Chí D, sinh năm 1980 (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/-Võ Thị Huỳnh N, sinh năm 1997(có mặt).

Nơi cư trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang

2/- Nguyễn Thị Kim L, sinh năm: 1982 (có mặt)

Nơi cư trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang

-Người làm chứng

1/Huỳnh T2, sinh năm: 01/01/2009 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang

-Người đại diện hợp pháp của Huỳnh T2 là ông Huỳnh Tấn H6, sinh năm: 1981. Nơi cư trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt)

2/Trần Công Hiền, sinh năm: 11/12/2010 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

Người đại diện hợp pháp của Trần Công H7 là ông Trần Công Hào H8 sinh năm: 1985. Nơi cư trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

3/Nguyễn Ngọc D1, sinh năm: 1981(vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp Vĩnh Qưới, xã Vĩnh An, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

4/Trần Phú Đông, sinh năm: 1990 (An ninh trật tự cơ sở) (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang

5/Hà Phan Thiên P, sinh năm: 1978 (An ninh trật tự cơ sở) (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp Phú Hòa 1, xã Bình Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang

6/Lê Thanh Giào, sinh năm: 1984 (Đội dân phòng) (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang

7/Nguyễn Minh T3, sinh năm: 1984 (Công An xã B) (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp Phú Hòa 1, xã Bình Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang

8/Phan Ngọc Yên Em, sinh năm: 1988 (Công An xã B) (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 27/01/2025, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, có điểm đánh bạc được thua bằng tiền tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang, Lãnh đạo Công an xã B phân công lực lượng gồm Nguyễn Minh T3, Phan Ngọc Yên E (cán bộ Công an xã ), Bùi Chí D (Cán bộ Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội Công an tỉnh A được tăng cường trực Tết Nguyên đán), Trần Phú Đ, Hà Phan Thiên P, Lê Thanh G (lực lượng bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở) đến địa điểm nêu trên để xử lý, nhưng các đối tượng đã giải tán nên tổ công tác tiếp tục tuần tra đảm bảo an ninh trật tự Tết Nguyên đán trên địa bàn xã theo kế hoạch. Khi đến khu vực tổ B, ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang, tổ công tác thấy Trần Công H2 đang cầm cây dao tự chế đi bộ trên đường nên tổ công tác mời H2 đưa về trụ sở Công an xã làm việc. Sau đó, Yên E và D nghe tiếng pháo nổ gần đó, Yên E điều khiển xe chở D đến khu vực phát ra tiếng pháo nổ mời Nguyễn Ngọc D1 đưa về trụ sở Công an xã làm việc. Lúc này, Trần Công H9 cầm 01 cây chĩa 03, dài khoảng 02 mét, Trần Tấn K cầm 01 cây dao tự chế, dài khoảng 40cm, Trần Công H3 cầm 01 cây dao tự chế, dài khoảng 70cm và Nguyễn Nhật T1 cầm 01 cây gỗ, dài khoảng 150cm cùng nhau đi tìm lực lượng Công an đánh trả thù việc lực lượng Công an mời H2 là cha ruột của H3 về Công an xã làm việc. Khi thấy, Yên E điều khiển xe chở D1 ngồi giữa và D ngồi phía sau thì H9 cầm chĩa 03 phóng trúng vào người làm D té xuống đường, D đứng dậy bỏ chạy thì H3, T1, K, H9 cầm hung khí đuổi theo, H3 cầm dao tự chế bằng tay phải chém 01 cái trúng lưng làm D té ngã xuống đường, T1 cầm khúc cây gỗ bằng 02 tay đánh 02 cái vào lưng của D, H9 cầm chĩa 03 bằng tay phải đâm 01 cái trúng vào hông trái của D gây thương tích, K cầm dao tự chế định chém D nhưng không chém được do D đứng lên bỏ chạy. Hạo và K tiếp tục cầm hung khí rượt theo D, H3 dùng tay trái đánh trúng vào nón bảo hiểm của D đang đội, K cầm dao tự chế ném về phía D nhưng không trúng, nên dừng lại, ném hung khí và bò trốn. D được đưa đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện Đ1. Sau đó. Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện C tiến hành giữ, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với H9, riêng H3, K và T1 đến Cơ quan điều tra đầu thú.

Vật chứng thu giữ:

  • -01 áo thun thể thao cổ tròn, tay ngắn màu trắng, phía trước có hoa văn màu xám và có dòng chữ ETIHAD AIRWAYS (thu giữ của Trần Công H9).
  • -01 áo khoác nam vải thun, tay dài màu xanh (thu giữ của Nguyễn Nhật T1)
  • -01 áo thun tay ngắn màu đỏ, trên áo có bông màu trắng; 01 quần ngắn màu trắng (thu giữ của Trần Tấn K).
  • -01 quần Jaen dài màu xám (thu giữ của Trần Công H3)
  • -01 quần dài cảnh sát màu xanh, phía trước dưới đầu gối phải bị rách nham nhỡ, kích thước (04 x05)cm, phía trước đùi trái bị rách nham nhỡ dài 07cm; 01 áo cảnh sát màu xanh tay ngắn, phía sau lưng bên trái bị thủng 03 lỗ, bên hông trái có dính vết màu nâu sẩm (thu giữ của Bùi Chí D).

Tại Bản Kết luận định giám định tổn thương cơ thể trên cơ thể người sống số 44/25/KLCT-TTPY ngày 29/01/2025 của Trung tâm Pháp y- Sở Y tế tỉnh A kết luận:

1.Các kết quả chính:

  • -03 vết sây sát da vùng lưng phải:
  • +Vết 1: kích thước ma túy (1.5 x 0.2) cm.
  • +Vết 2: kích thước (1.3 x 0.1) cm.
  • +Vết 3: kích thước (1.8 x 1.7) cm.
  • -Vết thương vùng lưng trái dài 1.2cm
  • 02 vết sây sát da vùng lưng trái:
  • +Vết 1: kích thước (0.8 x 0.2) cm.
  • +Vết 2: kích thước (4.5 x 0.1) cm.
  • -Vết thương vùng thắt lưng trái dài 0.7cm
  • -Sây sát da rải rác 1/3 trên cánh tay trái.
  • -Sây sát da mặt ngoài 1/3 giữa cánh tay phải kích thước (08x01)cm
  • -Sây sát da mặt ngoài 1/3 giữa cánh tay phải kích thước (10x0.1)cm
  • -Sây sát da mặt sau khuỷu tay phải kích thước (10 x06)cm
  • -Sây sát da mặt sau 1/3 dưới cẳng tay phải kích thước (07 x5.5)cm
  • -Sây sát da mặt sau 1/3 dưới cánh tay trái kích thước (1.5x 0.1) cm
  • -Sây sát da dạng mảng mặt trước trong 1/3 giữa đến 1/3 dưới cẳng tay trái kích thước (10 x04)cm.
  • -Sưng nề 1/3 dưới cẳng tay trái.
  • - Sây sát da dạng mảng mặt trước gối phải kích thước (8.5 x05)cm.
  • - Sây sát da mặt trước 1/3 giữa đùi kích thước (5.5 x1.3)cm

2.Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần. Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thưởng cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Bùi Chí D, áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư tại thời điểm giám định là: 03% (Bút lục số 219-223).

Tại Bản Kết luận định giám định tổn thương cơ thể trên cơ thể người sống số 44BS/25/KLCT-TTPY ngày 25/02/2025 của Trung tâm Pháp y- Sở Y tế tỉnh A kết luận:

1.Các kết quả chính:

  • -03 vết sây sát da vùng lưng phải:
  • +Vết 01 và vết 02 hiện tại không để lại thương tích. Tỷ lê là 00%. Do vật tày gây nên.
  • +Vết 03: để lại vết biến đổi sắc tố, kích thước (1.5 x0.1)cm. Tỷ lệ là 0.5%. Do vật tày gây nên.
  • -Sẹo vùng lưng trái, kích thước (01 x0.2) cm, sẹo lồi, hồng, bờ sắc.Tỷ lệ là 01%. Do vật nhọn gây nên (tỷ lệ này đã cho tại bản kết luận số 44/25/KLTTCT-TTPY ngày 29/01/2025).
  • -02 vết sây sát da vùng lưng trái:
  • +Vết 01: để lại sẹo, kích thước (07 x0.1)cm. Tỷ lệ là 02%. Do vật sắc gây nên (tỷ lệ này đã cho tại bản kết luận số 44/25/KLTTCT-TTPY ngày 29/01/2025).
  • +Vết 02 hiện tại không để lại thương tích. Tỷ lệ là 00%. Do vật sắc gây nên.
  • - Sẹo vùng thắt lưng trái, kích thước (0.7 x 0.1) cm, sẹo lồi, hồng, bờ sắc. Tỷ lệ là 01%. Do vật nhọn gây nên.
  • - Sây sát da rải rác 1/3 trên cánh tay phải, hiện tại không để lại thương tích. Tỷ lệ là 00%. Do vật tày gây nên.
  • - Sây sát da mặt ngoài 1/3 giữa cánh tay phải để lại vết biến đổi sắc tố, kích thước (08 x 0.5)cm. Tỷ lệ là 01%. Do vật tày gây nên.
  • - Sây sát da mặt sau ngoài 1/3 dưới cánh tay phải để lại vết biến đổi sắc tố, kích thước (05 x0.1)cm. Tỷ lệ là 01%. Do tật tày gây nên.
  • - Sây sát da mặt sau khuỷu tay phải để lại vết biến đổi sắc tố, kích thước 905 x1.2)cm. Tỷ lệ là 01%. Do tật tày gây nên.
  • - Sây sát da mặt sau 1/3 dưới cẳng tay phải hiện tại không để lại thương tích. Tỷ lệ là 00%. Do vật tày gây nên.
  • - Sây sát da mặt sau 1/3 dưới cánh tay trái hiện tại không để lại thương tích. Tỷ lệ là 00%. Do vật tày gây nên.
  • - Sây sát da dạng mảng mặt trước trong 1/3 giữa đến 1/3 dưới cẳng tay trái hiện tại không để lại thương tích. Tỷ lệ là 00%. Do vật tày gây nên.
  • - Sưng nề 1/3 dưới cẳng tay trái hiện tại không để lại thương tích. Tỷ lệ là 00%. Do vật tày gây nên.
  • - Sây sát da dạng mảng mặt trước gối phải để lại sẹo, kích thước (06 x1.7)cm. Tỷ lệ là 03%. Do vật tày gây nên.
  • - Sây sát da mặt trước 1/3 giữa đùi trái để lại vết biến đổi sắc tố, kích thước (04 x 0.2)cm. Tỷ lệ là 01%. Do vật sắt gây nên.

2.Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần. Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thưởng cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Bùi Chí D, áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư tại thời điểm giám định là: 11% (Bút lục số 239-244).

Căn cứ Kết luận giám định số 229/KL-KTHS ngày 14/3/2025 của Phòng K2-Công an tỉnh A, kết luận:

Trích xuất 14 ảnh từ dữ liêu 01 tập tin video lưu trữ trong USB (ký hiệu A) do Cơ quan điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang gửi giám định, chi tiết thể hiện trong Phụ lục kèm theo.

Kèm theo kết luận giám định: 01 Phụ lục gồm 6 trang A4 (Bút lục số 252).

Căn cứ Kết luật giám định số 261/KL-KTHS ngày 7/3/2025 củaw Phòng K2 - Công an tỉnh A kết luận: Vết màu nâu sẫm dính trên áo bằng vải màu xanh ngắn tay gửi giám định là máu người, thuộc nhóm máu O.

Máu của bị hại Bùi Chí D, sinh năm: 1980 thuộc nhóm máu O (Bút lục số 267-268).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì khác

Tại Cáo trạng số: 26/CT-VKSCT ngày 19 tháng 5 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố các bị cáo Trần Công H9, Trần Công H3, Trần Tấn K, Nguyễn Nhật T1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo Trần Công H9, Trần Công H3, Trần Tấn K, Nguyễn Nhật T1 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.

Bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Công H2, Trần Thị T, Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Văn H4 quá trình điều tra và tại phiên toà trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Công H9 từ 3 (ba) năm 6 tháng đến 4 (bốn) năm tù.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, xử phạt bị cáo Trần Công H3 từ 01 (một) năm 9(chín) tháng đến 2 (hai) năm tù.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, xử phạt bị cáo Trần Tấn K từ 01 (một) năm 9(chín) tháng đến 2 (hai) năm tù.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật T1 từ 01 (một) năm 9(chín) tháng đến 2 (hai) năm tù.

Đề nghị áp dụng Điều 46 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Những vật chứng đã được thu giữ không có giá trị sử dụng nên đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy.

Trợ giúp viên pháp lý trình bày quan điểm bào chữa cho các bị cáo Trần Công H3, Trần Tấn K: Đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo chưa có tiền án tiền sự, không có tình tiết tăng nặng, là người chưa thành niên nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, các bị cáo xuất thân từ thành phần lao động nghèo, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, các bị cáo ra đầu thú, các bị cáo cũng tác động gia đình khắc phục bồi thường cho người bị hại, người bị hại cũng muốn giảm nhẹ cho các bị cáo. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b,s khoản 1 và khoản 2 điều 51, Điều 17, 58, 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, giảm nhẹ hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị để các bị cáo có điều kiện sớm trở về để giúp ích cho gia đình.

Trợ giúp viên pháp lý trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo Nguyễn Nhật T1: Thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo cụ thể: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo chưa có tiền án tiền sự, là người chưa thành niên nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo xuất thân từ thành phần lao động nghèo, bị cáo ra đầu thú, bị cáo cũng tác động gia đình khắc phục bồi thường cho người bị hại. Bị hại Bùi Chí D tại phiên tòa hôm nay không có yêu cầu bồi thường thêm; đồng thời, đề nghị gia đình có con em trong vụ án này phải luôn quan tâm, dạy dỗ và quản lý các cháu trong thời gian tới để tránh dính vào vòng lao lý như các bị cáo tại phiên tòa hôm nay. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b,s khoản 1 và khoản 2 điều 51, Điều 17, 58, 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, giảm nhẹ hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị để các bị cáo có điều kiện sớm trở về để giúp ích cho gia đình.

Bị cáo Trần Công H9 không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo thấy có lỗi với bị hại, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về đoàn tụ gia đình.

Bị cáo Trần Công H3, Trần Tấn K thống nhất với bản luận cứ bào chữa nêu trên của người bào chữa, đồng thời không bào chữa bổ sung gì khác. Lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Nhật T1 thống nhất với bản luận cứ bào chữa nêu trên của người bào chữa, đồng thời không bào chữa bổ sung gì khác. Lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

-Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.

[2]Về nội dung:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 27/01/2025 Trần Công H9, Trần Công H3, Trần Tấn K và Nguyễn Nhật T1 đã thống nhất ý chí cùng nhau thực hiện hành vi có tính chất côn đồ, dùng chĩa 03 dao tự chế là hung khí nguy hiểm rượt đuổi Bùi Chí D té ngã, đâm, chém gây thương tích vùng lưng, đùi trái, tay trái, tay phải, gối trái của D, với tỷ lệ thương tật là 11%, vì lý do công vụ của nạn nhân.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm, có tính chất côn đồ, gây tổn hại cho sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%, bị hại đang thực hiện công vụ, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 06 năm - là tội phạm nghiêm trọng)

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Tính mạng, sức khỏe con người là vốn quý nhất của xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, mọi hành vi trái pháp luật xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác đều phải bị pháp luật trừng trị kịp thời và nghiêm minh. Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh nhau, sử dụng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật, chỉ vì mới nghe thông tin công an mời Trần Công H2 về làm việc, các bị cáo không tìm hiểu kỉ lại sự việc mà cùng nhau thực hiện hành vi có tính chất côn đồ, dùng chĩa 03 dao tự chế là hung khí nguy hiểm rượt đuổi Bùi Chí D té ngã, đâm, chém gây thương tích vùng lưng, đùi trái, tay trái, tay phải, gối trái của D, điều này cho thấy ý thức xem thường pháp luật của bị cáo, thể hiện sự côn đồ và cố ý thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo. Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Đây là vụ án đồng phạm, nhưng thuộc trường hợp giản đơn, tuy nhiên, cần phân hóa vai trò của từng bị cáo khi quyết định mức hình phạt để tương xứng với mức độ, tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo đồng thời để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Trước hết, đối với bị cáo Trần Công H9 đã trưởng thành nên nhận thức rõ trong việc gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng khi chỉ nghe công an mời Trần Công H2 làm việc, bị cáo không tìm hiểu kĩ sự việc đã vội đi tìm công an để giải quyết bằng cách H9 cầm chĩa 03 phóng trúng vào người làm D té xuống đường, khi D bị té ngã, H9 cầm chĩa 03 bằng tay phải đâm 01 cái trúng vào hông trái của D gây thương tích, tỷ lệ thương tích của bị cáo H9 gây ra cho Bùi Chí D cao hơn so với tỷ lệ thương tích bị cáo H3, K, T1 gây ra cho D do đó mức hình phạt của bị cáo H9 cao hơn so với H3, K, T1.

Đối với các bị cáo H3, K, T1 trong vai trò đồng phạm gây thương tích cho D, khi D đứng dậy bỏ chạy thì H3, T1, K cầm hung khí đuổi theo, H3 cầm dao tự chế bằng tay phải chém 01 cái trúng lưng làm D té ngã xuống đường, T1 cầm khúc cây gỗ bằng 02 tay đánh 02 cái vào lưng của D, K cầm dao tự chế định chém D nhưng không chém được do D đứng lên bỏ chạy. Hạo và K tiếp tục cầm hung khí rượt theo D, H3 dùng tay trái đánh trúng vào nón bảo hiểm của D đang đội, K cầm dao tự chế ném về phía D nhưng không trúng, nên dừng lại. Do đó, hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo H3, K, T1 mức hình phạt tương đương nhau.

Hạo, K, T1 khi phạm tội các bị cáo là người chưa thành niên (tính đến ngày phạm tội, các bị cáo H3, K, T1 đều có độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi; việc xử lý người phạm tội ở lứa tuổi này phải đảm bảo lợi ích tốt nhất của người phạm tội và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội (theo Điều 91 của Bộ luật Hình sự).

Mặt khác, tại Kỳ họp thứ 8 ngày 30/11/2024, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Tư pháp người chưa thành niên. Theo đó, Luật quy định 12 biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội, mục đích giúp người chưa thành niên thay đổi nhận thức, nhận biết, sửa chữa sai lầm đã gây ra, tự rèn luyện khắc phục, ngăn ngừa nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội và giáo dục họ trở thành công dân có ích cho xã hội. Do đó hội đồng xét xử cũng xem xét mức quy định xử phạt là ba phần năm mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật hình sự quy định.

-Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo Trần Công H9 có 2 tiền án về tội “Giao cấu với trẻ em” (Bản án số 28/2015/HSST ngày 14/6/2015) và tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp với Bản án số 28/2015/HSST ngày 24/6/2015 phải chấp hành hình phạt chung là 10 năm tù đến ngày 13/10/2022 chấp hành xong) nhưng chưa được xóa án tích nên phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Các bị cáo H3, K, T1 không có tình tiết tăng nặng

-Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo có thái độ khai báo rõ ràng, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cho thấy các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Các bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, các bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả và bồi thường cho bị hại. Ngoài ra, các bị cáo Trần Công H3, Trần Tấn K, Nguyễn Nhật T1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; các bị cáo ra đầu thú; người bị hại cũng muốn giảm nhẹ cho các bị cáo. các bị cáo H3, K, T1 khi phạm tội là người dưới 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng chính sách người chưa thành niên phạm tội đối với các bị cáo.

Đây là các tình tiết giảm nhẹ thuộc điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử có xem xét cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • -01 áo thun thể thao cổ tròn, tay ngắn màu trắng, phía trước có hoa văn màu xám và có dòng chữ ETIHAD AIRWAYS (thu giữ của Trần Công H9).
  • -01 áo khoác nam vải thun, tay dài màu xanh (thu giữ của Nguyễn Nhật T1)
  • -01 áo thun tay ngắn màu đỏ, trên áo có bông màu trắng; 01 quần ngắn màu trắng (thu giữ của Trần Tấn K).
  • -01 quần Jaen dài màu xám (thu giữ của Trần Công H3)
  • -01 quần dài cảnh sát màu xanh, phía trước dưới đầu gối phải bị rách nham nhỡ, kích thước (04 x05)cm, phía trước đùi trái bị rách nham nhỡ dài 07cm; 01 áo cảnh sát màu xanh tay ngắn, phía sau lưng bên trái bị thủng 03 lỗ, bên hông trái có dính vết màu nâu sẩm (thu giữ của Bùi Chí D).

Đây là tài sản của các bị cáo và của bị hại, không có giá trị sử dụng. Do đó Hội đồng xét xử tịch thu tiêu huỷ.

-Người có quyền và nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Huỳnh N và bà Nguyễn Thị Kim L trình bày: Bà N là vợ bị cáo Trần Công H9. còn bà Kim L là mẹ của bị cáo Trần Công H3. Việc bị cáo H9 và H3 gây thương tích thì các bà không biết như thế nào, bà N và bà L cùng với gia đình bị cáo K, T1 đã bồi thường cho bị hại anh Bùi Trí D2 số tiền là 16.876.870 đồng để khắc phục hậu quả do H9 và H3, T1, K gây ra. Bà N và bà L không yêu cầu các bị cáo H9 và H3 trả lại cho các bà, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Đối với:

Hung khí chĩa 03, dao tự chế các bị cáo sử dụng gây thương tích cho bị hại, các bị cáo đã ném bỏ, không thu hồi được nên không giám định để xử lý đối với các bị cáo về hành vi tàng trữ, sử dụng trái pháp vũ khí quân dụng.

[7] Về các vấn đề khác:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Trần Công H9(H), Trần Công H3, Trần Tấn K, Nguyễn Nhật T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Căn cứ vào điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Công H9 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày (28/01/2025).
  3. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024. Xử phạt bị cáo: Trần Công H3 01(một)năm 09(chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày (28/01/2025).
  4. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024. Xử phạt bị cáo: Trần Tấn K 01(một) năm 09(chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày (28/01/2025).
  5. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024. Xử phạt bị cáo: Trần Nhật T4 01(một)năm 09(chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày (28/01/2025).
  6. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

    -Tịch thu tiêu huỷ:

    • +01 áo thun thể thao cổ tròn, tay ngắn màu trắng, phía trước có hoa văn màu xám và có dòng chữ ETIHAD AIRWAYS (thu giữ của Trần Công H9).
    • +01 áo khoác nam vải thun, tay dài màu xanh (thu giữ của Nguyễn Nhật T1)
    • +01 áo thun tay ngắn màu đỏ, trên áo có bông màu trắng; 01 quần ngắn màu trắng (thu giữ của Trần Tấn K).
    • +01 quần Jaen dài màu xám (thu giữ của Trần Công H3)
    • +01 quần dài cảnh sát màu xanh, phía trước dưới đầu gối phải bị rách nham nhỡ, kích thước (04 x05)cm, phía trước đùi trái bị rách nham nhỡ dài 07cm; 01 áo cảnh sát màu xanh tay ngắn, phía sau lưng bên trái bị thủng 03 lỗ, bên hông trái có dính vết màu nâu sẩm (thu giữ của Bùi Chí D).
  7. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Trần Công H9, Trần Công H3, Trần Tấn K, Nguyễn Nhật T1 mỗi bị cáo phải chịu số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  8. Quyền kháng cáo: Các bị cáo Trần Công H9, Trần Công H3, Trần Tấn K, Nguyễn Nhật T1, bị hại, Người có quyền và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19/6/2025).
  9. Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • -Phòng KTNV-THA-TAND An Giang;
  • -Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • -VKSND tỉnh An Giang;
  • -CQCSĐT Công an Châu Thành;
  • -VKSND Châu Thành;
  • -Chi cục THA.DS Châu Thành;
  • -Phân trại tạm giam khu vực Châu Thành;
  • -Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Mỹ Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Trần Công Hậ, Trần Công H, Trần Tấn K, Nguyễn Nhật T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger