Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HS-ST

Ngày: 17/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Ngọc Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Như Hạnh

2. Ông Nguyễn Quốc Nông

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thắng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Bà Lê Thị H - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Đoàn Thanh S(Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 02/9/1987; Tại: thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Số B N, khu phố E, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...], cấp ngày 04/12/2021; Nghề nghiệp: Kinh doanh, Chức vụ: Giám đốc Công ty TNHH C1; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Mạnh N và bà Vũ Thị T(đã chết); Có vợ: Vũ Thị D và 02 con: Lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt

Bị hại: Chi cục thuế khu vực thị xã B - H, tỉnh Thanh Hóa

Địa chỉ: Số D T, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thanh L - Chi cục trưởng

Người đại diện theo ủy quyền: 1. Ông Nguyễn Văn D1 – Đội trưởng Đội kiểm tra thuế, Chi cục thuế khu vực thị xã B - H. Có mặt

2. Ông Vũ Văn T1 – Phó Đội trưởng Đội kiểm tra thuế, Chi cục thuế khu vực thị xã B - H. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty TNHH C1 (địa chỉ: phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa), hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp C2, mã số doanh nghiệp: 2802441644 do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh T đăng ký lần đầu ngày 12/01/2017, đăng ký thay đổi lần thứ nhất ngày 26/05/2017. Đại diện theo pháp luật là Đoàn Thanh S – Giám đốc. Ngành nghề kinh doanh chính là sản xuất bê tông, các sản phẩm xi măng và thạch cao (BL 1364-1365). Trước thời điểm tháng 04/2023, Công ty có 01 trạm trộn bê tông tại khu F, phường L, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa để làm bê tông thương phẩm, từ tháng 04/2023 đến nay di chuyển trạm trộn đến khu A, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Công ty thực hiện kê khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, kỳ kê khai theo Q tại Chi cục thuế khu vực thị xã B - H. Công ty C1 thuê Phạm Thùy D2 là kế toán độc lập thực hiện việc kê khai thuế GTGT, quyết toán thuế TNDN căn cứ trên các hóa đơn mua vào bán ra do doanh nghiệp cung cấp (BL 418-419). Nguyễn Thị Phương H1 là kế toán, thực hiện việc tập hợp phiếu giao hàng của khách hàng mua bê tông từ bộ phận lái xe mang về, theo dõi chứng từ, sổ sách, công nợ của khách hàng doanh nghiệp, giao dịch ngân hàng, tập hợp các giấy tờ, phiếu sữa chữa, chi phí phát sinh của công ty (BL 431-433).

Về hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty C1: Công ty không có nhân viên tiếp thị và bán hàng mà Đoàn Thanh S là người trực tiếp liên hệ bán hàng bê tông cho Công ty. Sau khi có đơn hàng, S báo về bộ phận trạm trộn của Công ty, lên kế hoạch cho từng khách hàng theo yêu cầu như khối lượng, chủng loại, thời gian, địa điểm đổ bê tông. Đến thời gian đổ bê tông cho khách hàng, bộ phận trạm trộn thực hiện trộn bê tông cho khách hàng, in và xuất phiếu giao nhận bê tông đưa cho lái xe hoặc bộ phận thí nghiệm cầm đi giao cùng bê tông cho khách hàng. Khi khách hàng nhận bê tông sẽ ký xác nhận vào phiếu xuất kho và lái xe sẽ chuyển các phiếu về cho bộ phận kế toán để tập hợp theo dõi. Đối với các khách hàng là doanh nghiệp thì kế toán (Nguyễn Thị Phương H1) tập hợp theo dõi công nợ xuất hóa đơn. Còn đối với khách hàng là hộ cá nhân thì giám đốc (Đoàn Thanh S) trực tiếp theo dõi công nợ, thu tiền (BL 486-487).

Về hình thức thanh toán tiền:

+ Đối với khách hàng doanh nghiệp: sau khi đổ bê tông xong, Công ty C1 sẽ đối chiếu khối lượng theo từng hạng mục hoặc theo tháng, đối chiếu xong kế toán xuất hóa đơn cho đơn vị mua bê tông để chuyển tiền thanh toán vào tài khoản số 3524201003362 của công ty M tại Ngân hàng N2 (A) - Chi nhánh B.

+ Đối với số lượng bê tông thương phẩm bán ra cho khách hàng nhưng không xuất hoá đơn: hộ gia đình, cá nhân thanh toán có thể thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt và công ty xuất phiếu thu tiền hoặc chuyển khoản về tài khoản cá nhân của Đoàn Thanh S qua số tài khoản 352426868686 mở tại Ngân hàng A - Chi nhánh B.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra căn cứ vào các Hoá đơn Giá trị gia tăng, bản gốc Phiếu giao hàng, phiếu thu tiền và sao kê tài khoản của Công ty C1 và sao kê tài khoản cá nhân Đoàn Thanh S, xác minh việc thực hiện nghĩa vụ kê khai thuế của Công ty C1 trong năm 2022, đồng thời thu thập tài liệu gồm: Tờ khai thuế GTGT, Báo cáo tài chính, Tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế khu vực thị xã B - H xác định: trong năm 2022, Công ty C1 bán hàng với tổng doanh thu là 15.947.656.538 đồng (chưa bao gồm thuế GTGT). Trong đó doanh thu đã kê khai đến cơ quan thuế số tiền 9.573.932.538 đồng, số doanh thu không kê khai đến cơ quan thuế là 6.373.724.000 đồng, cụ thể:

- Doanh thu bán hàng cho các cá nhân, đơn vị có xuất hóa đơn giá trị gia tăng là: 9.573.932.538 đồng được kê khai đến cơ quan thuế, cụ thể từng kỳ kê khai:

  • + Quý 1/2022: Doanh thu bán hàng là 1.808.369.448 đồng, thuế GTGT tương ứng là 160.065.533 đồng.
  • + Quý 2/2022: Doanh thu bán hàng là 1.470.319.907 đồng, thuế GTGT tương ứng là 117.980.138 đồng.
  • + Quý 3/2022: Doanh thu bán hàng là 2.065.205.556 đồng, thuế GTGT tương ứng là 165.216.444 đồng.
  • + Quý 4/2022: Doanh thu bán hàng là 4.230.037.627 đồng, thuế GTGT tương ứng là 339.340.510 đồng.

Trong năm 2022 Công ty TNHH C1 không kê khai bổ sung đến cơ quan thuế.

- Doanh thu bán hàng cho các cá nhân không xuất hóa đơn, không kê khai đến cơ quan thuế là 6.373.724.000 đồng, cụ thể từng tháng như sau:

Thời gian Số tiền thanh toán chuyển khoản đến tài khoản của Đoàn Thanh Sơn (VNĐ) Số tiền thanh toán nộp tiền mặt về công ty (VNĐ) Tổng cộng (VNĐ)
Tháng 01/2022 81.540.000 328.891.000 410.431.000
Tháng 02/2022 14.125.000 284.450.000 298.575.000
Tháng 03/2022 125.458.000 649.630.000 775.088.000
Tháng 04/2022 97.640.000 482.495.000 580.135.000
Tháng 05/2022 217.290.000 567.045.000 784.335.000
Tháng 06/2022 205.640.000 486.020.000 691.660.000
Tháng 07/2022 72.030.000 276.735.000 348.765.000
Tháng 08/2022 181.620.000 284.750.000 466.370.000
Tháng 09/2022 86.725.000 390.520.000 477.245.000
Tháng 10/2022 145.440.000 597.385.000 742.825.000
Tháng 11/2022 137.290.000 319.565.000 456.855.000
Tháng 12/2022 91.470.000 249.970.000 341.440.000
Tổng 1.456.268.000 4.917.456.000 6.373.724.000

* Kết quả trưng cầu giám định;

Ngày 24/06/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 1488/QĐ-CSKT, trưng cầu Cục thuế tỉnh T giám định có hay không việc trốn thuế của Công ty C1 trong năm 2022. Tại Kết luận giám định ngày 02/08/2024 của Giám định viên Cục thuế tỉnh T kết luận:

- Công ty TNHH C1 đã có hành vi trốn thuế GTGT Quý 2/2022, Quý 3/2022 và Q 4/2022 do không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp; không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 143 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019.

- Số tiền thuế GTGT trốn là: 424.881.466 đồng. Cụ thể số thuế GTGT trốn từng kỳ như sau:

  • + Số thuế GTGT trốn Quý 2/2022 là: 134.801.731 đồng;
  • + Số thuế GTGT trốn Quý 3/2022 là: 75.108.085 đồng;
  • + Số thuế GTGT trốn Quý 4/2022 là: 214.971.650 đồng.

*Đối với số thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) trốn: Công ty C1 có hành vi trốn thuế TNDN kỳ tính thuế năm 2022 do không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 143 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019. Tuy nhiên do không có đủ hồ sơ tài liệu chứng từ sổ sách kế toán để xác định khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN tương ứng với doanh thu tính thuế TNDN của các khoản thu Công ty C1 không ghi chép trong sổ kế toán nên không có cơ sở xác định số thuế TNDN kỳ tính thuế năm 2022 Công ty T8 T2 đã trốn là bao nhiêu.( BL 354-360).

Quá trình điều tra, Đoàn Thanh S khai nhận: Công ty C1 là công ty gia đình, do S trực tiếp bán hàng và điều hành. Nguyên liệu đầu vào để sản xuất bê tông bao gồm: cát, đá, xi măng... Ngoài các nhà cung cấp là các công ty có xuất hóa đơn GTGT thì công ty C1 còn mua nguyên liệu đầu vào (cát, đá...) của các xe lẻ của những cá nhân cung cấp bán lẻ nên không có hóa đơn đầu vào nên không có căn cứ kê khai doanh thu tương ứng. Vì vậy khi bán hàng là bê tông thương phẩm cho các khách hàng cá nhân, hộ gia đình do họ không yêu cầu xuất hóa đơn GTGT nên Công ty không thực hiện xuất hóa đơn GTGT theo quy định mà chỉ thu tiền theo giá chưa có thuế giá trị gia tăng 10% hoặc 8% tùy từng thời điểm. Ngoài ra, Công ty C1 là đơn vị nhỏ lẻ phải cạnh tranh về giá nên mới tính tiền bán bê tông thương phẩm chưa bao gồm phần thuế GTGT.

Quá trình điều tra, Đoàn Thanh S thừa nhận việc không ghi chép, phản ánh trong sổ sách kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp; không xuất hóa đơn GTGT khi bán hàng hóa là bê tông thương phẩm; không hạch toán doanh thu với tổng số tiền là 6.373.724.000 đồng để trốn thuế GTGT với số tiền 424.881.466 đồng. Nhận thức là sai quy định pháp luật nên từ ngày 16/8/2024 đến ngày 20/8/2024, Đoàn Thanh S đã tự nguyện nộp đủ số tiền trốn thuế 424.881.466 đồng vào tài khoản tạm giữ của Công an tỉnh T.

* Tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKS-P3 ngày 16/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã truy tố: Bị cáo Đoàn Thanh S về tội: “Trốn thuế” theo điểm b khoản 2 Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá đề nghị xét xử đối với bị cáo:

Căn cứ pháp luật:

- Điểm b khoản 2 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hình phạt:

- Về hình phạt chính: Đề nghị xử phạt bị cáo từ 500.000.000đồng đến 550.000.000đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng:

- Đề nghị hoàn trả lại số tiền 424.881.466 đồng cho Chi cục thuế khu vực thị xã B - H.

Về án phí:

- Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

* Ý kiến của bị cáo S: Bị cáo nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai đại diện bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Trong thời gian năm 2022, Đoàn Thanh S (Giám đốc Công ty TNHH C1) địa chỉ: phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa, trong quá trình kinh doanh sản xuất, bán bê tông, các sản phẩm xi măng và thạch cao đã không ghi chép, phản ánh trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp; không xuất hóa đơn GTGT khi bán hàng hóa là bê tông thương phẩm; không hạch toán doanh thu với tổng số tiền là 6.373.724.000đồng để trốn thuế GTGT với số tiền 424.881.466 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng, bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Do đó, hành vi của Đoàn Thanh S đã phạm vào tội “Trốn thuế” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Hành vi phạm tội của bị cáo Đoàn Thanh S có đủ các dấu hiệu cấu thành tội: “Trốn thuế” theo điểm b khoản 2 Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý thuế của nhà nước làm giảm thu ngân sách nhà nước, xâm hại đến định hướng, chính sách phát triển kinh tế xã hội, chính sách thuế. Do vậy, cần có xử lý bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự nguyện khắc phục toàn bộ hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra.

Như vậy cần áp dụng điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

[5]. Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo Đoàn Thanh S. Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo S cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật. Mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 424.881.466 đồng mà bị cáo đã nộp để khắc phục hậu quả. Xét thấy, số tiền này cần giao lại cho Chi cục thuế khu vực thị xã B - H để nộp lại ngân sách theo quy định.

[8]. Đối với các cá nhân khác có liên quan trong vụ án gồm:

- Đối với Nguyễn Thị Phương H1: Quá trình điều tra xác định Nguyễn Thị Phương H1 là kế toán của Công ty C1 có nhiệm vụ theo dõi số liệu bán hàng bê tông cho các khách hàng doanh nghiệp để hàng tháng hoặc định kỳ, xuất hóa đơn bán hàng cho các khách hàng mua bê tông theo chỉ đạo của Đoàn Thanh S. Đến kỳ kê khai thuế, H1 là người tập hợp các hóa đơn mua vào bán ra để cung cấp cho Phạm Thùy D2 thực hiện kê khai thuế đến Chi cục thuế khu vực thị xã B - H. Tuy nhiên, đối với khối lượng và số tiền bê tông bỏ ngoài sổ sách không kê khai đến cơ quan thuế thì H1 không phải là người tập hợp theo dõi mà do Đoàn Thanh S trực tiếp bán hàng, thu tiền và theo dõi công nợ. Việc thu tiền của khách hàng cũng không phải do Nguyễn Thị Phương H1 thực hiện mà do Vũ Thị Diệu T3. Ngoài ra, trong năm 2022 Nguyễn Thị Phương H1 chỉ làm việc tại Công ty C1 từ tháng 01/2022 đến hết tháng 09/2022, đến tháng 02/2023 mới quay lại làm việc (BL 425-426).

Nguyễn Thị Phương H1 không biết và không giúp sức cho hành vi Trốn thuế của Đoàn Thanh S. Do đo không có căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Thị Phương H1.

- Đối với Phạm Thùy D2: Quá trình điều tra xác định Phạm Thùy D2 là kế toán độc lập, chỉ thực hiện kê khai thuế cho Công ty C1 dựa trên số liệu hóa đơn GTGT, chứng từ được Đoàn Thanh S cung cấp. Phạm Thùy D2 không làm việc trực tiếp tại trạm trộn, không được giao nhiệm vụ theo dõi toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh

của Công ty C1 nên không biết được việc để ngoài doanh thu, không kê khai thuế đối với số khách hàng là cá nhân và hộ gia đình mua bê tông mà không lấy hoá đơn GTGT (BL 418-419). Do đó không có căn cứ để xử lý đối với Phạm Thùy D2.

- Đối với Vũ Thị D: Vũ Thị D là thủ quỹ thực hiện nhiệm vụ thu tiền mặt khi bán bê tông do nhân viên công ty hoặc khách hàng đến nộp, không thường xuyên làm việc tại trạm trộn. Sau khi thu tiền D chuyển tiền và phiếu thu lại cho S để theo dõi, tất cả mọi việc đều do S trực tiếp điều hành nên D không biết được việc kê khai doanh thu bán hàng đến cơ quan thuế của Công ty C1, không phải là người thực hiện việc kê khai báo cáo thuế và theo dõi hoạt động của công ty. Do đó, không có căn cứ để xử lý đối với Vũ Thị D (BL 412-413).

- Đối với pháp nhân Công ty TNHH C1: Công ty C1 có hình thức hoạt động là Công ty TNHH một thành viêC2, quá trình điều tra xác định việc Trốn thuế GTGT là do Đoàn Thanh S thực hiện, không được ghi nhận trong Điều lệ hoạt động cũng như thông báo cho toàn công ty. Do vậy, cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm của pháp nhân trong vụ án này.

[9]. Về án phí HSST: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Thanh S phạm tội: “Trốn thuế”.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo 500.000.000 đồng(Năm trăm triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Hoàn trả lại số tiền 424.881.466 đồng cho Chi cục thuế khu vực thị xã B - H, tỉnh Thanh Hóa để sung vào Ngân sách Nhà nước

(Hiện số tiền 424.881.466đồng đang được lưu tại tài khoản số 3949.0.1054196.00000 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa).

3. Về án phí: Áp dụng: Khoản 1, 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - CA tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở Tư pháp Thanh Hóa;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Người tham gia tố tụng ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Tổ HC-TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Ngọc Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về trốn thuế

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trốn thuế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đoàn Thanh S PT Trốn thuế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger